Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
-49-
Ngày 21/04/2006 trả 40 triệu đồng
Ngày 21/05/2006 trả 20 triệu đồng
Ngày 30/06/2006 trả 60 triệu đồng
Yêu cầu: Hãy tính số tiền lãi mà xí nghiệp M phải trả cho NHTM Y theo
phương pháp lãi đơn.
Giải:
Cách 1: Ta có: I
đ
=
∑
=
m
1 j
D
j
.n
j
.i
= (10%/360).(120.20 + 80.30 + 60.40)
= 2 triệu đồng
Cách 2: Ta có: I
đ
=
∑
=
m
1 j
j
.n
j
D
=
∑
=
m
1 j
n
j D
j
: Số dư nợ phát sinh tại thời điểm j
n
j
: Thời gian tồn tại số dự nợ D
j
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
-50-
∑
=
m
1 j
=
m
1 j
n
j
=
90
= 94,89 triệu đồng
Ta có: I
đ
= D.i
k
= 94,89.5% = 4,74 triệu đồng
Vậy số lãi mà Doanh nghiệp C phải trả cho NHTM Z trong quý I năm 2007 là
4,74 triệu đồng
2. Lãi kép
Nếu lãi của một khoản vốn vay nào đó được cộng vào vốn gốc để tính lãi cho
kỳ tiếp theo và cứ như vay cho đến kỳ hạn cuối cùng của thời hạn đầu tư thì số lãi đó
gọi là lãi kép.
Công thức
I
k
= V[(1 + i)
n
- 1]
Chú thích: I
k
: Số lãi kép
V: Số vốn ban đầu
ngân hàng vá sự ra đời một ngân hàng hoàn chỉnh kéo dài hàng nghìn năm, bắt đầu từ
hoạt động ngân hàng sơ khai vào khoả
ng 3500 năm TCN cùng với sự khởi đầu của các
thiết chế tổ chức xã hội. Có thể chia quá trình phát triển ngân hàng phát triển thành các
giai đoạn chủ yếu sau:
1.1. Thời kỳ hoạt động các ngân hàng sơ khai
Từ năm 3500 TCN đến 1800 TCN là giai đoạn của các ngân hàng sơ khai.
Nghiệp vụ ban đầu của nghề kinh doanh tiền tệ là nhận giữ tiền vàng và các tài sản có
giá trị khác được thực hiện bởi các nhà thợ vàng, các lãnh chúa, nhà th
ờ. Người gửi
tiền được nhận lại một tờ biên lai làm căn cứ để xác định quyền sở hữu và trả lệ phí
gửi tiền.
Dần dần những người gửi tiền nhận ra rằng thay vì sử dụng tiền kim loại vốn
khó bảo quản và vận chuyển khó khăn, họ có thể sử dụng các loại giấy chứng nhận
quyền sở h
ữu vàng để thanh toán. Người nhận các chứng thư này không gặp khó khăn
gì trong việc chuyển chúng sang tiền mặt. Việc thanh toán dễ dàng hơn nếu hai người
cùng gửi tiền ở một nơi. Đây là mầm mống đầu tiên của nghiệp vụ phát hành dấu hiệu
giá trị. Mặt khác những người nắm giữ tiền cũng nhận thấy rằng trong cùng một
khoảng thời gian có một số người đến đổi chứng thư lấy tiền, nhưng cũng có những
người khác lấy tiền vào. Sự bổ sung qua lại giữa lưu lượng gửi vào và rút ra làm xuất
hiện một lượng tiền nhàn rỗi trong kho. Điều này chứng tỏ những người thợ vàng giờ
đây chỉ cần dự trữ tiền mặt với một tỷ lệ nhất định so với tổng số tiền g
ửi, phần còn lại
có thể sử dụng để cho vay. Đến đây các ngân hàng đã bắt đầu tham gia vào quá trình
cung ứng tiền.
