LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường dầu mỏ thế giới trong bốn thập niên qua đã trải qua những cuộc
khủng hoảng nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng lần thứ nhất xảy ra vào thập
niên 70 của thế kỷ 20. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ hai xuất hiện khi
Iran và Irắc xung đột với nhau năm 1982. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ
ba nổ ra khi Irắc tấn công Cô oet năm 1991; và có thể coi các năm 2004,
2005, 2006 là những năm diễn ra “các cuôc khủng hoảng ” lần thứ 4, thứ 5
rồi thứ 6 mà nguyên nhân chính là do những bất ổn chính trị (chiến tranh,
hoạt động khủng bố, đình công, bãi công, sự đối đầu giữa Mỹ và các
nước ), những đột biến của thiên tai ở các nước xuất khẩu dầu thô như:
Nigêria, Nauy, Iran, Irắc, Vênêduyêla, Êcuađo làm cho nguồn cung ứng
không ổn định, cung không đáp ứng được nhu cầu tăng nhanh của các nền
kinh tế thế giới – nhất là các quốc gia có nền kinh tế phát triển như: Mỹ, EU,
Trung Quốc Những cuộc khủng hoảng đó liên tục đẩy giá dầu tăng nhanh,
mạnh và hiện ở mức rất cao so với trước đây. Có những thời điểm giá dầu
thô (WTI) đã tăng tới những mức cao chưa từng có với mức giá gần
80USD/thùng, tăng 27 lần so với thập niên 60 của thế kỷ 20. Giá xăng dầu
đã tác động mạnh đến các nền kinh tế trên thế giới: đối với các nước xuất
khẩu dầu thì túi tiền của họ ngày càng đầy thêm, nhưng đối với các nước
xuất nhập khẩu dầu – nhất là các nươc có đồng nội tệ không ổn định hoặc
nền kinh tế kém phát triển, tăng trưởng chậm thì lao đao, điêu đứng. Theo
thống kê, trong những năm 50, 60 của thế kỷ 20, với giá dầu thấp (1,8
USD/thùng), tăng trưởng kinh tế của 7 nước phương Tây đạt tốc độ 6%-7%
mỗi năm. Nhưng khi xảy ra cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất, giá dầu
mỏ tăng, thì tốc độ tăng trưởng kinh tế tụt xuống chỉ còn 3,2%/năm.
Thực trạng giá dầu tăng như hiện nay dấy lên nhiều mối quan tâm đến tác
động của nó đối với nền kinh tế. Trên thực tế đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu bàn về tác động của giá dầu như: “Impact of oil price on trade in
APEC” do Nhóm nghiên cứu ABARE và Tổ chức bàn về vấn đề Năng
lượng của APEC vào tháng 10/2005, “The impact of Higher oil prices on
low income countries and on the Poor” do UNDP/ESMAP (United Nations
- Chương1: Tổng quan chung về thị trường dầu mỏ thế giới và vai trò tầm
quan trọng của dầu mỏ đối với nền kinh tế Việt Nam.
- Chương II: Tác động của giá dầu mỏ tăng tới hoạt động thương mại và đầu
tư tại Việt Nam.
2
- Chương III: Các biện pháp nhằm phát triển hoạt động thương mại Việt
Nam trước tình hình giá dầu mỏ ngày càng tăng cao.
Bài luận văn của em chưa thể đánh giá được đầy đủ và chính xác tác động
của giá dầu tăng đối với hoạt động thương mại và đầu tư. Mặc dù đã có
nhiều cố gắng song khoá luận cũng không thể tránh được những thiếu sót,
em mong nhận được sự thông cảm của các thầy cô giáo. Em xin chân thành
cảm ơn thầy giáo Hoàng Xuân Bình, người đã tận tình giúp đỡ em hoàn
thành bài luận văn này. Em xin chân thành cảm ơn khoa Kinh tế ngoại
thương đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành bài luận văn
này.
