MỤC LỤC
I . VÀI NÉT VỀ GIA TĂNG CƠ GIỚI
1. Khái niệm
2. Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình di dân
3. Các đặc trưng của vấn đề di cư
4. Các hình thức di dân
II. CÁC ĐẠI LƯỢNG CỦA GIA TĂNG CƠ GIỚI:
1. Tỉ suất nhập cư
2. Vấn đề xuất cư
3. Mối quan hệ giữa tỉ suất nhập cư, tỉ suất xuất cư - Tỉ suất gia tăng cơ giới
4. Tổng số người di cư
5. Biến động cơ học
6. Tỉ suất di cư tổng cộng
III . CÁC LUỒNG DI CƯ TRÊN THẾ GIỚI
1. Từ thời xa xưa đến hết TK XX
2. Hiện nay
a. Giữa các nước phát triển
b. Giữa các nước đang phát triển và phát triển
c. Giữa các nước đang phát triển
IV. MỐI QUAN HỆ GIỮA GIA TĂNG TỰ NHIÊN VÀ GIA TĂNG CƠ
GIỚI
1
I . VÀI NÉT VỀ GIA TĂNG CƠ GIỚI:
1, Khái niệm:
Sự biến động dân số không chỉ do quá trình gia tăng tự nhiên liên quan
trực tiếp đến quá trình sinh ra và mất đi của con người, mà còn do tác động của
gia tăng cơ giới gắn với sự thay đổi dân số theo không gian lãnh thổ.
Theo Liên Hợp Quốc: Gia tăng cơ giới là sự di chuyển của dân cư từ một
đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm tạo nên một nơi cư trú
mới trong một thời gian nhất định.
Có hai bộ phận cấu thành của một quá trình di dân là nhập cư và xuất cư.
của quá trình di dân là: dân cư sẽ chuyển từ nơi có đời sống thấp đến nơi có đời
sống cao hơn, từ vùng có điều kiện tự nhiên khó khăn đến vùng thuận lợi hơn;
quá trình di dân ngày càng mạnh theo sự phát triển ngày càng cao của kinh tế,
KHKT…, từ vùng có chính trị bất ổn đến nơi ổn định hơn.
Ngoài ra còn các nguyên nhân khác liên quan đến vấn đề tình cảm, hôn
nhân…
3
Khi nghiên cứu quá trình di dân, cần quan tâm nhiều đến các nguyên
nhân xã hội và coi đây là những tác nhân chủ yếu của quá trình di dân. Hay nói
cách khác: nguyên nhân chính dẫn đến quá trình di dân là những biến động xã
hội, nó tác động đến những khía cạnh khác nhau của đời sống kinh tế, văn hóa,
xã hội của cộng đồng dân cư đó.
3, Các đặc trưng của vấn đề di cư:
Về mặt giới tính: nam có khả năng di cư nhiều hơn nữ vì nam có sức
khỏe hơn và ít bị chi phối về yếu tố gia đình.
Về độ tuổi: từ 15 – 45 tuổi có khả năng di cư nhiều nhất vì có sức khỏe,
năng lực, trình độ tốt nhất để di chuyển; dưới 15 tuổi không có khả năng di
chuyển; trên 45 tuổi đã ổn định cuộc sống nên ngại di chuyển.
Về nghề nghiệp: những người có nghề kĩ thuật có khả năng di chuyển cao
hơn các nghề khác do đặc thù công việc: xây dựng, giao thông…
Về trình độ lao động: những người có trình độ lao động cao khả năng di
cư lớn, họ sẽ có nhiều cơ hội tìm việc làm tốt và thu nhập cao hơn so với những
người có trình độ hạn chế.
4, Các hình thức di dân:
Có nhiều cách thức để phân loại các hình thức di dân tùy thuộc vào mục
đích di dân, phạm vi di dân, mô hình di dân và cách thức tiến hành;
- Theo nguyên nhân di dân:
+ Di dân vì lí do kinh tế
4
+ Di dân vì chiến tranh
giải. Các quốc gia tiếp nhận người nhập cư phải giải quyết mâu thuẫn: các quốc
gia này cần người nhập cư để giải quyết nhu cầu về nhân lực cho sự phát triển
kinh tế, đồng thời phải có chính sách bài bản về quản lý và hội nhập người nhập
cư hợp pháp và đấu tranh chống nạn nhập cư bất hợp pháp.
Trong các lý do giải thích hiện tượng nhập cư, yếu tố kinh tế bao giờ
cũng đóng vai trò quan trọng hàng đầu, hầu hết người nhập cư đều đến từ các
nước nghèo. Họ vẫn sẵn sàng chấp nhận rủi ro để có cuộc sống tốt hơn và có
tiền tiết kiệm gửi về nhà.
