Từ lý thuyết lượng tử đến nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại Hậu - Pdf 21

Từ lý thuyết lượng tử đến nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại
Hậu hiện đại (post-modernism), thoát thân từ hiện đại (modernism), là triết lý mang tính chất đa
dạng, cái nhìn tương đối trong mọi vấn đề và hiện nay được thể hiện trong nhiều ngành nghệ
thuật, văn hóa xã hội từ hội họa, kiến trúc, văn học ở nhiều nước trên thế giới. Ít người trong
chúng ta có thể nghĩ rằng Max Planck và thuyết lượng tử (quantum theory) của ông lại có liên hệ
đến sự phát triển triết lý và văn hóa ở phương Tây trong thế kỷ 20. Trong bối cảnh của thế giới
ngày nay, khoa học, nhất là trong lãnh vực vật lý, mà nền tảng là thực nghiệm và khách quan đã
có những sự va chạm trong lãnh vực tư tưởng và triết học với nghệ thuật và nhân văn mà cái
nhìn tương đối của hậu hiện đại đã chiếm địa vị trọng tâm. Đã có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng
khoa học và nghệ thuật là hai thế giới với tư duy và văn hóa quá khác biệt khó có sự gặp nhau.
Nhưng trong lịch sử trước đây từ cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20, khoa học và nghệ thuật
đã gặp nhau và bổ sung cho nhau trong giai đoạn quan trọng nhất của sự phát triển khoa học bắt
đầu từ thời khai sáng ở thế kỷ 17, đặt nền tảng cho khoa học hiện đại ngày nay: vật lý lượng tử
và thuyết tương đối.
Chính sự phát triển của thuyết lượng tử và sau này thuyết nguyên tử và tương đối đã là cơ nguồn
thúc đẩy phát sinh những tư tưởng, những nhận thức mới, những đột phá trong lãnh vực triết lý,
văn học, nghệ thuật ảnh hưởng đến những trào lưu hiện sinh (existentialism), siêu thực
(surrealism), hiện đại (modernism) và từ đó đến hậu hiện đại (post-modernism) ngày nay.
Khoa học, nhất là vào đầu thế kỷ 20, đã có ảnh hưởng sâu rộng trong nghệ thuật và là khởi
nguồn của hứng cảm, suy tư của các triết gia, văn thi sĩ, họa sĩ Họ dùng những thành quả và
những khám phá mới trong khoa học vật lý để dũng cảm, tự tin đưa ra những nhận thức hoàn
toàn mới đối với vật thể, thế giới chung quanh, thoát khỏi những gò bó mà họ cho là đóng khung,
cổ điển và không còn hợp thời với cách mạng mà thuyết lượng tử đã mang lại.
Để có thể hiễu rõ hơn về tiến trình ảnh hưởng của thuyết lượng tử đến văn hóa phương Tây trong
thế kỷ 20, ta hãy xem xét tình hình khoa học và tư tưởng trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 và đầu
thế kỷ 20.
Vật lý cổ điển qua cơ học của Newton và thuyết sóng điện từ của Maxwell cuối thế kỷ 19 hoàn
toàn chiếm lãnh địa vị độc tôn là cơ sở các nhà khoa học dùng để tìm hiểu, phân tách giải thích
sự kiện, quá trình của thiên nhiên. Khi Gustav Kirchoff, thầy của Max Planck, nghiên cứu về
quang phổ phát ra từ vật nóng (blackbody radiation) qua thí nghiệm đã chứng minh là năng
lượng từ vật đen nóng phụ thuộc vào hai yếu tố, tầng số phát xạ và nhiệt độ. Ở nhiệt độ nhất