3
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ THẾ
GIỚI VÀ VAI TRÒ TẦM QUAN TRỌNG CỦA DẦU MỎ
ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
I. NHỮNG BIẾN ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ THẾ
GIỚI
1. Giới thiệu chung:
1.1. Tổng quan về xuất khẩu dầu mỏ của thế giới
Do việc phân bổ các nguồn tài nguyên dầu khí không đồng đều trên thế giới,
có nước trữ lượng rất lớn mà nhu cầu không nhiều, trong khi ở những nước
có nhu cầu rất lớn như Tây Âu thì trữ lượng lại quá nhỏ bé (dầu thô cả Tây
Âu mới chiếm 1,7% trữ lượng thế giới). Chính vì thế, việc xuất khẩu dầu khí
là hoạt động thường xuyên, liên tục và nó đã góp phần mang lại nhiều lợi
nhuận hơn trong tổng thu ngân sách của những nước xuất khẩu, đặc biệt là
4 Iran 2,74 10 Mexic 1,65
5 Venezuela 2,60 11 Libya 1,25
6 U.A.E 2,04 12 Algieria 1,24
U.A.E: Tiểu vương quốc Ảrập
(Nguồn: Kinh tế 2002 – 2003 Việt Nam và thế giới – Thời báo kinh tế Việt
Nam)
1.2. Tổng quan về nhập khẩu dầu mỏ của thế giới
Trên thế giới tài nguyên dầu mỏ chỉ tập trung nhiều hơn ở những nước mà
lượng tiêu thụ của chúng chưa cao. Trong khi đó, trữ lượng này lại quá khan
hiếm ở những nước mà nhu cầu ngày một tăng cao. Chính vì thế, để có thể
duy trì nền sản xuất cũng như nền kinh tế đất nước phát triển thì việc nhập
khẩu là một nhu cầu hết sức cần thiết. Điển hình trong số này là khu vực Tây
Âu, với trữ lượng khiêm tốn chỉ bằng 1,7% của thế giới, hàng năm khu vực
này phải nhập khẩu tới 9,9 triệu thùng/ngày.
Tuy nhiên nếu xét về tốc độ tăng nhập khẩu thì khu vực Châu á đứng ở vị trí
thứ nhất nhưng xét về khối lượng thì Châu Mỹ, Châu Âu vẫn là những khu
vực nhập khẩu lớn nhất.
5
Bảng I.2: Các nước nhập khẩu dầu lớn trên thế giới
STT Nước Tiêu thụ (triệu
thùng/ngày)
Nhập khẩu (triệu
thùng/ngày)
1 Mỹ 19,0 11,0
2 Nhật 5,5 5,3
3 Đức 2,8 2,5
4 Pháp 2,0 1,8
5 Ý 2,0 1,6
6 Trung Quốc 4,5 1,3
(Nguồn Kinh tế 2002 -2003 Việt Nam và thế giới – Thời báo kinh tế Việt
nhập khẩu trên dân số thì Nhật Bản lại xếp hàng đầu và với nhưng nếu xét
vể tỷ lệ nhập khẩu trên dân số thì Nhật Bản lại xếp hàng đầu.
+ Trung Quốc
Là nước có số dân lớn nhất thế giới với lượng tiêu thụ năng lượng đứng thứ
hai thế giới. Về dầu mỏ nói riêng, Trung Quốc là nước có nhu cầu tiêu thụ
đứng thứ 3 trên thế giới năm 2002 (sau Mỹ, Nhật Bản), thì năm 2003 lại
vươn lên vị trí thứ 2 thay thế vị trí của Nhật Bản. Theo dự đoán của EIA,
nhu cầu dầu thô của Trung Quốc se lên tới 10,9 triệu thùng/ngày và nhập
khẩu dầu lại tăng lên 7,5 triệu thùng/ngày và trở thành một nhân tố chính
tren thị trường dầu mỏ thế giới.
Do phải nhập khẩu dầu thô từ năm 1993, hiện nay Trung Quốc đang ra sức
đáp ứng đủ nhu cầu trong nước. Và trên thực tế, nước này vẫn có một số
lượng dầu thô khiêm tốn dành cho xuất khẩu. Bạn hàng lớn nhất của Trung
Quốc là Nhật Bản, sản lượng xuất khẩu vào Nhật Bản đầu năm 2003 khoảng
65.000 thùng/ngày, thấp hơn so với những năm 90, nhưng lại cao hơn năm
2002.