1.2. Giai đoạn từ thế kỷ V đến XVII
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
-53-
lớn các kỳ phiếu tách rời khỏi dự trữ vàng để cho vay, đ
iều này đe doạ dự trữ vàng và
khả năng chuyển đổi ra tiền mặt của các kỳ phiếu được phát hành. Vì tất cả các ngân
hàng đều có quyền phát hành tiền nên Nhà nước không thể kiểm soát được khối lượng
tiền trong lưu thông và càng không thể kiểm soát được tính chất đảm bảo của lượng
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
-54-
tiền lưu thông đó. Mặt khác, mỗi ngân hàng có quy mô hoạt động, uy tín và khả năng
ảnh hưởng khác nhau nên công chúng bắt đầu có sự lựa chọn kỳ phiếu được phát hành
bởi các ngân hàng khác nhau. Kết quả là, các kỳ phiếu do các ngân hàng lớn, có uy tín
phát hành dần dần chiếm lĩnh thị trường và đẩy kỳ phiếu của các ngân hàng nhỏ ra
khỏi lưu thông. Tình trạng này kéo dài gây sự bất ổn định trong lưu thông tiền tệ và
Nhà nước buộc ph
ải can thiệp nhằm thiết lập trật tự và sự thống nhất cho việc phát
hành tiền và đảm bảo an toàn cho các giấy chứng nhận nợ của ngân hàng. Kết quả của
sự can thiệp là chỉ còn có một số ngân hàng lớn được quyền phát hành tiền kèm theo
nghiệp vụ kinh doanh. Các ngân hàng khác chỉ được phép hoạt động kinh doanh tiền tệ
và tín dụng, không được quyền phát hành tiền. Chúng được quyền mở tài khoản va
thanh toán bù trừ thông qua ngân hàng phát hành ti
ền, biến ngân hàng phát hành thành
trung tâm thanh toán
2. Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương
2.1. Ngân hàng trung ương
2.1.1. Khái niệm
Ngân hàng trung ương (NHTW) là 1 định chế tài chính công cộng thực hiện
việc quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng.
2.1.2. Chức năng của ngân hàng
Ở hầu hết các nước đều có một NHTW thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, thực
hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ
tiêu của ngân sách khi số thu và số chi không cân đối về tiến độ. Việc ứng trước này
thường xảy ra trong quý đầu của năm ngân sách và sẽ được hoàn trả trong những quý
sau khi ngân sách bội thu.
- Ứng trước bất thườ
ng: Là hình thức nhằm tài trợ cho những nhu cầu chi tiêu
đột xuất trong năm ngân sách mà chưa lường trước trong kế hoạch ngân sách.
- Ứng trước thường xuyên: Số ứng trước có tính chất thường xuyên trong cả
năm ngân sách do sự sai biệt giữa tổng số thu luỹ kế và tổng số chi luỹ kế của từng
thời điểm trong năm.
Số tiền ứng trước này được Ngân hàng trung ương chuyển cho Kho Bạc Nhà
Nước và qua đó làm tăng lượng tiền cung ứng. Một số chính phủ có thoả thuận về số
tiền tối đa mà Ngân hàng trung ương có thể ứng trước cho Kho bạc NN. Chẳng hạn
trước đây ở Pháp, số tiền ứng trước thường xuyên tối đa là 50 tỷ FF, số tiền ứng trước
tạm thời và bất thường tối đa là 200 tỷ FF. Số tiền ứng trướ
c tạm thời và bất thường
được hoàn trả sau 3 tháng nếu không được gia hạn.
Ở Việt Nam, theo luật Ngân hàng Nhà nước hiện hành, “Ngân hàng Nhà nước
tạm ứng cho ngân sách trung ương để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà nước
theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Khoản tạm ứng này phải được hoàn trả
trong năm ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quyết định”. (Điề
u 32,
mục 3, chương 3).
* Phát hành tiền tệ qua kênh ngân hàng trung gian
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
-56-
Ngân hàng trung ương gia tăng lượng tiền tệ cung ứng qua ngõ ngân hàng trung
gian bằng phương pháp tái cấp vốn tức cho các Ngân hàng trung gian vay lại trên cơ
sở các hoạt động cấp tín dụng mà các Ngân hàng trung gian đã thực hiện trước đó.
Ở Việt nam, hoạt động tái cấp vốn của NHTW được thực hiện theo những hình
-57-
Trong trường hợp này NHTW là người cho vay cuối cùng. NHTW cấp tín dụng
dưới nhiều hình thức như cho vay, mua bán, chiết khấu, trái chiết khấu đối các giấy tờ
có giá.
- NHTW nhận tiền gởi và bảo quản tiền tệ cho NHTM, các tổ chức tín dụng.
NHTM phải duy trì một mức dự trữ nhất định để đảm bảo khả năng thanh toán. Dự trữ
đó bao gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiề
n gởi tại NHTW và các Ngân hàng khác. Bất kỳ một
NHTM nào cũng đều phải mở tài khoản và gởi tiền tại NHTW. Tiền gởi đó gồm 2
loại:
+ Tiền gởi dự trữ: Được xác định theo tỷ lệ % trên nguồn vốn huy động mà
NHTM và không được hưởng lãi. Theo pháp lệnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10 - 35%.
+ Tiền gởi thanh toán nhằm phục vụ nhu cầu thanh toán giữa các Ngân hàng
vớ
i nhau.
- NHTW là người tổ chức và trở thành trung tâm thanh toán giữa các NHTM.