Einstein cho rằng ánh sáng được cấu tạo bằng hạt tử photon với năng lượng lượng tử mà Planck
đã tìm ra, trái với quan niệm sóng của ánh sáng thịnh hành qua phương trình Maxwell cổ điển
mà nhiều nhà vật lý ứng dụng, là một đột phá trong khoa học.
Sau khi electron được khám phá vào năm 1897 bởi Thompson, và hạt nhân nguyên tử với proton
bởi Rutherford và mô hình nguyên tử với các electron chung quanh thì gặp phải nhiều vấn nạn
mà vật lý cổ điển Newton-Maxwell không thể giải thích được: khi electron chuyển động chung
quanh hạt nhân thì theo vật lý cổ điển, sóng sẽ được phát ra và vì thế sẽ mất năng lượng do đó sẽ
rơi vào hạt nhân. Tại sao chúng không rơi vào hạt nhân nguyên tử? Thêm nữa khi các phát xa từ
nguyên tử như hydrogen khi chúng bi kích thích thì chỉ có vài tần số rõ rệt được phát ra chứ
không liên tục (hiện tượng Balmer).
Để giải quyết khó khăn trên, Niels Bohr đã dùng ý niệm lượng tử của Planck và cho rằng
electron không phải có bất cứ một quỹ đạo nào mà chỉ có trên một vài quỹ đạo với trạng thái
năng lượng nhất định. Sự thay đổi các tầng trạng thái năng lượng tương ứng với năng lượng
chúng hấp thụ hay mất đi qua phát xạ. Tầng năng lượng đầu tiên là tầng có năng lượng nhỏ nhất.
Dùng bảng tuần hoàn hóa học của Mendeliev, ông đã giải thích thỏa đáng và xác định được sự
phân phối electrons trong các chất hóa học và tại sao chúng lai có những đặc tính hóa học giống
nhau trong cùng một cột nhóm trên bảng tuần hoàn. Sau Bohr, Sommerfeld cải thiện mô hình
nguyên tử của Bohr thêm vào, ngoài độ lớn của quỹ đạo (n), còn hình dáng quỹ đạo (k) và hướng
quay của electron gây ra từ trường (m) cũng chỉ có các trị số nhất định. Pauli bổ túc thành 4 số
lượng tử với electron tự quay với động lượng góc hướng kim đồng hồ hay ngược lại (2). Mô hình
hoàn tất của Bohr, Sommerfeld, Pauli đã giải thích hết các hiện tượng được biết lúc đó qua các
thí nghiệm như Balmer, Zeeman
Nhưng các hình ảnh quỹ đạo, hướng quay, trục quay không quan sát được của mô hình trên
vẫn còn dựa vào quan niệm, cái nhìn của vật lý cổ điển. Werner Heisenberg cùng với Born và
Jordan phát triển lý thuyết cơ học lượng tử từ đầu dùng toán học xác suất, ma trận (matrix) và
các con số lượng tử để giải thích kết quả của mô hình Bohr mà không dựa vào hình ảnh của vật
lý cổ điển. Mô hình của Heisenberg được gọi là cơ học ma trận (matrix mechanics) giải thích
gọn đẹp quang phổ từ nguyên tử hydrogen qua lý thuyết toán học trong không gian Hilbert mà
không cần hình tượng quỹ đạo. Đây là bước ngoặt của ngành vật lý mới, vật lý lượng tử. Sự
không hoán chuyển của các ma trận khi dùng toán tử nhân trong thuyết của Heisenberg, như

diện triết học như vậy là sự rời rạc, ngắt đoạn không liên tục chỉ là biểu hiện của trạng thái đặc
biệt mà cơ bản vẫn là liên tục không rời.
Einstein cho rằng khám phá của Schrödinger là rất quan trọng, xác nhận sự hồ nghi của ông về
tính chất trừu tượng của Heisenberg về lượng tử và dè dặt trước đây ngay cả về lượng tử. Đối với
Bohr và Heisenberg thì sóng không “thật”. Vật lý lượng tử lúc này có hai khuynh hướng,
Einstein-Schrödinger và Heisenberg-Bohr, cạnh tranh nhau. Theo Kant thì sự hình dung sự thể là
một sự trừu tượng hóa hiện tượng mà chúng ta chứng kiến ('Erscheinung’, phenomenon), khác
với khả năng hình dung được liên quan đến các đặc tính của vật thể mà tự nó có, dù ta quan sát
hay đo lường nó hay không (Kant gọi là 'noumenon' hay 'ding an sich' tức 'vật trong vật' độc lập
với quan sát). Trong vật lý Newton ở bối cảnh vĩ mô thì cả hai gần như đồng nghĩa và hiển nhiên
nhưng trong thế giới vi mô của vật lý lượng tử thì chúng là hai phạm trù có khác nhau và phân
biệt được. Mô hình tiên nghiệm của sự thể khác với “sự thật”, đặc tính thật sự của vật thể mà ta
không quan sát đươc. Nhưng Einstein và Schrödinger không hoàn toàn chấp nhận tính chất quá
trừu tượng của cơ học lượng tử Heisenberg. Cả hai mặc dầu đồng ý với sự khẳng định của
Galileo là “sách của thế giới vạn vât” được viết bằng toán học nhưng cũng nhận ra sự cần thiết,
khả năng và công dụng dùng hình ảnh hình dung được trong tư tưởng của các ký hiệu toán học.
Tuy vậy Heisenberg, đã đi xa hơn nữa, các nghiên cứu sau này của ông đã đặt nền tảng của các
biểu đồ Feynman - hình ảnh tượng trưng qua sự liên kết giữa trực giác và hình ảnh. Ở đây hình
ảnh được sinh ra từ toán học của cơ học lượng tử, chứ không phải được trừu tượng hóa từ các
hiện tượng mà ta thật sự quan sát (11).

