Các nhân tố tác động đến chi tiêu đầu tư, giải thích tình hình kích cầu đầu tư tại Việt Nam? - Pdf 32

Bài tập lớn môn học kinh tế đầu tư Đầu tư 46B
_____________________________________________________________
ĐỀ TÀI .
Các nhân tố tác động đến chi tiêu đầu tư, giải thích tình hình kích cầu đầu tư tại
Việt Nam?
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang đứng trước nhiều thử
thách trong việc thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước để đưa đất nước phát
triển đi lên mà đặc biệt quan trọng trong đó là các nguồn vốn. Ý thức được điều
trên trong những năm vừa qua nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định
trong việc thu hút vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nhằm đạt được và
duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững.
Có thể nói vần đề đầu tư, kích cầu đầu tư nhất là kích cầu đầu tư nước ngoài
đang là một trong những vấn đề rất được quan tâm hiện nay. Chính vì vậy nên
nhóm chúng tôi chọn đề tài về chi tiêu đầu tư và kích cầu đầu tư nhằm để xem xét
bản chất của các hoạt động kích cầu đầu tư và đánh giá hoạt động đó thông qua
những thành tựu và hạn chế của công tác này ở Việt Nam trong những năm gần
đây. Thực hiện đề tài này nhóm chúng tôi hy vọng sẽ có thêm hiểu biết về bản chất
của hoạt động đầu tư, và cũng mong mang đến người đọc những cái nhìn chung
nhất về hoạt động kích cầu đầu tư và hiện trạng của hoạt động này ở Việt Nam
hiện nay.
Mặc dù nhóm đã cố gắng tham khảo tài liệu và được sự giúp đỡ của các thầy
cô song không tránh khỏi những sai sót trong các vấn đề nêu ra. Vì vậy nhóm
chúng tôi rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để cho đề án này
mang tính khoa học cao hơn.
B: PHẦN NỘI DUNG:
Chương 1: Lý thuyết về chi tiêu đầu tư và kích cầu đầu tư:
I. Lý thuyết về chi tiêu đầu tư:
1. Khái niệm:
Chi tiêu đầu tư thực chất là các khoản chi tiêu cho các nhu cầu đầu tư của
Nhà nước, các doanh nghiệp và các đơn vị kinh tế, bao gồm đầu tư vốn cố định và

doanh nghiệp là: Lợi nhuận và lãi suất. Theo ông nếu lợi nhuận kỳ vọng lớn hơn
lãi suất tiền vay thì nhà đầu tư sẽ quyết định đầu tư và ngược lại khi mà lợi nhuận
kỳ vọng nhỏ hơn lãi suất tiền vay thì nhà đầu tư sẽ không quyết định đầu tư nữa.
Cũng theo Keynes thì nhà đầu tư ra quyết định căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận biên
của vốn (tỷ lệ giữa mức gia tăng lợi nhuận và mức gia tăng của vốn đầu tư). Tuy
nhiên tỷ suất lợi nhuân biên giảm dần khi tăng qui mô vốn đầu tư vậy các doanh
nghiệp chỉ đầu tư đến một qui mô nhất định nào đó sao cho điều kiện trên được
thoả mãn.
Trong những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động chi tiêu đầu tư thì nhân tố chi
phí vốn có một ảnh hưởng rất lớn. Theo Dale Jorgenson thì một đơn vị vốn sẽ
không được mua sắm thêm trừ khi sản phẩm biên của vốn (MPK) ít nhất là bằng
chi phí sử dụng vốn (u) : MPK

u. Yêu cầu của sản xuất đòi hỏi luôn phải tăng
thêm máy móc, thiết bị, phương tiện… nhằm mở rộng năng lực sản xuất, cho phép
hạ thấp chi phí sản xuất. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, cần phải có sự so sánh
giữa lợi ích mang lại do sử dụng các máy móc phương tiện mới, thể hiện qua phần
lợi nhuận tăng thêm, với khoản chi phí cho đầu tư để có được thiết bị đó. Vấn đề là
ở chỗ, lợi ích chỉ thực sự có được trong tương lai, trong khi vốn đầu tư lại phải bỏ
ra ngay từ đầu. Các nhà đầu tư thường tài trợ cho các khoản đầu tư đó bằng cách
vay vốn. Do đó, những nhà đầu tư phải trả lời được câu hỏi: liệu lợi nhuận do đầu
tư đem lại có cao hay hơn mức lãi suất phải trả khi chủ đầu tư vay vốn đầu tư hay
không? Chủ đầu tư chỉ nên đầu tư khi và chỉ khi lợi nhuận thực sự dự báo trong
tương lai cao hơn hoặc ít nhất là bằng so với mức lãi suất tiền vay phải trả.
Vào cùng một thời điểm, có thể có rất nhiều dự án đầu tư. Số lượng dự án
đầu tư phụ thuộc vào mức lãi suất tiền vay, khi mức lãi suất tiền vay càng cao, thì
số dự án thoả mãn được yêu cầu trên càng ít và ngược lại khi mức lãi suất tiền vay
thấp, sẽ có nhiều dự án đầu tư hơn làm khối lượng cầu vốn đầu tư tăng. Do đó theo
Dale Jorgenson thì để có thể tăng chi tiêu đầu tư, và khuyến khích hoạt động đầu
2