Trong 3 thập kỷ tới sự phụ thuộc của Trung Quốc vào thị trường dầu quốc tế
chắc chắn ở dưới mức 50% và dự báo có thể chỉ ở dưới 40% vì: Trung Quốc
có thể sử dụng nguồn than dư thừa để thay thế khi cần thiết; Trung Quốc có
tiềm năng lớn về dự trữ dầu và khí. Ngoài ra, cùng với việc mở rộng khai
thác, Trung Quốc sẽ giảm được sự phụ thuộc vào nhập khẩu.
+ Pháp:
Mặc dù là quốc gia có nền sản xuất hạt nhân lớn nhất thế giới, Pháp lại thuộc
nhóm các nước có lượng nhập khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới. Kể từ năm
7
1973 dầu mỏ đã mất dần vai trò trong bảng tiêu thụ năng lượng quốc gia.
Khác với rất nhiều nước khác, tỷ trọng dầu của Pháp hạ xuống chỉ còn 38%
trong năm 2001, trong khi năm 1973 con số này là 68%. Pháp đã phát huy
thế mạnh của mình trong ngành sản xuất hạt nhân và dần sử dụng nguồn
năng lượng này thay thế cho dầu.
dầu mỏ.
Trong suốt thời kỳ hậu chiến, các nước xuất khẩu đã nhận thấy nhu cầu đối
với dầu thô không ngừng gia tăng nhưng lại có một sự suy giảm đến 40%
trong sức mua của mỗi một thùng dầu. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, OPEC
đã thông qua một kết cục của chiến tranh không hề dự định từ trước đó là sẽ
mở rộng khả năng kiểm soát của tổ chức này lên giá dầu.
1.3.2. Từ năm 1973 – 1981: Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất
Vào năm 1972, giá dầu thô vào khoảng $3,00/thùng và vào cuối năm 1974,
giá dầu mỏ đã tăng gấp 4 lần tới $12,00. Nguyên nhân có thể là cuộc chiến
tranh Yom Kippor nổ ra vào mùa thu năm 1973, theo sau đó là việc các quốc
gia Ả Rập tiến hành tẩy chay các nước được cho là đã ủng hộ Isarel chống
lại Ai Cập. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa là trong một thời gian dài OPEC
đã hết sức thất vọng về việc giá dầu tương đối ổn định gây sự sụt giảm đều
doanh thu thực từ hoạt động kinh doanh dầu mỏ, trái ngược với ảo tưởng về
sự gia tăng lạm phát toàn cầu. Biến động địa chính trị bùng nổ đã tạo ra một
lý do thích hợp để đi đến một chính sách áp dụng quyền lực thị trường ngầm
nhằm đẩy giá dầu mỏ lên cao. Và sau đó chỉ một năm rưỡi, giá dầu thô nhẹ
của Ả Rập Xêut đã tăng vọt từ 2USD/thùng lên tới 13USD cho một thùng.
Giá dầu mỏ sau đó được giao dịch một cách bình ổn với biên độ hẹp ở mức
dưới 15USD/thùng cho đến cú sốc địa chính trị tiếp theo, cuộc cách mạng
Iran và cuộc chiến tranh Irắc. Bước vào năm 1979, Opec quyết định tận
dụng quyền lực định giá của mình sau một giai đoạn kiềm chế bằng cách
công bố một mức tăng giá 15% cho năm 1979. Cuộc cách mạng tại Iran đã
gây ra thiệt hại từ 2 triệu thùng đến 2,5 triệu thùng dầu khai thác mỗi ngày
trong giai đoạn từ tháng 11 năm 1978 cho đến tháng 6 năm 1979. Sau đó thì
việc sản xuất hầu như ngừng hẳn. Irắc tiến hành xâm lược Iran vào tháng 9
năm 1980. Chỉ trong vài tuần sau tổng sản lượng dầu mỏ của cả 2 nước tham
chiến này chỉ còn ở mức vài triệu thùng mỗi ngày hoặc có thể tính là 6,5
triệu thùng mỗi ngày ít hơn so với một năm trước đó. Trong năm 1979, sản
lượng dầu thô toàn thế giới đã giảm 10%. Cũng trong thời gian này, rất
nguồn cung ứng dầu là không nhiều bởi vì Ả Rập Xêut và các quốc gia Ả
Rập khác lần này là đồng minh với liên minh Hoa Kỳ rõ ràng sẽ chiến thắng
Irắc, giá dầu ngay lập tức đã tụt xuống. Và sau đó giá cả đã giảm xuống tiếp
khi cuộc chiến thắng Irắc, giá dầu đã ngay lập tức tụt xuống. Và sau đó giá
cả đã giảm xuống tiếp khi cuộc chiến vùng Vịnh tiếp theo đó hoá ra lại
nhanh hơn với ít thương vong hơn so với các dự đoán của các nhà phân tích.