Trong biểu đồ Feynman, một electron và một positron triệt tiêu nhau và tạo ra một photon ảo để
trở trành một cặp quark-antiquark, rồi phát ra một gluon (Thời gian đi từ trái sang phải và chiều
không gian đi từ dưới lên trên) - Trích từ Wikipedia (Vietsciences)
Các mô hình của Schrödinger và Heisenberg-Dirac khác nhau về tiếp cận toán học và về sự diễn
giải thế giới vật thể: sóng và hạt, nhưng tương đương nhau. Từ phương trình Schrödinger, ta có
thể biến đổi tương đương với công thức trong cơ học ma trận của Heisenberg-Dirac. Qua nhiều
sự tranh luận giữa Schrödinger và Heisenberg, Dirac, Bohr, cuối cùng dẫn đến sự hợp nhất qua
nguyên lý được đưa ra gây nhiều tranh cải và sâu sa nhất về phương diện triết học (ngoài nguyên
lý bất định của Heisenberg) là nguyên lý bổ sung (Complementary Principle) của Bohr. Nguyên

thế kỷ 20. Mặc dầu rất thân thiện và để ý đến thuyết tương đối của Einstein nhưng Mach chống
lại thuyết tương đối vì theo Mach thì không có bằng chứng nào để chứng minh được giả thuyết
tương đối. Trong cuộc tranh luận và đối đầu giữa Mach và Planck trong nhiều năm, và vào thời
điểm thuyết tương đối ra đời, có thể Mach chỉ chú ý đến Einstein vì ông hy vọng là Einstein có
thể sau này triển khai một lý thuyết khác về sự liên tục để phủ định lý thuyết ngắt đoạn, nhảy vọt
qua lượng tử của Planck. Mặc dầu hiện nay không còn ảnh hưởng và được chấp nhận nhưng tư
tưởng thực chứng (positivism) của Mach có ảnh hưởng rất lớn đến W. Pauli, E. Schrödinger, N.
Bohr, và ngay cả Einstein trong những giai đoạn đầu.

Nhóm Vienna (Wiener Kreis, Vienna circle)

Moritz Schlick, học trò của Max Planck ở Đại học Berlin, được bổ nhiệm giáo sư ở Đại học
Vienna vào năm 1922, vị trí mà Ernst Mach, và sau đó Ludwig Boltzman, đã giữ trước đó. Ở
Vienna, Schlick đã tập hợp được các nhà triết học và khoa học như Otto Neurath, Rudolf
Carnap thành một nhóm thường gặp nhau và thảo luận về các đề tài khoa học và triết lý. Dựa
vào triết lý của E. Mach, nhóm Vienna tin rằng con người và xã hội sẽ tiến và giải quyết được
các vấn nạn nếu mọi vấn đề được xét đoán khách quan, quan sát và kiểm chứng được qua khoa
học và tất cả những gì siêu hình, không kiểm chứng được là không phải thuộc phạm trù khoa học
và chính chúng (siêu hình) trong tư duy của con người đã gây ra nhiều vấn đề và khổ ải trong xã
hội.
Khác với Immanuel Kant cho rằng tri thức có được là do từ mô hình vật thể hiện tượng qua kinh
nghiệm cảm nhận cùng lý luận tư tưởng với những tri thức tiên nghiệm (a priori knowledge), tức
các sản phẩm thuần túy của tư tưởng, thí dụ như thời gian và không gian, trọng lượng, gia tốc,
thiên nhiên mặc dầu ta không thể hiểu vật thể “thật” mà tự vật thể ấy có (cái mà Kant gọi là
'ding an sich' hay 'vật trong vật’, 'thing in itself’, vật thể tiên nghiệm, transcendental object. Kant
cho rằng vật thể cảm nhận được như cái bàn, đôi giày và 'vật’ tiên nghiệm, 'ding an sich’, không
thấy được như thời gian, vận tốc đều là vật thể). Mach cơ bản không đồng ý có sự phân biệt giữa
tri thức từ kinh nghiệm và từ tiên nghiệm mà cho rằng khoa học, tri thức không phải cố định và
lúc nào cũng khách quan như ta tưởng mà luôn phải được tự xét lại qua các quan sát, kinh
nghiệm mới mà trước đó chưa có. Vật thể “thật” trong vật thể ('ding an sich') là không quan sát