Đầu tiên phải kể đến là tốc độ gia tăng sản lượng. Chúng ta biết đầu tư là một yếu
tố sản xuất là nhân tố nguyên nhân ảnh hưởng đến qui mô sản lượng của dự án. Từ
nửa sau của những năm 30, các kiểm tra thực nghiệm cho thấy đầu tư không hoàn
toàn phụ thuộc vào lãi suất và một lý thuyết mới về đầu tư của Keynes ra đời là
“thuyết gia tốc đầu tư”. Theo ông đầu tư ròng là hàm của sự thay đổi sản lượng.
Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng > 0. Sản lượng càng tăng thì đầu tư ròng sẽ tăng
3
3
Bài tập lớn môn học kinh tế đầu tư Đầu tư 46B
_____________________________________________________________
theo hay nói cách khác: mỗi sự thay đổi của sản lượng đều dẫn đến sự biến động
liên tục của vốn đầu tư và sản lượng thay đổi ở tốc độ thấp còn vốn đầu tư thay đổi
cùng hướng nhưng ở tốc độ thấp hơn nhiều lần.
Theo Samuelson đầu tư đem lại nhiều doanh thu cho hãng hơn nếu nó cho
phép hãng bán được nhiều hàng hơn. Điều đó cho thấy tổng sản lượng là một nhân
tố cực kỳ quan trọng quyết định tới đầu tư. Khi nhà xưởng phải bỏ không rõ ràng
chẳng một nhà đầu tư nào muốn xây dựng thêm nhà xưởng cả, và đầu tư sẽ thấp.
Tổng quát hơn, đầu tư phụ thuộc vào doanh thu do hoạt động kinh tế chung tạo ra.
Bằng một số nghiên cứu ông kết luận rằng: khi sản kượng tăng 5% so với sản
lượng tiềm năng thì tương ứng với tỷ lệ đầu tư trong GDP tăng 1-2 %.
Chu kỳ kinh doanh cũng là một nhân tố tác động đên hành vi chi tiêu đầu tư.
Một sự đầu tư đem lại thu nhập, nếu đầu tư dẫn đến tiêu thụ được nhiều sản phẩm
hơn hoặc tạo ra chi phí sản xuất thấp hơn. Do đó yếu tố rất quan trọng quyết định
đầu tư là mức sản lượng của đầu ra. Nhiều nhà kinh tế cho rằng, mức sản lượng
này chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh. Như vậy vào mỗi thời kỳ khác nhau
của chu kỳ kinh doanh sẽ phản ánh các mức nhu cầu đầu tư khác nhau.
Khi chu kì kinh doanh ở thời kì đi lên, qui mô của nền kinh tế mở rộng, nhu
cầu đầu tư gia tăng, thể hiện ở việc dịch chuyển đường cầu đầu tư sang phải. Trái
lại, khi chu kỳ kinh doanh đi xuống, quy mô của nền kinh tế bị thu hẹp lại, kéo
dịch đường cầu đầu tư sang trái như vậy với cùng một lãi suất tiền vay lúc này nhu

nghiệp.
Kích cầu đầu tư được hiểu là những hoạt động tác động trực tiếp hay gián
tiếp lên nhu cầu đầu tư nhằm kích thích việc thực hiện các dự án đầu tư. Các hoạt
động này trước hết để tạo ra môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư thực hiện các
hoạt động đầu tư.
2. Nội dung kích cầu đầu tư .
Đầu tư là một khoản lớn và rất dễ thay đổi trong chi tiêu, vì vậy những thay
đổi trong chi tiêu đầu tư sẽ làm ảnh hưởng nhiều đến tổng cầu. Đến lượt mình tổng
cầu lại tác động đến sản lượng và việc làm. Hơn nữa chi tiêu đầu tư tạo ra tích luỹ
vốn, quỹ nhà xưởng máy móc thiết bị tăng lên thúc đẩy tiềm năng của quốc gia và
tạo ra được tăng trưởng trong dài hạn. Đó chính là điểm quan trọng cho ta hiểu vì
sao hoạt động đầu tư lại có vai trò quyết định lớn đến nền kinh tế, và hoạt động
kích cầu đầu tư lại có vai trò hết sức quan trọng để tạo ra sự phát triển bền vững
cho mọi nền kinh tế.
Theo khái niệm chung về kích cầu đầu tư thì mục tiêu của hoạt động kích
cầu đầu tư là gia tăng số dự án đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội của một quốc gia hay địa phương. Từ mục đích này chúng ta có thể thấy được
những công việc chính của hoạt động kích cầu đầu tư trước tiên là phải làm sao để
huy động được vốn, sau đó là phải tạo cho được những điều kiện thuận lợi và quản
lí các dự án đầu tư cho có hiệu quả.
Để thực hiện được mục tiêu trên, công tác kích cầu phải sử dụng nhiều biện
pháp chính sách để tạo ra những điều kiện huy động một cách hiệu quả nhất các
nguồn vốn đầu tư:
+ Các phương pháp tạo lập nguồn vốn đầu tư. Đầu tiên là phải thực
hiện khuyến khích huy động vốn từ tiết kiệm tư nhân. Kinh tế cổ điển Anh thế kỷ
XIX cho rằng sự can thiệp của chính phủ vào quyết định đầu tư và tiết kiệm tư
nhân có thể làm giảm tính hiệu quả của nền kinh tế. Theo quan điểm này cho rằng:
Vốn đầu tư có thể có các nguồn hình thành sau: Tiết kiệm của các hộ gia đình đã
trở thành một nguồn lớn hình thành nên cung vốn đầu tư. Ngoài ra, khoản thu nhập
giữ lại của một đơn vị kinh doanh cũng là một nguồn quan trọng hình thành nên