Sau chiến tranh, giá dầu thô bước vào một thời kỳ giảm đều cho đến năm
1994, khi mà giá cả đã có điều chỉnh theo lạm phát xuống mức thấp nhất kể
từ năm 1990. Tiếp theo cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và việc Liên hợp
quốc phê chuẩn cho phép Irắc được tiến hành chương trình đổi dầu lấy
lương thực, giá dầu đã giảm xuống còn 10USD một thùng vào cuối năm
1998. Sau đó giá dầu lại tiếp tục tăng mạnh, tuy nhiên lần này khác hẳn các
lần tăng giá trước đó vì nó không hề gắn với bất kỳ một biến cố địa chính trị
nào. Thay vào đó, nhu cầu tiêu dùng trên toàn cầu gia tăng do quả bong
bóng công nghệ cao đã kích ngòi cho một sự bùng nổ về đầu tư tại Bắc Mỹ
và do nền kinh tế Châu Á bắt đầu có sự hồi phục. Opec không có khả năng
hoặc là đã không muốn làm dịu sự bùng nổ nhu cầu này bằng cách tăng sản
lượng sản xuất. Cho đến giữa năm 2000, giá dầu đã tăng gấp 3 lần. Mức tăng
lần này thậm chí còn mạnh mẽ hơn so với mức tưng đã diển ra vào thời điểm
xảy ra cuộc cách mạng Iran trong quá khứ. Mức tăng xăng dầu đạt tới điểm
đỉnh trùng vào đúng thời điểm cuộc cách mạng Iran trong quá khứ. Mức
tăng xăng dầu đạt tới điểm đỉnh trùng vào đúng thời điểm Tổng thống
Clinton quyết định bán dầu thô từ Kho dự trữ xăng dầu chiến lược ra thị
11
trường. Tuy vậy, các nhà phân tích vẫn không đồng ý rằng hành động này
của Mỹ là lý do của việc ngừng tăng giá dầu.
Chu kỳ dầu mỏ rồi cũng lại có bước ngoặt mới. Nền kinh tế Hoa Kỳ đã
mạnh lên và cuộc bùng nổ kinh tế ở các nước khu vực Châu á Thái Bình
Dương. Từ năm 1990 đến năm 1997 mức tiêu thụ dầu mỏ tăng 6,2 triệu
thùng mỗi ngày. Đặc biệt tiêu thụ dầu của khối Asean tăng mạnh do sự phát
OPEC tăng sản lượng dầu đã gây sức ép giảm giá dầu. Trước tình hình này,
OPEC một lần nữa đã đặt ra một loạt các mức quota cắt giảm đến 3,5 triệu
thùng cho đến ngày 1/12/2001. Nếu như không có vụ khủng bố ngày
11/9/2001, việc đặt ra các mức hạn ngạch này có lẽ sẽ xoa dịu tình hình
thậm chí có thể đảo ngược tình thế. Do cuộc khủng bố này mà giá dầu sụt
giảm mạnh. Giá dầu giao ngay tại trung tâm giao dịch trung gian West Texas
của Hoa Kỳ đã giảm 35% vào giữa tháng 11. Nếu ở hoàn cảnh thông
thường, việc giá dầu sụt giảm ở diện rộng sẽ có thể dẫn đến việc ra đời một
loạt các mức quota mới nhưng trước tình hình chính trị trên, OPEC đã trì
hoãn việc cắt giảm thêm sản lượng dầu cho đến tháng 1/2002 khi đã cắt
giảm mức quota trong toàn khối xuống còn 1,5 triệu thùng mỗi ngày và cùng
với một vài nước sản xuất dầu không thuộc khối OPEC trong đó có Nga,
nước đã hứa sẽ cùng cắt giảm thêm sản lượng dầu là 462,500 thùng. Ảnh
hưởng khan hiếm dầu đã đẩy mức dầu lên tới $25 vào tháng 3 năm 2002.