mặc dầu chúng hoàn toàn trái ngược nhau. Khi chúng ta dùng dụng cụ để quan sát các hạt tử
trong thế giới lượng tử thì thế giới lượng tử sẽ bị chạm xáo trộn, sụp đổ thành thế giới cổ điển
(classical reality) mà chúng ta thường biết và cảm nghiệm với chỉ một trong hai đặc tính này hiện
diện mà thôi. Hạt là có thật và sóng thì không “thật“, sóng chỉ là phương tiện toán học đại diện
cho sự hiểu biết xác suất của ta về hệ thống. Đây là nền tảng của quan điểm về sự diễn giải của
thuyết lượng tử trong thế giới thiên nhiên mà ngày nay chúng ta gọi là Sự diễn giải Copenhagen
của cơ học lượng tử (Copenhagen Interpretation of quantum mechanics). Hình trích từ Wikipedia
Như vậy theo sự diễn giải Copenhagen, có hai lãnh vực hay thế giới, thế giới lượng tử và thế giới
hiện thực cổ điển. Và ngay lúc khi ta quan sát hay đo thì ta đã tạo ra thế giới hiện thực (cổ điển).
Sự diễn giải này được trình bày qua một nghich lý “Con mèo Schrödinger” theo đó trong một thí
nghiệm tưởng tượng (thought experiment) có một con mèo nhốt kín trong hộp có một lọ chứa
hơi độc với một hạt tử ở trong hai trạng thái chồng lên nhau của thế giới lượng tử, lọ này sẽ vỡ
nếu hạt tử ở trong một trạng thái và sẽ không vỡ khi ở trạng thái khác. Khi vẫn còn kín chưa mở
hộp thì cả hai trạng đều hiện diện và lọ hơi độc vừa bị vỡ và không vỡ và con mèo vừa chết và
không chết. Khi nắp hộp mở ra, sự chồng nhau của thế giới lượng tử sụp đổ thình lình đi đến thế
giới cổ điển với một trong hai trạng thái và con mèo sẽ sống nhảy ra khỏi hộp hoặc chết ngay lúc
mở. Khi mở ra thì ta không thể nào trở về lại thế giới lượng tử với hai trạng thái nữa.
Gần đây Nadar Katz và đồng nghiệp đã thực hiện một thí nghiệm siêu dẫn qubit đã thực hiện
được sự trở về thế giới lượng tử chưa quan sát (với hai tầng năng lượng, cao và thấp) khi thế giới
lượng tử gần sụp đổ đến chỉ một tầng năng lượng, tương tự như hé mở hộp nhìn con mèo rồi
đóng nhanh miệng hộp lại (10). Tầm quan trọng về ý nghĩa của kết quả thí nghiệm này rất to lớn,
nói lên như vậy là ta có thể xoá bỏ đi hệ quả của quan trắc hay đo đạc lúc trước, trở về lại thế
giới lượng tử và quan trắc lại. Tái tạo lại hiện thực lần nữa! Đây là một bước nhảy quan trọng
tiến tới thực hiện được máy tính lượng tử (quantum computer) nhưng lại đặt thêm một vấn nạn
về ý nghĩa của hiện thực cho triết học: hiện thực không còn là tất yếu qua các điều kiện hệ quả
mà là bất kỳ những dự quả nào mà ta muốn, quyết định và có thể lùi lại thay đổi hiện thực nếu
muốn. Thế giới của hiện tượng là hoàn toàn do chủ thể quyết định. Hiện thực không là 'vật thể