tư một cách có hiệu quả. Vấn đề tăng trưởng ở đây được nhìn nhận như yếu tố tạo
ra sức hấp dẫn cho các luồng vốn trong nước và nước ngoài. Điều này tuân theo
logic là khi mà các dự án đầu tư được thực hiện có hiệu quả thì nó sẽ lại càng thu
hút nhiều vốn đầu tư hơn. Cơ chế tác động của điều này chính là tác động vào kỳ
vọng của các nhà đầu tư mà chúng ta đã nói ở trên. Có điều này bởi vì trước hết
với năng lực tăng trưởng nhanh, thì trong bản thân nội bộ nước đó cũng sẽ có được
một mức tích luỹ lớn hơn và do đó qui mô của các nguồn vốn trong nước sẽ tăng
lên. Mặt khác, triển vọng tăng trưởng cao như vậy sẽ là một tín hiệu tốt đối với các
hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài.
+ Đảm bảo ổn định môi trường kinh tế vĩ mô. Sự ổn định của môi
trường kinh tế vĩ mô luôn được coi là diều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành
vi đầu tư. Về nguyên tắc, để thu hút được các nguồn vốn đầu tư nhằm ngày càng
đáp ứng tốt hơn các yêu cầu phát triển của đất nước, đảm bảo được nền kinh tế đó
trước hết là nơi an toàn cho sự vận động của nó và sau nữa là nơi có năng lực sinh
lời cao.
Khi đầu tư trước tiên các nhà đầu tư muốn sao cho đồng vốn của mình
được an toàn. Như vậy với một nước có môi trường kinh tế vĩ mô ổn định thì sẽ tạo
ra được một lòng tin bước đầu với các nhà đầu tư. Với những nhà đầu tư nước
ngoài còn có những yêu cầu về năng lực trả nợ tối thiểu của những nước nhận đầu
tư. Để ổn định kinh tế vĩ mô phải đảm bảo các điều kiện cụ thể sau:
Ổn định giá trị tiền tệ. Đây là vấn đề hết sức quan trọng vì nó ảnh
hưởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn cho đầu tư. Ổn định giá trị tiền tệ ở
đây bao gồm kiềm chế lạm phát và khắc phục hậu quả của giảm phát nếu có Để có
được điều này, cần phải rạo ra sự vận động một cách đồng bộ các yếu tố của nền
kinh tế thị trường, cân đối thu chi Ngân sách Nhà nước.
Điều tiết lãi suất, về lý thuyết lãi suất càng cao thì xu hướng tiết kiệm
càng lớn và từ đó tiềm năng của các nguồn vốn đầu tư càng cao. Bên cạnh đó, nếu
mức lãi suất trên thị trường nội địa cao tương đối so với lãi suất quốc tế thì lại tạo
ra sự hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài. Hơn nữa nó còn giúp các chính phủ bảo
vệ được nguồn vốn của mình. Song phải chú ý đến mặt thứ hai của tăng lãi suất tức

Trong những năm vừa qua Việt Nam đã có những thành tựu rất đáng hy
vọng trong hoạt động huy động vốn đầu tư phát triển. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội
liên tục tăng trưởng mạnh về qui mô. Đây chính là yếu tố quyết định nhất tới
những thành tựu về kinh tế của nước ta trong giai đoạn vừa qua. Điều này được thể
hiện qua số liệu thông kê vốn đầu tư phát triển giai đoạn 1996-2005:
Đơn vị : Nghìn tỷ đồng,%
Năm Tổng vốn
đầu tư
Lượng tăng tuyệt
đối
Tốc độ tăng vốn
tuyệt đối (%)
Vốn đầu
tư/GDP
1996 88.8 11.48 10.2 32.1
1997 105.9 17.1 19.2 34.5
1998 108.8 2.9 2.7 32.4
1999 119.4 10.6 9.8 32.8
2000 132.2 12.8 10.7 32.9
2001 160.4 28.2 10.4 34.0
2002 173.2 12.8 8.0 34.3
2003 189.3 16.1 9.3 35.5
7
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status