6
Esanvando một quốc gia Trung Mỹ hiện có khoảng 2,5 triệu người đang cư
trú ở Mỹ. Năm 2007 lượng kiều hối mà người dân nước này gửi về gần 3,7 tỉ
USD, chiếm 18,1% GDP và 92,8% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Goatemala là 1 quốc gia Trung Mỹ khác hiện có khoảng 1,2 triệu người đang
cư trú ở nước ngoài, trong đó 90% ở Mỹ và 60% trong số đó là bất hợp pháp.
Lượng kiều hối gửi về nước năm 2007 là 4,22 tỷ USD là nguồn thu ngoại tệ lớn
thứ 2 sau xuất khẩu.
Mêxico cũng thu được 20 tỉ USD kiều hối trong năm 2007 góp phần tích
cực vào sự phát triển kinh tế đất nước.
Bên cạnh cải thiện kinh tế gia đình và đất nước, người nhập cư cũng góp
phần thỏa mãn nhu cầu về nhân lực ở nước sở tại đặc biệt ở các nước dân số
giảm và già hóa. Viện nghiên cứu kinh tế Đức cho biết, nếu dân số vẫn giảm
theo tình trạng này thì đến năm 2050 dân số Đức chỉ còn 76 triệu người (so với
80 triệu người hiện nay). Bên cạnh đó đến năm 2050 dân số Đức trên 80 tuổi là
11 – 12 triệu người dẫn đến tình trạng thiếu nhân lực trầm trọng buộc chính phủ
phải có chính sách nhập cư hiệu quả. Nga cũng chung tình trạng với Đức, dự
kiến 45 năm nữa dân số Nga sẽ giảm 22% dẫn đến mất hơn 40% lực lượng lao
động gây khó khăn cho kinh tế.
2. VẤN ĐỀ XUẤT CƯ:
Tỉ suất xuất cư:
Khái niệm:
NMR: tỷ suất tăng cơ giới
I: số người nhập cư
O: số người xuất cư
P: dân số trung bình năm
- Tỷ suất gia tăng cơ giới có 3 trường hợp:
• Tỷ suất GTCG = 0: tỷ suất xuất cư = tỷ xuất nhập cư, quy mô dân số ổn
định.
• Tỷ suất GTCG > 0: tỷ suất nhập cư > tỷ suất xuất cư, quy mô dân số
tăng.
• Tỷ suất GTCG < 0: tỷ suất nhập cư < tỷ suất xuất cư, quy mô dân số
giảm.
Công thức này thể hiện rõ nhất quy mô dân số dân số thế giới, quốc gia
hoặc vùng lãnh thổ. Quy mô đó có thể lớn hoặc nhỏ tùy thuộc và lượng người
xuất cư và nhập cư.
4. TỔNG SỐ NGƯỜI DI CƯ:
- Công thức: tổng số người di cư = số người nhập cư + số người xuất cư.
Đơn vị: người, ngàn người, triệu người.
Thế giới có khoảng 200 triệu lao động di cư, năm 2010 Liên Hiệp Quốc vừa
ra báo cáo kêu gọi cộng đồng quốc tế hành động bảo vệ quyền của 200 triệu lao
động di cư trên khắp thế giới. Báo cáo nêu rõ phần lớn những đối tượng này
đang phải chịu đựng các hình thức bảo hành về thể chất và tinh thần, bị quấy rối
tình dục, giam cầm và cưỡng bức.
9
Theo công bố của diễn đàn lao động di cư ASEAN lần 3 được tổ chức 2
ngày 19 và 20/7/2010 ở Hà Nội, khối ASEAN có khoảng 15 triệu lao động di
cư. Theo văn phòng Tổ Chức lao động quốc tế khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương, lao động di cư trong ASEAN khoảng 5,9 triệu người.
5. BIẾN ĐỘNG CƠ HỌC:
- Công thức: biến động cơ học = số người nhập cư – số người xuất cư
- Biến động cơ học có 3 trường hợp:
đất này, đó là nhu cầu cần và đủ để loài người tồn tại và phát triển cho đến ngày
hôm nay. Di cư đáp ứng những nhu cầu cần thiết trong cuộc sống của loài
người từ nhu cầu về nơi cư trú, không gian sinh hoạt, không gian sản xuất,
không gian làm việc…của con người. Di cư là một vấn đề có phạm vi rộng lớn
và ảnh hưởng đến toàn thế giới, có 3 hình thức chuyển cư:
• Chuyển cư tiềm tàng: là dòng chuyển cư có quy mô lớn do các sự kiện có
tính chất thế giới thường là giữa các châu lục và khu vực.