thiên nhiên, vật thể cũng là các gián đoạn, không liên tục và không định trước được
(deterministic). Nếu ngoại suy (extrapolate) ra các lãnh vực khác ngoài thiên nhiên vật thể thì
ngay cả quá trình tiến hóa trong xã hội, tư tưởng con người cũng không phải là liên tục mà là các
bước nhảy. Quan niệm nhảy vọt không liên tục, xác suất bất định trước và nhiều trị số có cùng
một lúc là một điều không ngờ, khó hiểu nếu dùng lý tính mà ta thường biết và cách mạng trong
tư tưởng. Bohr đã nói “Những ai mà lần đầu tiếp cận với thuyết lượng tử mà không bị “sốc” thì
thật sự không thể hiểu nó”
Trước khi có vật lý lượng tử thì mọi sự thể, hiện tượng thiên nhiên đều được mô tả bằng các từ
thể nghiệm (empirical). Lý thuyết nguyên tử của Bohr, bất định của Heisenberg, tương đối của
Einstein và lượng tử của Planck, Schrödinger cho thấy sự thể thật sự của thiên nhiên cũng nằm
sâu, ẩn dấu sau những gì quan sát hay cảm nhận được. Điều này không phải là mới, triết gia Hy
Lạp Plato và Plotinus trước đây cũng cho rằng vũ trụ có nhiều tầng hiện hữu, không chỉ gồm có
thế giới cảm nhận mà còn có thế giới vượt quá cảm nhận (5).
Không lạ gì mà các nhà nghệ sĩ, nghệ thuật tìm kiếm cái mới đều bị thu hút bởi các ý niệm cách
mạng của lý thuyết lượng tử mà Max Planck đã khơi mào.

a) Max Ernst, Roberto Matta, Wolfgang Paalen – trường phái siêu thực
Chúng ta tin tưởng vào những tri thức lấy từ cảm nhận thay vì tri thức được áp chế từ quyền
lực nào đó. Tư tưởng và chủ nghĩa thực chứng lan rộng ở Âu châu đầu thế kỷ 20 cùng với
thuyết lượng tử trong vật lý do các nhà khoa học và tư tưởng trong nhóm Vienna truyền bá
trong giới trí thức qua những sách vỡ, khám phá và các bài viết trong các tạp chí. Trong môi
trường với nhiều ý tưởng mới như vậy, nghệ thuật và văn hóa Âu châu có thêm chất liệu
mới để phát triển. Người nghệ sĩ, bác học Leonardo Vinci thời Phục Hưng thế kỷ 15 và nhà
nghệ sĩ Max Ernst thật ra cũng cùng ý tưởng với thực chứng của Ernst Mach.
Sau thế chiến thứ nhất, André Breton, người chủ xướng nghệ thuật tranh siêu thực, chịu ảnh
hưởng của thực chứng và tâm lý học mới bắt đầu của Freud, năm 1925 đưa ra tuyên ngôn về triết
lý nghệ thuật siêu thực. Lúc đầu Breton, trong tuyên ngôn siêu thực, không thích tư tưởng, thái
độ quá thực tế của thực chứng đối với quan điểm tưởng tượng của tâm thức mà siêu thực cổ võ.
Nhưng sau này quan điểm thực chứng chống lại siêu hình mà Rudolph Carnap đã phân tích trong
các sách của ông về ngôn ngữ đã được nhiều nghệ sĩ siêu thực ngưỡng mộ và vài năm sau tuyên

khoa học vật lý vi mô ngày nay. Sau khi đo đường mà electron di chuyển không có ngoại lực ảnh
hưởng, P. Jordan đã kết luận: 'Nhưng sự phân biệt về sự khác nhau [giữa thế giới ngoại vi và thế
giới nột tại] đã bị mất đi một trong những cột trụ bởi sự phủ nhận qua thí nghiệm ý tưởng cho là
các sự kiện hiện diện ở thế giới ngoại vi có một sự hiện hữu khách quan độc lập với quá trình
quan sát”.