Đến giữa năm, các thành viên không thuộc khối OPEC đã khôi phục lại sản
lượng dầu mỏ nhưng giá dầu vẫn tiếp tục tăng.
Cuối năm này thì nguồn cung cấp vượt mức đã không phải là vấn đề. Tình
hình ở Venezuela đã dẫn đến cuộc đình công ở PDVSA gây ra việc tụt giảm
nghiêm trọng sản lượng dầu tại Venezuela. Sau cuộc đình công, Venezuela
cũng không thể khôi phục lại được năng suất bằng mức trước đây và vẫn
thấp hơn 900,000 thùng mỗi ngày so với mức 3,5 triệu thùng mỗi ngày trước
kia. OPEC đã tăng mức quota lên là 2,8 triệu thùng mỗi ngày vào tháng 1 và
tháng 2 năm 1003.
Vào ngày 19/3/2003, khi mà sản lượng dầu ở Venezuela bắt đầu được khôi
phục, bạo động quân sự lại xảy ra ở Iraq. Trong khi đó, nguồn dự trữ ở Mỹ
và khối các nước thuộc OECD vẫn còn ở mức thấp. Cùng với việc nền kinh
tế Hoa Kỳ được cải thiện, nhu cầu bắt đầu tăng lên và nhu cầu về dầu thô ở
châu Á cũng gia tăng với tốc độ nhanh. Việc giảm sút năng suất ở Venezuela
và Iraq cùng với tình trạng nhu cầu trên toàn thế giới tăng đã dẫn đến sự tiêu
hao dần của mức sản xuất dự trữ. Vào giữa năm 2002, mỗi ngày mức sản
mại
2.2. Thị trường dầu thô thế giới năm 2005
Có thể nói đặc trưng của dầu thô thế giới năm 2005 là thị trường luôn luôn
sôi động, nhu cầu nhập khẩu tăng cao, giá cả tăng mạnh. Tại New York giá
dầu thô nhẹ WTI năm 2005 đạt trung bình 57,63 USD/thùng tăng 42,5% so
14
với mức trung bình năm trước; tai Luân Đôn giá dầu thô Brent đạt
55,14USD/thùng, tăng 45,1%. Tuy nhiên, trong suốt năm 2005, giá dầu thô
trên các thị trường đã diễn biến theo hai xu thế rõ rệt: tăng liên tục lên những
mức cao kỷ lục mới trong 9 tháng đầu năm 2005, sau đó giảm đáng kể. 9
tháng đầu năm 2005, giá dầu thô trên các thị trường thế giới đã liên tục tăng
với tốc độ nhanh, lên những mức cao kỷ lục mới. Tại New York, giá dầu thô
WTI tháng 9-2005 đã đạt tới 66,39 USD/thùng, tăng 47% (21,4USD/thùng)
so với cùng kỳ năm trước; tại Luân Đôn giá dầu thô nhẹ Brent đạt 63,61
USD/thùng, tăng 48,7% (20,84USD/thùng). Đây là những mức giá dâu thô
cao nhất 22 năm qua.
Ba tháng cuối năm 2005, giá dầu thô trên thị trường đã giảm rõ rệt, giảm 6
-7 USD/thùng so với mức kỷ lục của tháng 9-2005, còn 56,8 – 59,7
USD/thùng (WTI). Mặc dù mùa đông nhưng thời tiết vùng Đông Bắc nước
Mỹ, khu vực tiêu thụ dầu sưởi lớn nhất thế giới vẫn ấm một cách bất thường
làm nhu cầu tiêu thụ dầu sưởi của Mỹ giảm mạnh. Tồn kho dầu thô và sản
phẩm dầu của Mỹ liên tục tăng. Theo IEA, đến cuối tháng 11-2005, tồn kho
dầu thô của Mỹ đã đạt tới 320,6 triệu thùng, tăng 26,4 triệu thùng so với
cuối tháng 9-2005; tồn kho dầu sưởi đạt 112,9 triệu thùng, tăng 9,5 triệu
thùng. Tồn kho tăng nhanh ở Mỹ là nguyên nhân chủ yếu làm giá dầu thô
các loại giảm đáng kể trong 3 tháng cuối năm 2005. Mặc dù vậy, hiện giá
dầu thô vẫn được đánh giá rất cao, tăng 29 – 35% (14-17USD/thùng) so với
3 tháng cuối năm 2004.