11
Vd: Chuyển cư ở thế kỷ 15, 16 do phát hiện ra châu Mỹ và khai thác các
vùng đất nước. Có các dòng người từ châu Âu sang làm ông chủ, dòng người từ
châu Phi sang làm nô lệ.
Vd: chuyển cư do bệnh dịch hoành hoành : Châu Âu sang Châu Á, Châu
Phi làm thay đổi kết cấu dân số, chủng tộc.
• Chuyển cư cá nhân: do mục đích của cá nhân có thể chuyển từ châu lục
này sang châu lục khác, nước này sang nước khác, vùng này sang vùng khác…
• Chuyển cư do sự phân công lao động xã hội: do hoạt động ở tổ chức
chính phủ, ngoại giao, phóng viên, hoạt động ở các tở chức phi chính phủ như
hoạt động nhân đạo, cứu trợ xã hội….
1, Từ thời xa xưa đến hết TK XX:
Theo những tư liệu có được các nhà khoa học đã khẳng định rằng các
cuộc di cư nguyên thủy bắt đầu từ thời đồ đá cũ. Quá trình di dân liên tục là
hiện tượng tự nhiên và bình thường trong sinh hoạt kinh tế, xã hội của những bộ
lạc săn bắt và hái lượm. Ở trình độ phát triển thấp kém của sự phát triển, lực
lượng sản xuất trước nhu cầu cấp thiết đã phải tìm những vùng đất rộng lớn để
nuôi sống những người trong bộ lạc. Do sự phát triển một cách tự nhiên ở
những vùng thuận lợi hơn đã dẫn đến các đợt di dân ồ ạt của người nguyên
thủy, nó phát triển phù hợp với sự phát triển của thời nguyên thủy, dấu ấn của
những đợt di dân đó cho đến nay chỉ còn lưu lại trong mối liên hệ về ngôn ngữ
của các dân tộc.
Từ xa xưa các nhà sử học đã quan tâm đến vấn đề di cư và được phản ánh
13
000.000 dân, châu Đại Dương 2 000.000 nghĩa là chỉ mới chiếm chưa đầy 0,2%
- 2,3% và 0,4% nhưng hiện nay dân số ở các châu lục này đã tăng lên hàng
chục, hàng trăm lần, đó là kết quả của những cuộc chuyển cư khổng lồ thời cận
đại.
Thứ hai là các đợt dịch bệnh thế kỉ mang tầm châu lục như nạn dịch hạch
ở châu Âu…cũng đã làm cho dân cư ở khu vực này di chuyển đế nơi cư trú
mới.
Cho đến trước Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 vẫn là các luồng di cư chủ
yếu từ châu Âu sang khu vực Bắc Mĩ đó là sự di chuyển của những người có
trình độ cao như các nhà bác học, khoa học do chính sách đãi ngộ của Hoa Kì
và tình hình xã hội bất ổn ở khu vực Tây Âu. Tiếp theo là các luồng di cư cũng
từ châu Âu sang khu vực Mĩ La Tinh, sang châu Phi, châu Á…do các cuộc xâm
chiếm và khai thác thuộc địa của các nước đế quốc lớn đã góp phần tác động
đến bức tranh phân bố dân cư trên thế giới.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 các đợt di dân từ châu Âu sang Bắc Mĩ
và các nước thuộc địa và phụ thuộc vẫn tiếp tục diễn ra cho đến hết thập kỉ 70
của TK XX. Khi các nước thuộc địa và phụ thuộc dành được độc lập, hệ thống
các nước thuộc địa và phụ thuộc của các nước đế quốc tan rã, đã có nhiều biến
động lớn xảy ra trong quá trình chuyển cư giữa 2 hệ thống các quốc gia này, lại
một lần nữa làm thay đổi sự phân bố dân cư trên thế giới.
2, Hiện nay:
Dưới tác động của xu thế Toàn cầu hóa, Khu vực hóa hiện nay, quá trình
di cư đã và đang diễn ra hết sức sôi động với nhiều luồng, đợt di cư với quy mô
và cường độ khác nhau trên phạm vi toàn thế giới.
14
Nhìn chung di dân trên thế giới hiện nay có một vài đặc điểm chính sau
đây:
Khoảng 1/3 số người di dân từ các nước đang phát triển đến các nước
đang phát triển khác, và 1/3 di cư đến các nước phát triển.