Ernst Max - Young Man Intrigued by the Flight of a Non-Euclidean Fly, 1942-47

Trong bài luận văn “Siêu thực là gì?”, Ernst đã dùng lý thuyết của nhà vật lý Pasqual Jordan về
sự liên hệ giữa cơ học lượng tử, sinh hoc và tâm lý học để đưa ra ý niệm về vai trò của người
nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo.Theo Jordan thì ở tầng quan sát được của thế giới cổ điển
(Newton), đặc tính xác suất bất định không nhân quả của các phản ứng nguyên tử, sẽ trung bình
hóa ra một nhân quả cơ bản cho các vật vô tri, nhưng với động vật sống, sự bất định không nhân
quả của các phản ứng nguyên tử phóng đại lên và giữ nguyên trên tầng vĩ mô sự vận hành của
không nhân quả. Vì thế, theo Jordan, ý chọn tự do (free will) mà con người, động vật, thực vật có
là tiếng vọng trực tiếp của cùng các thành phần không nhân quả tạo thành các vật vô tri nhưng lại
biến mất đối với vật vô tri khi nâng lên tầng vĩ mô (2). Ernst cho rằng thế giới nội tại và thế giới
bên ngoài trong siêu thực sẽ không có biên giới và nhập chung là một. Sự phân biệt giữa chủ thể
và vật thể nhoè đi và không còn.
Roberto Matta, họa sĩ người Chile, đến Paris 1935 và sau này New York. Ông thuộc trường phái
siêu thực. Octavio Paz đã nói về tranh của Matta và bạn Matta là Duchamp: 'trong các tranh siêu
thực, một sự biến đổi to lớn đang xảy ra, khởi đầu bởi Duchamp và thực hiện bởi Matta, một sự
phối hợp của trường phái gợi dục (eroticism), khôi hài và khoa học vật lý mới'. Roberto Matta -Onyx of Electra, 1944 - The Museum of Modern Art, New York

Matta cho là sự khác biệt giữa ông với các họa sĩ khác trong trường phái siêu thực là ông mang
vào các hình ảnh dựa vào ý tưởng của vật lý hiện đại vào tranh mà ông cho là hợp với thời đại
hơn các họa sĩ khác. Từ sự diễn giải của ông về hình học không Euclid (non-Euclid) và một thế

“Đối với tôi, dường như chúng ta phải đi đến một ý niệm có nhiều tiềm năng về hiện thực, dựa
vào các hướng đi mới của vật lý cũng như của nghệ thuật, một ý niệm mà tôi gọi là dynatic (từ
chữ Hy lạp tó dynaton: sự có thể được). Một lý thuyết về 'Sự có thể’, qua đó chúng ta hiểu nghệ
thuật như phương trình nhịp điệu của thế giới thực thể, nó là một sự bổ sung không thể thiếu
được của phương trình logíc mà khoa học tạo ra. Bởi vì chỉ có sự hợp tác của hai lãnh vực thì
mới tạo ra được một đạo lý (ethics) mới đánh tan đi cái u tối của siêu hình và tôn giáo”. Wolfgang Paalen – L’enclume (1952) – Frey Norris Gallery Tuy nhiên Paalen cũng cảnh báo các nghệ sĩ siêu thực về sự lạm dụng các ý niệm vật lý, các từ
ngữ ngoài khung cảnh khoa học không đúng vào phạm trù nghệ thuật. Những nhận xét của
Paalen rất là tiên tri khi chúng ta được chứng kiến sự tranh luận giữa các nhà xã hội học và khoa
học qua sự kiện Sokal vào cuối thế kỷ 20 (4).

(b) Gaston Bachelard – khoa hoc và thi sĩ

Gaston Bachelard (1884– 1962), giáo sư
sử học và triết lý khoa học ở đại học
Sorbonne và cũng là thi sĩ, trong hai tác
phẩm nổi tiếng Le nouvel esprit
scientifique (“Tinh thần khoa học mới”)
("The New Scientific Spirit ") (1934) and
La formation de l'esprit scientifique (“Sự
thành hình của tinh thần khoa học”, "The
Formation of the Scientific Spirit ")
(1938) là người đầu tiên cho thấy cơ sở
kiến thức, cơ nguồn và đặc tính của sự
thay đổi trong sự phát triển khoa học mà