Biểu đồ I.2: Giá dầu thô giao ngay, USD/thùng
15
Băng ngày càng tàn khốc hơn, đe doạ nguồn cung dầu thô Trung Đông có
thể bị gián đoạn. Ngoài ra sự cố đường ống dẫn dầu tại vịnh Prudhol – bang
Alaska làm các mỏ khai thác dầu tại đây phải tạm ngừng đóng cửa. Những
nhân tố trên đã làm nhu cầu nhập khẩu dầu thô tăng mạnh và làm giá cả tăng
cao kỷ lục. Nhưng từ giữa tháng 8/2006, giá dầu thô trên các thị trường đã
giảm nhanh. Ngày 25/8/2006, giá dầu thô Brent tại Luân Đôn và WTI tại
New York đã giảm 4,9-5,9 USD/thùng. Tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước,
những mức giá dầu thô này vẫn tăng 7-12% (5-8USD/thùng tương đương
khoảng 56,9-59USD/thùng)
17
Tình hình Trung Đông đã bớt căng thẳng, ngày 14/8/2006, lệnh ngừng bắn
giữa Israel và lực lượng Hecbollar tại miền Nam Li Băng bắt đầu có hiệu
lực, chấm dứt hơn 1 tháng xung đột quân sự. Trong khi đó, tập đoàn BP
(Anh) tuyên bố sẽ cố gắng duy trì một nửa công suất các cơ sở lọc dầu đang
bị sự cố đường ống tại bang Alaska. Tồn kho xăng dầu của Mỹ trong tuần
kết thúc vào 18/8/2006 tăng 400.000 thùng, so với dự đoán giảm 2,4 triệu
thùng, tồn kho dầu thô giảm 600.000 thùng, thấp hơn so với dự đoán giảm
1,1 triệu thùng. Những nhân tố trên làm nhu cầu nhập khẩu dầu thô trên thị
trường giao ngay giảm nhanh trong 3 tuần cuối tháng 8/2006.
Biểu đồ I.4: Giá dầu thô giao ngay tại New York, USD/thùng
Nguồn: Thị trường giá cả sô 9/2006, bài “Nhận định tình hình giá cả một số
mặt hàng”
II. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG GIÁ DẦU TĂNG
MẠNH MẼ TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY:
1. Xu hướng gia tăng mạnh mẽ của nhu cầu dầu mỏ trên thị trường thế
giới.
18
Nhu cầu thế giới đối với dầu mỏ đã gia tăng mạnh mẽ trong những năm gần
đây, cùng với việc tiêu thụ dầu trên toàn cầu tăng tới 3,7% trong năm 2004
nối tiếp theo sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và quá trình mở rộng không
của dầu và thuộc tính dễ thay đổi đã gia tăng trong những năm gần đây.
Bảng sau đây đã cho thấy, mức sản xuất dự trữ, được biểu hiện qua phần
trăm trong tổng mức năng suất đã giảm kể từ tháng 12 năm 2002. Mặc dù
năng lực sản xuất dầu trên toàn cầu đã tăng, nhu cầu trong toàn cầu lại tăng
với mức cao hơn. Cùng với việc gia tăng nhu cầu dầu, đặc biệt từ Mỹ và
Trung Quốc, thì mức sản xuất dự trữ thấp trở thành một nhân tố quan trọng
dẫn tới việc tăng giá dầu trong giai đoạn gần đây.
Bảng I.5: Nhu cầu dầu mỏ thế giới và mức sản xuất dự trữ
Global oil market: demand and capacity
December
2002 200
3
2004 2005
Capacity mbd 79,9 80,0 81,7 83,3
Demand mbd 76,9 78,1 80,0 82,0
Spare production capacity mbd 3,0 1,9 1,7 1,8
Spare production capacity as
a percentage of total capacity
% 3,8 2,4 2,1 2,2
A Million barrels per day, excludes natural gas liquids
Source: IMF (2005a), Impact of oil price on trade in APEC.