Di dân giữa các nước phát triển diễn ra theo 2 hướng chính: từ các nước
châu Âu sang khu vực Bắc Mĩ, di dân theo hướng này phần lớn là những người
có trình độ cao như các nhà khoa học và sinh viên học tập, các hoạt động ngoại
giao hay làm việc trong các tổ chức phi chính phủ…; và nội bộ các nước châu
Âu với nhau (liên minh châu Âu – EU) chủ yếu do công việc.
b. Giữa các nước đang phát triển và phát triển:
Sự di chuyển của dân cư từ các nước đang phát triển đến các nước phát
triển chủ yếu do mục đích kinh tế (XKLĐ) và một phần nhỏ các mục đích khác
như học tập, nghiên cứu khoa học, ngoại giao…Còn sự di chuyển theo hướng
ngược lại do sự hợp tác kinh tế quốc tế, chuyển giao khoa học công nghệ,
chuyên gia trợ giúp kĩ thuật cho các nước đang phát triển. Theo hướng này chủ
yếu tứ cac nước châu Âu, Bắc Mĩ đến khu vực Mĩ La Tinh, châu Á, châu Phi…
16
Giữa các nước đang phát triển: di dân chủ yếu trong nội bộ khu vực hoặc
châu lục, do các mục đích kinh tế như XKLĐ, những người di cư phần lớn có
trình độ phổ thông, còn hạn chế về trình độ KHKT và công nghệ cao.
c. Giữa các nước đang phát triển:
Di cư giữa các nước châu Á: trong gần 1 tỉ người di cư trên thế giới có
740 triệu người di cư nội địa, gấp gần 4 lần số người di cư quốc tế. Di cư giữa
các nước châu Á chiếm gần 20% tổng số người di cư quốc tế. Khoảng 7% tổng
số người di cư tị nạn sống bên ngoài biên giới nước mình.
Lao động di cư đến vùng Vịnh: những năm qua vùng Vịnh trở thành một
khu vực di cư đặc biệt ưa thích. Làn sóng người nước ngoài đến đây không
ngừng tăng lên, đạt mức kỉ lục thế giới. Trong số 6 nước thuộc Hội đồng hợp
tác vùng vịnh , 60% lực lượng lao động là người nước ngoài. Ở Quata là 90%,
CTVQ Arap thống nhất là 89%, Cooet la 80,4%, Oman là 70%, Arap Xeut là
40%. Trong đó Arap Xeut tiếp nhận nhiều nhất 6 triệu người trong tổng số 28,1
triệu lao động (chưa tính người di cư bất hợp pháp).
Di cư trong nội bộ ASEAN: lao động di cư trong ASEAN chiếm 9% tổng
dân số toàn cầu, 40% người di cư ASEAN di chuyển trong phạm vi ASEAN
đủ tình hình biến động dân số của 1 quốc gia, 1 vùng lãnh thổ. Trên phạm vi
toàn thế giới tỷ suất gia tăng dân số chủ yếu phụ thuộc vào gia tăng tự nhiên.
18
Trong từng nước, tùy vùng và từng kỳ nhất định, tỷ suất gia tăng dân số phụ
thuộc vào cả gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học.
Mặc dù tỉ suất gia tăng dân số bao gồm hai bộ phận cấu thành song động
lực phát triển dân số chính là gia tăng tự nhiên.
Gia tăng tự nhiên là động lực chính để thay đổi dân số thế giới là động
lực duy nhất thay đổi quy mô dân số thế giới, các giá trị của gia tăng tự nhiên
có thể chia thành 3 trường hợp:
- GTTN > 0: quy mô dân số tăng
- GTTN < 0: quy mô dân số giảm
- GTTN = 0: quy mô dân số không đổi.
Hiện nay gia tăng tự nhiên trên thế giới có xu hướng giảm năm 2005 là
1,5% đến năm 2009 là 1,2%.
Gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ giới là động lực thay đổi dân số thế giới
cả về chất ( cấu trúc dân số) và về lượng (quy mô dân số) tạo nên đại lượng gia
tăng dân số.
Công thức:
• Tỷ suất GTDS = tỷ suất GTTN + tỷ suất GTCG (1)
Hoặc: Tỷ suất GTDS = (tỷ suất sinh – tỷ suất tử) + (tỷ suất nhập – tỷ suất
xuất)
Công thức (1) cho biết động lực gia tăng dân số đó là tỷ lệ sinh, tử, tỷ lệ
người nhập, xuất cư.
19
• Cho biết số lượng người ở các thời điểm khác nhau:
Thời điểm T1 – dân số P1
Thời điểm T2 – dân số P2
Tỷ lệ GTDS= × 100 ( đơn vị: %) (2)
Công thức (2) không cho biết động lực gia tăng dân số mà chỉ cho biết số