epistémologique”) những hàng rào chướng vật ngăn cản (“obstacles epistémologiques”) của tâm
lý nhận thức cũ. Tất cả các sự thật mới đều sinh ra trái ngược với sự hiển nhiên. Bachelard không
coi sự tiến triển trong lịch sử khoa học là một sự tiến bộ liên tục mà là các bước gián đoạn, nhảy
vọt phản ảnh qua tâm thức con người vượt qua các rào cản và các lý thuyết mới mở rộng thêm
các quan niệm (như thuyết tương đối) và bao gồm các lý thuyết củ (như vật lý Newton).
Vì cũng là thi sĩ, Bachelard để nhiều thời gian nghiên cứu hình ảnh tưởng tượng trong thơ, mộng
ngày trong bối cảnh thế giới hình ảnh, thế giới ý tưởng. Kiến trúc không nên được thiết kế theo
lý tính về chức năng của mỗi bộ phần mà phải để tự chúng ta cảm nghiệm trong các thành phần
của kiến trúc và chúng cho phép ta dễ mộng (rêve) ngày. Trong tác phẩm 'Lautréamont’ nói về
nhà thơ siêu thực Comte de Lautréamont (Lucien Ducasse) với tác phẩm thơ 'Les Chants de
Maldoror’, ông đã so sánh nội lực, sức đẩy của hình ảnh, vần thơ với năng lượng, vận tốc, khối
lượng của vật lý. Theo Bachelard thì sự tưởng tượng cách mạng trong thơ của Lautréamont cũng
như thuyết lượng tử hay tương đối của Einstein trong vật lý thay đổi, tổng quát hóa và bao trùm
vật lý cổ điển. Sức mạnh chuyển hóa của tưởng tượng trong thơ siêu thực cũng giống như sức
mạnh chuyển hóa cách nhìn và nhận thức của vật lý mới. Nhiều người không hiểu tại sao chỉ một
số họa sĩ, nhà thơ siêu thực hiểu được Lautréamont. Đây không có gì lạ, cũng tương tự như chỉ
có một số ít nhà toán học tụ tập chung quanh Einstein vì họ hiểu được thuyết Einstein. Bachelard
là gạch nối giữa khoa học và nghệ thuật và như đã nói ở trên có ảnh hưởng quan trọng về tư
tưởng trong cả hai lãnh vực.
Ngoài André Breton, sách “Tinh thần khoa học mới” của Bachelard đã có ảnh hưởng sâu rộng
với các nhà thơ, văn và họa sĩ siêu thực như Roger Caillois, Tristan Tzara, Jules Monnerot,
Jacques Spitz, Nicolas Calas trong nhóm Groupe d’Études pour la Phénomenologie và họ đã trở
thành bạn với nhau. Bachelard thường đến quán cà phê Deux Magots ở Paris, nơi các nhà nghệ
sĩ siêu thực thường tụ tập, để hàn huyên. Bachelard viết bài về chủ nghĩa siêu thực trong tạp chí
Inquisitions của nhóm siêu thực và ngược lại Caillois viết trên tạp chí Recherches
Philosophiques do Bachelard làm chủ bút. Các bài của Spitz, Tzara, Caillois về siêu thực đều
dùng ý tưởng vật lý mới mà Bachelard mang vào trong tư tưởng hiện đại.
Ngoài nhóm siêu thực trong Groupe d’Études pour la Phénomenologie, những nhà văn, nghệ sĩ
chịu ảnh hưởng của tư tưởng Bachelard là Georges Bataille, Louis Aragon, Paul Eluard,
Salvador Dali, Denis de Rougement, Pierre Mabille, René Crevel, Marcel Duchamp, Zdeno

của thuyết lượng tử và tương đối cho thấy sự giới hạn
của khoa học dựa vào thực chứng. Lý thuyết có thể đi
trước và tiên đoán được những hiện tượng có thể xảy
ra dẫn đường cho chúng ta thiết lập cơ sở để thấy và
quan sát được. Như vậy một sự thật khách quan có thể
được tìm thấy qua lý thuyết và triển khai mà không cần
phải có hiện tượng gắn liền trước tiên. Karl Popper đã
giải toả được sự hạn chế của thực chứng và cho rằng
một tri thức hay lý thuyết được gọi là khoa học khi nó
cho ta có nhiều cơ hội để kiểm nghiệm là nó có thể sai và nó phải táo bạo tiên đoán được những
hiện tượng chưa được quan sát và kiểm nghiệm. Ông đã thiết lập có hệ thống phương pháp để
xác định một lý thuyết được cho là khoa học khác với “ngụy khoa học” qua khả năng phản
nghiệm (falsificationism).