Trên cơ sở tiếp nhận tiền gởi và cho vay NHTW đương nhiên trở thành trung tâm
thanh toán của toàn bộ hệ thống Ngân hàng, có như vậy thì chu chuyển thanh toán của
nền kinh tế NHTW đứng ra tổ chức thanh toán bù trừ hoặc thanh toán từng lần giữa
các Ngân hàng. Trong đó "thanh toán bù trừ" sẽ là phương thức thanh toán chủ yếu để
đẩy nhanh tốc độ thanh toán trong nền kinh tế.
- Ngoài ra NHTW còn thành lập trung tâm phòng ngừa rủi ro hay trung tâm
thông tin tín dụng.
2.1.2.3 Là ngân hàng của Nhà nước
Là một định chế tài chính công cộng NHTW được xác định ngay từ thời khai
sinh là Ngân hàng của Chính phủ. Các giao dịch tiền tệ của Chính phủ trong và ngoài
nước thường phải thông qua NHTW. Điều này thể hiện:
- NHTW thuộc sở hữu của Nhà nước.
- Ban hành các văn bản pháp quy theo thẩm quyền của mình về tiền tệ, tín
kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống
nhân dân.
2.2.2. Mục tiêu
- Ổn định tiền tệ, ổn định giá cả, ổn định tỷ giá hối đoái: thực chất các mục tiêu
này là kiểm soát lạm phát để bả
o vệ giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiền quốc gia.
Đây là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ. Muốn ổn định và thúc đẩy tăng
trường kinh tế cần phải khuyến khích mở rộng đầu tư bằng cách khai thác các nguồn
vốn tiềm năng trong nước và ngoài nước.
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
-59-
- Ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: đây là mục tiêu cơ bản và tất yếu của
chính sách tiền tệ. Muốn ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần khuyến khích mở
rộng đầu tư bằng nguồn vốn trong và ngoài nước.
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động, ổn định trật tự xã hội: cùng với
mục tiêu ổn định và tă
ng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ cần phải hướng đến một
mục tiêu quan trọng là tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo điều kiện để ổn
định trật tự xã hội.
2.2.3. Các chính sách tiền tệ
- Chính sách tiền tệ thắt chặt: là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế, nhằm
hạn chế đầu tư, ngăn chặn sự phát triển quá đà c
ủa nền kinh tế và kìm chế lạm phát.
- Chính sách tiền tệ nới lỏng: là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, nhằm
khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm.
2.2.4. Các công cụ của chính sách tiền tệ
2.2.4.1. Lãi suất
Lãi suất là giá cả quyền sử dụng vốn, việc thay đổi lãi suất kéo theo sự biến đổi
2.2.4.3. Kiểm soát tín dụng chọn lọc
Kiểm soát tín dụng chọn lọc là giới hạn mức tín dụng tối đa cấp cho những
ngành nào mà Nhà nước không muốn phát triển nữa, ngược lại ưu đãi những ngành
hoạt động được coi là ưu tiên, cần yểm trợ. Nếu không có chính sách kiểm soát tín
dụng chọn l
ọc, các ngân hàng trung gian sẽ chỉ hướng tín dụng vào những ngành kinh
doanh lớn, ít chú trọng đến những ngành hoạt động có lợi ích xã hội.
2.2.4.4. Thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng trung gian.
Việc thực hiện dự trữ bắt buộc của NHTW nhằm mục đích giới hạn khả năng
cho vay của ngân hàng trung gian, đảm bảo an toàn tiền gửi của khách hàng, duy trì
khả năng thanh toán của các ngân hàng trung gian và t
ạo sự lệ thuộc của ngân hàng
trung gian đối với NHTW, để NHTW có thêm quyền lực điều khiển hệ thống ngân
hàng.
Khi ấn định một mức dự trữ bắt buộc thấp, NHTW muốn khuyến khích các
ngân hàng trung gian mở rộng mức cho vay của họ, sẽ làm gia tăng khối tiền tệ.
Ngược lại, khi nâng cao mức dự trữ bắt buộc, NHTW muốn giới hạn khả năng c
ủa
ngân hàng trung gian, sẽ làm giảm thiểu khối tiền tệ.
2.2.4.5. Biện pháp chiết khấu và tái chiết khấu.
NHTW sẽ cấp tín dụng cho ngân hàng thương mại (NHTM) qua nhiều hình
thức, thông dụng nhất là hình thức chiết khấu và tái chiết khấu các thương phiếu. Khi
chấp nhận chiết khấu hay tái chiết khấu là NHTW đã làm tăng khối tiền tệ.
Thông qua lãi suất tái chiết khấu, NHTW có thể tác động làm giảm hoặc tăng
cung ứng tín dụng của NHTM đối với nền kinh tế, đồng thời làm tăng hoặc giảm mức
cung ứng tiền bằng cách nâng cao hoặc hạ thấp lãi suất chiết khấu.