Trước tình trạng giảm sút mức sản xuất dự trữ, OPEC đã cam kết duy trì
mức sản xuất dư thừa ít nhất là 1,5 triệu thùng mỗi ngày. Tuy nhiên, dựa
trên việc khan hiếm dầu vào cuối thập kỷ 70, một mức sản xuất dư thừa cao
hơn đáng kể, hơn 3 đến 4 triệu thùng mỗi ngày, sẽ cần phải ổn định thị
trường dầu hiện nay. Tổ chức IMF đã dự đoán rằng mức sản xuất dư thừa
vẫn sẽ duy trì ở mức thấp, bởi vì những kế hoạch để mở rộng và thay thế
những dự án đã được dự đoán chỉ để theo kịp với nhu cầu. Theo như tổ chức
IMF, những dự án về cung và cầu dầu thô cho thấy rằng mức sản xuất dư
thừa vẫn sẽ tồn tại ở mức thấp trong suốt giai đoạn này cho tới năm 1010.
khuyếch đại thêm ảnh hưởng của thực trạng gia tăng nhu cầu dầu trên toàn
cầu, mức sản xuất dự trữ thấp, thiếu các nhà máy lọc dầu hiện nay. Tình
trạng rối loạn cả về chính trị lẫn kinh tế, trong các khu vực sản xuất dầu đã
đảo lộn nguồn cung cấp theo thời vụ và đảo ngược khả năng của các thị
trường dầu có thể đảm bảo chắc chắn việc cung cấp đều đặn. Kết quả là các
nước nhập khẩu dầu, đặc biệt là những nước có nhu cầu sử dụng dầu lớn và
phụ thuộc nhiều vào dầu đang đánh giá lại các nguồn cung cấp hiện thời và
21
nhiều nước cố gắng thiết lập các nguồn cung cấp ổn định từ một hệ thống
các kênh cung cấp khác nhau.
III. VAI TRÒ, TẦM QUAN TRỌNG CỦA DẦU MỎ TRONG NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM:
1. Tiêu thụ dầu mỏ và năng lượng
Năng lượng là một dạng vật chất đặc biệt, tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau, nhưng chúng đều có đặc tính chung là khi tiêu dùng sẽ tạo ra một nhiệt
năng nhất định hoặc sinh ra công thông qua hệ thống thiết bị truyền lực. Khả
năng sinh nhiệt hoặc sinh công của năng lượng đã quyết định vị trí, vai trò
đặc biệt của nó trong sản xuất xã hội, trong đời sống xã hội, văn hoá và vật
chất của con người. Có thể nói năng lượng quyết định sự tồn tại và phát triển
của xã hội và năng lượng giúp cho con người phát triển ngày càng hoàn
thiện hơn. Chính vì vai trò đặc biệt quan trọng này vấn đề cân đối và sử
dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn năng lượng luôn là yêu cầu đặt ra cho
mỗi quốc gia và cho cả thế giới.
Ở nước ta, Chính phủ đã có những chính sách để tiết kiệm, có hiệu quả các
nguồn năng lượng hiện có, ưu tiên đầu tư cho phát triển năng lượng trong
nước và nhập khẩu năng lượng để cân đối với nhu cầu còn thiếu, nhờ đó mà
việc khai thác và sử dụng năng lượng của nước ta những năm gần đây tăng
đáng kể. Năm 2005 so với năm 2000 thì mức sản xuất và nhập khẩu của các
nguồn năng lượng chủ yếu tăng như sau: Sản lượng than tăng 181%; Sản
xuất điện tăng 99,8%. Khai thác khí đốt tăng 205,1%; Nhập khẩu xăng dầu
So với các nước đang phát triển thì tổng năng lượng tiêu dùng cho sản xuất
và dịch vụ của nước ta còn chiếm tỷ trọng thấp, các nước đang phát triển
thường có mức tiêu dùng cho sản xuất phổ biến từ 50-52%, cho dịch vụ
khoảng 30-32% và cho tiêu dùng dân cư trên dưới 15%.