Nhưng có thật là đàng sau hiện tượng là luôn có một tri thức, lý thuyết hay một sự thật tuyệt đối
khách quan nào đó mà ta nhận thức được và triển khai giải thích được sự vận hành của hiện
tượng không? hay lý thuyết, cái mà ta cho là sự thật khách quan ấy chỉ là sản phẩm của tư tưởng,
nhận thức tùy thuộc vào hoàn cảnh và môi trường văn hóa xã hội do con người tạo nên, hay nói
khác hơn nó cũng chỉ là một hư cấu, một sản phẩm hiện tượng do chúng ta tạo ra?

W. Paalen cho rằng sự tưởng tượng tạo ra hiện thực cũng như nó đã được tạo ra bởi hiện thực,
chúng ta nên hiểu là các hình ảnh của nghệ thuật không phải là sự thể hiện hão huyền tự đắc của
người nghệ sĩ, hay các thiết kế cho các công cụ mà chính là các thiết kế (blueprint) cho chính con
người (2)

Hậu hiện đại đi xa hơn nữa và cho là tất cả thế giới chung quanh ta chỉ là hiện tượng và tri thức,
cảm nhận về các hiện tượng đều khác nhau ở mỗi người và đều chủ quan, không có tri thức nào
là đúng hơn, tất cả đều tương đối. Ý tưởng này rất gần với ý tưởng mà vật lý lượng tử đặt ra về
hiện thực (reality) qua vai trò của nhận thức (consciousness) và sự phủ nhận về sự hiện diện của
một thế giới vật thể có ý nghĩa nằm ngoài kia độc lập với nhận thức bên trong của chủ thể.

giải cấu trúc, Derrida dùng ý niệm về sự nhận thức ngôn ngữ, nghĩa qua sự liên hệ với các sự thể
khác và ngữ cảnh khác nhau chứ không phải trực tiếp trong một trường hợp mà ông gọi là
'differance' (kết hợp của từ difference và deferral). Trong tác phẩm 'La verité en peinture',
Derrida cũng dùng tranh của Magritte, Van Gogh trong đề tài 'giải cấu trúc' (decontruction) của
tranh qua lý thuyết về mỹ thuật của Kant, Heidegger và về sự bất định của 'sự thật' qua lá thư của
Cezanne nói về sự thật trong tranh và sự thật liên quan đến tranh.

Gần đây, Artigiani đã so sánh sự thay đổi tư duy từ duy lý, khách quan, cấu trúc của hiện đại đến
tương đối, chủ quan, giải cấu trúc của hậu hiện đại trong văn học cũng song song và tương
đương với sự thay đổi cách mạng trong nhận thức về thế giới thiên nhiên từ vật lý cổ điển
Newton đến vật lý lượng tử trong vật lý (12).

Sự khám phá bất ngờ trong vật lý lượng tử về thế giới hiện thực đã đặt ra những câu hỏi sâu xa
triết lý về thế giới hiện thực, gây vấn nạn cho triết học và cũng chính vật lý lượng tử có ảnh
hưởng hay nói chính xác hơn là đã có tác dụng kích thích sự phát triển trong lãnh vực văn hóa
nghệ thuật cho đến ngày nay. Những câu hỏi về hiện thực là gì, ý nghĩa của thế giới lượng tử liên
quan đến hiện thực, vai trò của nhận thức mà vật lý lượng tử đặt ra đã cho thấy là “hiện thực lạ
lùng hơn ta nghĩ và hiện thực lạ lùng hơn ta có thể nghĩ đến ”, tương tự như nhà vật lý Arthur
Eddington đã nói trước đây về vũ trụ (“Not only is the universe stranger than we imagine; it is
stranger than we can imagine.”). Vật lý lượng tử là tiên phong của khoa học ngày nay và tiên
phong là những gì mà các tiền vệ (avant-garde) của nghệ thuật luôn luôn giang tay đón nhận.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status