Từ lý thuyết lượng tử đến
nghệ thuật hiện đại và hậu hiện
đại (Phần 2)
Cái giới hạn tronghìnhảnh sự vật dưới nhản quan củacon người được
Matta cởi trói cho ta nhận thứcmột chiều sâu trực giác không Euclide trên tranh
khác vớithế giới quang học phẳng thông thường. Ông theo chân các nhà vật lý để
thử nghiệmvà tìm thấy một thế giới, không gian mới mà con người bị giới hạn
trướcđây không cảm nghiệm được, khác với con mắt bất động,vĩnh cửu và đơn
điệu của phối cảnh(perspective) dùng trong thời Phục Hưng chođến ngày nay.
Phương hướng khôngxác địnhđược trong tranhcủa ông(chúng ta nhìnlên, xuống
hay ngang, dọc?)làm rối loạn thị giác quan, và vì thế dồn hay làm ngườixem phải
trở lại vàotrong chính mình.
Breton nói về tranh củaMatta (2):“Ông khôngngừng mời chúng ta
vào không gian mới đã cố ý bị phá ra ('rupture delibérée') từ quan niệm cũ về
khônggian bởi vì quanniệm này chỉ có nghĩatrong phạm viphân bổ của các vật
thể đóng vàđơn giản sơ yếu mà thôi”
Không phải là một phương pháp thiết lập hệ tri thức nào,khoa họchay nghệ
thuật, là đúng hơnvà triệttiêu lẫnnhau. Nhưng sự đa dạng củacác phươngpháp
hệ tri thức là điều mà chúngta nên cổ võ vì chúngthuộc hai phạm trù khácnhauvà
có thể hỗ tươngvới nhau.Ta cũng có thể nói rằng vật lý là tri thức kiểm chứng với
những dữ kiện cảm nhận (sense-data) và nghệ thuật là tri thức kiểmnghiệm dùng
dữ kiện cảmnhận tạo ratừ người nghệ sĩ (8).WolfgangPaalen,nhà họa sĩ người
Áosốngở Mexico,đã đưa rachủ trươngvàý tưởng“Bổ sung” (“Complementarity”)
giữahai lãnh vựcnghệ thuật và khoahọc,dựa vào từ của Niels Bohrđã dùng cho
Nguyên lý bổ sung (Complementary Principle) trongvật lý lượng tử về hạt và sóng
vào cácnăm 1942-1944 trong tạp chí Dyn doPaalen xuấtbản (2). Nghệ thuật chú
trọng về phẩm, chất lượng, có cái nhìn toàn thể trong khi khoahọc chú trọng về số
lượng. Sự lưỡngcực nàytrong triết lý đã có từ trước trong lịch sử giữa cái nhìn
định tínhcủa cácnhà triết họcHy lạp và định lượngtừ Galileohay giữa Goethevề
sự nhận thức cảm tínhqua tổng thể ánh sáng và Newton về thực nghiệmphân tích
ánh sáng qua quangphổ. Paalencho rằngcả hai cái nhìn mặc dầu khácnhau nhưng
khi MaxPlanck khaiphá làmầm mốngvà cơ sở lý luận để Bachelardđưa ra nhận
thức vàtriết lý mới về sự đột phá cótính cách nhảy vọtkhông từ từ liên tục trong
sự phát triểnlý thuyếtkhoa học.
Bachelardcho thấy làtrong 2000năm, hìnhhọc Euclidngự trị và không thay
đổi là dosức mạnh của tâm trí,trí óc con người đã không đượcthể hiện và kìm
hãm trong thời gianlâu như vậy. Vượtqua chủ thể và vật thể,khoa học dựa vào đề
án (projet).Trong tư tưởngkhoa học, suytư về vật thể bởi chủ thể đềutheo dạng
của một đề án. Mỗilý thuyếtđều thể hiện sự năng động củatrí tuệ con người thiết
lập ra lý thuyết đó,có nghĩalà lýthuyết tượngtrưng chosự thay đổi tâmtrí con
người. Trong sự nghiên cứu phát triển hình thành của lý thuyết khoa họcthì vai
trò củatâm lý (psychology) trong sự nhận thứccủa con ngườilà chủ yếu.
Bachelardlấy thí dụ trong sáchcủaHeisenbergvề nguyên lý củathuyết lượngtử
(Physical principlesof the quantumtheory),khi Heisenberg đã dùng cólúc thuyết
sóng (wave), có lúc thuyết hạt tử (particle) hoàn toàn đối nghịch để giải thích các
hiện tượng,bổ túc thuyết sóngkhiếm khuyết bằng cách dùng thuyết hạt tử hay
ngược lại. Điều này cho thấylà tâm lýcon người trong khoa học một khiđối diện
với khókhăn qua một niềm tin, thì ngay khiấy con người xử dụng quanđiểm đối
nghịchđể cố gắng lý giải.Sự ảnh hưởng của diễn giải Copenhagen về thế giới
lượng tử đến sự tiếp cận của Bachelard trong vai tròcủa tâm lý vào sự pháttriển
khoa họcđến đây là rất rõ.