Về sản xuất và nhập khẩu năng lượng, trong tổng năng lượng tiêu dùng thì
63,5% là sản xuất trong nước và 36,5% là nhập khẩu, trong đó toàn bộ xăng
dầu, một nguồn năng lượng chủ yếu, quan trọng phải nhập khẩu 100%, do
đó dễ bị động khi thị trường xăng dầu thế giới biến động, cụ thể như tăng giá
trong thời gian gần đây.
Từ tình hình sản xuất và tiêu thụ năng lượng của nước ta hiện nay, cho thấy:
23
Năng lượng được sử dụng của nước ta còn ở mức thấp, bình quân đầu người
khoảng 13.800 MegaJun, chỉ bằng 78,5% mức bình quân đầu người của thế
giới năm 1998.
Cơ cấu trong tiêu dùng năng lượng còn khá nhiều bất cập, đặc biệt là các
nguồn năng lượng sạch như điện, ga mới chiếm 13%, các nguồn năng không
sạch chiếm 87%, đáng lưu ý là than chiếm 34,8%, các nguồn năng lượng
khác chiếm 9%
1
. Tỷ trọng tiêu dùng cho sản xuất và dịch vụ còn chiếm tỷ
trọng thấp và tăng chậm hơn nhịp độ tăng về sản xuất kinh doanh của 2 khu
vực này. Điều này báo trước tình trạng mất cân đối trong cung cầu năng
lượng và hiện tượng thiếu năng lượng cho sản xuất và dịch vụ sẽ xảy ra, đặc
biệt là các nguồn năng lượng sạch như điện, ga.
Nguồn năng lượng nước ta còn phụ thuộc vào nhập khẩu, do chưa có công
nghiệp lọc dầu, nên 100% dầu mỏ khai thác phải xuất khẩu, để rồi lại nhập
khẩu 100% xăng dầu cho tiêu dùng trong nước. Đây là nghịch lý vừa làm
cho nguồn năng lượng trong nước thiếu tính chủ động vững chắc, vừa làm
giảm hiệu quả kinh tế của sản xuất, kinh doanh trong ngành năng lượng.
Bảng I.6: Tỷ lệ sử dụng các sản phẩm dầu trong các ngành nghề năm 2003
khí Việt Nam, Đoàn Thiên Tích – NXB Đại học quốc gia TP.HCM)
Như vậy, trong một thời gian dài, hơn 10 năm kể từ khi sơ khai, Nhật Bản
luôn là một trong những khách hàng lớn nhất của dầu thô Việt Nam. Tại hội
nghị khách hàng lần thứ nhất của ngành dầu khí Việt Nam tháng 11/1995,
ông H.Dan, giám đốc điều hành công ty SHOWA – SHELL (Nhật Bản), một
trong số 70 đại biểu của các công ty, nhà máy Nhật Bản có mặt tại hội nghị
đã nói rằng nguồn dầu mỏ do các nước châu Á cung cấp có nhiều lợi thế.
Ngay từ năm 1998, khi những thùng dầu thô đầu tiên của Việt Nam xuất
hiện trên thị trường thế giới cho tới nay, Nhật Bản đã mua dầu của Việt Nam
một cách ổn định. Ông Heung Ki In, giám đốc điều hành tập đoàn
Ssangyong cũng đánh giá “dầu thô Việt Nam sẽ trở nên phổ biến tại các nhà
máy lọc dầu khu vực châu á, nơi có trang thiết bị hâm nóng dầu thô và kinh
nghiệm lọc các loại dầu nhiều parafin”. Ssangyong đã tham gia vào việc
thăm dò lô 11-2 ngoài khơi Việt Nam và một trong những hoạt động của nó
hiện nay là đưa dầu thô Đại Hùng vào thị trường Trung Quốc.
Cũng theo dự đoán vào thời gian 7 năm về trước (năm 1996), bạn hàng đến
sau nhưng vào loại khách hàng “giàu triển vọng” của dầu thô Việt Nam là
Mỹ. Những nhà máy lọc dầu của Mobil (Mỹ) đặt tại Nhật đang sử dụng có
hiệu quả dầu thô mua từ mỏ Bạch Hổ và sẽ còn được sử dụng trong các nhà
máy lọc dầu ở úc, Niuzilân thuộc hệ thống Mobil.
Kết quả về thị trường vào tháng 8 năm 2003 như sau:
25