2.2.4.6. Nghiệp vụ thị trường mở
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
-61-
ngân hàng Nhà nước Việt Nam và bên ngân hàng c
ủa nước ngoài có trụ sở tại Việt
Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
- Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài: Là ngân hàng được thành lập theo pháp
luật nước ngoài. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là cơ sở của ngân hàng nước ngoài
tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
-62-
* Nếu đứng trên giác độ chung có các loại NHTM sau đây:
- Ngân hàng độc lập: Là một doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền tệ, có khả
năng mở chi nhánh ngân hàng. Việc mở chi nhánh phụ thuộc vào tiềm lực tài chính
quốc gia.
- Ngân hàng chi nhánh: Không phải là một doanh nghiệp, nhưng vẫn thực hiện
hạch toán giống như một doanh nghiệp do chịu sự phân cấp quản lý, phân cấp tài
chính của xã hội độc lập, tạo ra quyền hạn cho các ngân hàng chi nhánh.
- Ngân hàng
đại lý: Làm đại lý song phương, thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Cung cấp các dịch vụ cho nhau
+ Thực hiện chia sẻ một phần khách hàng
+ Làm tư vấn cho nhau về đầu tư
+ Cung cấp thông tin và trợ giúp cho nhau về kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng.
- Ngân hàng tổng hợp - Ngân hàng chuyên doanh:
Ngân hàng chuyên doanh chỉ được phép kinh doanh một hay vài lĩnh vực dịch
vụ.
Ngân hàng tổng hợp cùng một lúc nó có thể thực hiện kinh doanh nhiều lĩnh
vực. Ở
Việt Nam, phát triển theo xu hướng ngân hàng tổng hợp, tạo điều kiện cho hệ
thống ngân hàng trong nước phát triển dễ dàng hơn trong quá trình liên kết hợp tác với
các ngân hàng nước ngoài và phù hợp với tiềm lực tài chính Việt Nam.
hoặc chi tiêu, thanh toán.
+ Đối với NHTM: Sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho
vay, lãi suất huy động hoặc hoa hồng môi giới.
Khi thực hiện chức năng làm làm trung gian tín dụng, NHTM đã huy động triệt
để được các khoản vốn nhàn rỗi, điều hòa từ nơi thừa đến nơi thi
ếu. Kích thích quá
trình luân chuyển vốn của toàn xã hội và thúc đẩy quá trình tái sản xuất của các doanh
nghiệp.
Ngày nay có thể nói mọi quan hệ kinh tế xã hội của loài người đều thông qua
quan hệ tiền tệ và chủ yếu là thông qua hoạt động của hệ thống Ngân hàng, bên cạnh
hoạt động của các tổ chức phi Ngân hàng.
3.3.2. Chức năng trung gian thanh toán
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán NHTM cung cấp các phương tiện
thanh toán cho nền kinh tế, tiết kiệ
m chi phí lưu thông và nâng cao khả năng tín dụng.
Việc mở tài khoản, cung cấp và quản lý các phương tiện thanh toán làm cho
NHTM trở thành một trung tâm thanh toán của nền kinh tế. NHTM sẽ thừa lệnh khách
hàng thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ ngân quỹ của khách hàng. Giúp cho khách hàng
và nền kinh tế chu chuyển vốn nhanh, an toàn và tiết kiệm.
Với chức năng trung gian thanh toán cũng cho phép NHTM tạo ra bút tệ để mở
rộng quy mô tín dụng.
Việc hệ thống NHTM thực hiện chức năng trung tâm thanh toán mang một ý
nghĩa rất to lớn:
+ Trước hết đối với nền kinh tế, hệ thống Ngân hàng sẽ cung cấp nhiều công cụ
thanh toán tiện ích như thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, thẻ rút tiền, ngân phiếu, uỷ nhiệm
chi, ủy nhiệm thu
+ Thứ hai khi sử dụng phương thức thanh toán, bản thân các chủ thể kinh tế sẽ
tiết kiệm được rất nhiều chi phí lao động, thời gian, l
ại an toàn. Hệ thống NHTM lại
tích tụ được một số vốn khổng lồ để có thể mở rộng khả năng tín dụng.
Nếu khách hàng thụ hưởng C mở TK tại Ngân hàng Y thì tình hình tại Ngân
hàng Y sẽ là :
TS Có Ngân hàng Y TS Nợ
Tiền gửi tại NHTW: 9tr TG của khách hàng C:9tr
Trên số tiền ký gửi nhận được, Ngân hàng Y gửi lại tỷ lệ dự trữ bắt buộc 10%
còn lại cho khách hàng D vay để trả nợ cho E bằng séc và E mở TK tại Ngân hàng Z
TS Có Ngân hàng Y TS Nợ
Dự trữ bắt buộc: 0.9tr TG của khách hàng C :9tr