Bachelardcho rằngtrong sự tìm hiểu tiếp cận với thế giới, sự tranh luận
giữacácphương pháp như thực nghiệm, lý tính, quy nạp, hữu định, vô định là tất
yếu trong quá trìnhnhận thứcvà các lý thuyết tạo ra từ các phương pháp sẽ đối
chọi nhau hay sẽ đi đến bế tắc khônggiải thích được cáchiện tượng. Cuối cùng tâm
trí vànhận thức con người sẽ đi đến một trình độ mới trong những tình huống mới
và khôngngờ trước được. Đó làsự rađời của mộtmẫu hìnhmới. Mẫu hình này sẽ
giảithíchvà hóagiải các bế tắc của các lý thuyết cũ và tạo ra mộttâm tư hay
phươngpháp nhận thức mớitrong tâm lý suytư của con người. Phươngthức suy
tư này có thể cần thời gian lâu để biết đượcvà trở thành quenthuộc. Vì thế trong
lịch sử khoahọc, tiếp nhận tri thứcmới đều trải qua những bước nhảy(như lượng
Bachelardlàm chủ bút. Các bài của Spitz, Tzara, Caillois về siêu thực đều dùng ý
tưởng vật lý mới mà Bachelard mang vào trong tư tưởnghiện đại.
Ngoài nhóm siêu thực trong Groupe d’Études pour la Phénomenologie, những
nhà văn, nghệ sĩ chịu ảnh hưởng củatư tưởngBachelard là Georges Bataille,Louis
Aragon,Paul Eluard, Salvador Dali, Denis deRougement, PierreMabille, René
Crevel,Marcel Duchamp, Zdeno Reich Paul Eluardđã dùng các đoạn văncủa
Bachelardtrong cácbài viết trên tạp chí Minotaure. Tácphẩm 'Au carrefour de
l’amour, la poesie, la science et la revolution’ (“Ở ngã tư của tìnhyêu, thi ca, khoa
học và cách mạng”) (1935) củanhà văn RenéCrevel chothấy tư tưởng 'rupture
epistemologiques’ của Bachelardáp dụngvào trào lưu văn học Pháp lúc đó. Crevel
cũng cố gắng mangtư tưởng,khám phá mới trong vật lý vào lý luận để ủng hộ tư
tưởng chínhtrị duy vật biện chứng và marxist củaông, gọi là xã hội chủ nghĩakhoa
học (scientific socialism).
Khuynhhướng tư tưởng của các thập niên 1920, 1930ở lục địa Âu châu
trong nghệ thuật và xã hội là thiênvề thực chứng và duyvật song song với sự phát
triển khoahọc vật lý lượng tử và triết lý thực chứngcủa nhóm Vienna. Nhấn mạnh
vào quan sát, gạtbỏ siêu hình và xóa bỏ sự phân biệt giữa chủ thể, chủ quan và vật
thể, khách quan mà thực chứng và vật lýlượng tử đem lại quatrung gian
Bachelard, các nghệ sĩ mà đa số theo chủ nghĩa xã hội haymarxist đã vui vẻ đón
nhận. Saukhủng hoảng kinhtế thế giới 1929, chínhphủ LeonBlumcủa mặt trận
bình dân cầm quyềnở Pháp được sự ủng hộ và tham gia của nhiều nhà nghệ sĩ và
trí thứcnhư nhà vật lý PaulLangevintrongnội các Leon Blum. Sự ảnh hưởng về tư
tưởng của nghệ sĩ từ vật lý lượng tử càng sâu đậm.
NicolasCalas trong tác phẩm'Foyers d’ Incendie' cho rằng thái độ chủ quan,
biểuhiện trong văn họcqua các tácphẩm củaJames Joyce và Marcel Proustvà
trong nghệ thuật bởi trường phái ấn tượng (Impressionism),được thaythế bởi ý
chí khách quan, vật thể hóa trong nghệ thuật siêu thực. Ông cổ võ tư tưởng
Bachelardchống lạisự đemtrở lại tư tưởng Descatesvà Bergsoncủa một số nghệ
sĩ lấy triếtlý Bergson để xây dựngmỹ thuật chủ quan trong phong tào hiện đại
(2).
mà chínhlà cácthiết kế (blueprint) cho chính con người (2)
Hậuhiện đại đi xahơn nữa và cho là tất cả thế giới chung quanhta chỉ là
hiện tượngvà tri thức, cảm nhận về các hiện tượng đều khác nhau ở mỗi người và
đều chủ quan,không có tri thức nào là đúng hơn, tấtcả đều tương đối. Ý tưởngnày
rất gần với ý tưởngmà vật lý lượng tử đặt ra về hiện thực (reality) qua vaitrò của
nhậnthức(consciousness)và sự phủ nhậnvề sự hiện diện củamột thế giới vậtthể
có ý nghĩa nằm ngoài kia độc lậpvới nhậnthức bên trongcủa chủ thể.
Hậuhiện đại bắtnguồn từ hiện đại và phát triển rộng rãi saukhi Thomas
Kuhnđưa ra lý thuyết chuyển mô hình (paradigm shift) về lịch sử phát triển khoa
học trong cuốn sách 'The Structure of Scientific Revolution'. Nhà vănvà triếtgia hậu
hiện đại,Michel Foucault, trong sách 'Les Mots et les choses. Une archéologie des
sciences humaines’(1966)đã dùng ýtưởng về sự bấtliên tục từ một hệ thống quan
niệmxã hội, tư tưởngvăn hóa đếnmột hệ thống khác trong lịch sử, rất giống với ý
niệmchuyển mô hình của Kuhn.Michel Foucault chịu ảnh hưởng từ người bạnvà
cũng là thầy của ông là nhà lýthuyết cấu trúc Louis Althusser nổi tiếng qua sự
phân tách cấu trúclý thuyết duyvật của Marx.Như đã đề cậpphần trên, Althusser
đã dùng lýthuyết và ý tưởng củaBachelard “ruptureepistémologique” để phân
tách lý thuyết chủ nghĩa.
Tuy vậy Foucaultđã đi xa hơn vàcho rằng
các quyước, hệ thống con người suy nghĩ nhận
thức qua các biểutượng, ngôn ngữ đều tươngđối,
thayđổi tùy thời gian, hoàn cảnh văn hóa và ông
cũng cho thấy rằngcác quyước hiện đại, ngay cả
có vẽ hiển nhiên, thật ra đềuphiến diện. Bức tranh
của họasĩ siêu thực René Magritte 'La trahison des images’ (sự bội phản củahình
ảnh - Vietsciences chú thích) vẽ mộtống điếu thuốc nhưng dưới có viết'Ceci n’est
pas unepipe' ('Đâykhông phải ống điếu thuốc'), chothấy hiện thực cũng có thể bị
“giả mạo” và bấtđịnh,cũng là đề tài về sự vô lý, nghịchlý và phiếm diện của hiện
thực theo nhận thức của chủ thể qua biểu tượng trong cuốnsách của Foucaultvới
tựa đề 'Ceci n’est pas une pipe'.
Khi Max Planck đặtra ý niệm lượng tử, ôngchỉ xem đó là mộtphương tiện
để giải bài toán khó màKirchoff đã đặt ra. Điều quan trọng là ông đã giải thích
được sự phát sóng từ vật đen một cách thật chính xác vàđầy đủ không ngờ, hoàn
toànphù hợp với dữ kiện thí nghiệm. Ý tưởng lượngtử về sự khôngliên tụccủa
năng lượngkhôngbận tâm ông.Ông không nghĩ là nó sẽ có nhữnghệ quả lớn lao
về tư tưởng vàphát triển khoahọc vật lýlượng tử vàảnh hưởng vào đời sốngcon
người trong mọi lãnh vực kể cả nghệ thuật sau này.
Như ta đã thấy thuyết lượng tử của ông sau đó được Bohr mangvào thế giới
ở tầng vimô của vật lý nguyên tử, và từ đó đã đưa đến vật lý cơ học lượng tử với
sự đóng góp sau đó của cácnhà vật lý như Heisenberg, Dirac. Mộtsự khám phá
thành công nhất về tri thức của ngành vậtlý nói riêng vàkhoa học nói chung ở thế
kỷ 20 và cho đến thế kỷ 21 này. Ngoài phương diện khoahọc kỷ thuật, kinh tế xã
hội, mặc dầu khôngđược biết đến nhiều,nhưng ảnh hưởng của nó vào tư tưởng
triết học, văn hóanghệ thuật cũng to lớn không kém như đã mô tả ở trên. Gần đây,
đã có các lý thuyết và các nghiên cứu trong lãnhvực triết học, sinh học lượng tử,
tâmlý và vật lý thầnkinh cho rằng nhận thức (“consciousness”) phát sinhtừ các
hiện tượng,quá trìnhlượngtử trong và giữa các tế bào thần kinh(neuron)trong
sinh vật (mô hình Penrose-Hammeroff), tức là nhận thức xảy ra sau và quasự hiện
hữucủa vật thể và hiện tượnglượng tử (14), cũng như sự đối ngẫu (duality) của
vật thể (matter) vàtinh thần (mind) là hệ quả của quá trình lượng tử (13).
Cuối thế kỷ 20, tác phẩm“Mây lượng tử“ (“QuantumCloud”) của nhà điêu
khắc Antony Gormleyđược hoàn thành năm1999 vừakịp để được đặt dựngkế
công trình kiến trúcMillenium Dome tại London, đánhdấu con ngườibước vào
ngưỡng cửa của thế kỷ 21.Thuyết lượng tử đã làm cuộccách mạngkhoa học ở thế
kỷ 20 và cũng sẽ mangđến những ứng dụngvà ảnh hưởng tolớn cho thế kỷ hiện
nay củachúng ta.Nghệ thuật và khoahọc khôngbao giờ gặp nhau trong tư tưởng
chăng? Vật lý lượng tử đã chứng tỏ điều này sai và khôngcó cơ sở. Khoa họcgia và
người nghệ sĩ là bạn đồng hành trên con đường tiếp cận với thế giới hiện thực, tìm
tri thứccùng khai phá sáng tác và làm cuộcsống tâmthức con người có ý nghĩa.