Lời nói đầu
Trong điều kiện kinh tế phát triển trên phạm vi toàn cầu như ngày nay,
du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu đựơc trong đời sống văn hoá, xã
hội và hoạt động du lịch đang phát triển mạnh mẽ, trở thành nghành kinh tế
quan trọng ở nhiều nước trên thế giới và du lịch càng thúc đẩy các nghành
kinh tế khác phát triển tạo ra hàng triệu việc làm cho xã hội.
Đi cùng trào lưu phát triển đó kinh doanh khách sạn đóng vai trò quan
trọng góp phần đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách.
Nghành khách sạn ở Việt Nam có từ những năm đầu của thế kỷ XX với
chức danh phục vụ về nhu cầu trú của cho khách sạn và đó là sản phẩm của
nghành khách sạn. Trong hoạt động kinh doanh khách sạn các nhà quản trị
phải thuyết phục khách hàng mua sản phẩm của mình như thế chưa đủ còn
phải dùng mọi cách để họ mua nhiều lần và phải trung thành với sản phẩm
của khách sạn.
Tất cả những phương cách dùng để thuyết phục mua sản phẩm mua
nhiều, trung thành với sản phẩm khách sạn là phải nhờ đến Quảng cáo.
Quảng Cáo xuất hiện ở khắp nơi và hầu như vào bất cứ lúc nào trong
cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Trong kinh doanh khách sạn thì nguồn
cung hầu như lớn hơn cầu dẫn đến tính cạnh tranh khốc liệt giữa các khách
sạn với nhau thì có tầm quan trọng của Quảng Cáo đặc biệt chú trọng hơn bao
giờ hết.
Qua quá trình tìm hiểu thực tế về tình hình kinh doanh khách sạn ở Đà
Nẵng cũng như sau khi tiếp cận với khách sạn Hải Vân tôi thấy rõ tầm quan
trọng của Quảng cáo trong việc bán sản phẩm cũng như việc cạnh tranh với
Trang 1
các khách sạn khác. Từ nhận thức trên em quyết định chọn đề tài “ Hoàn
thiện chính sách Quảng Cáo của khách sạn Hải Vân”. Với hy vọng góp
một phần nhỏ vào hoạt động kinh doanh khách sạn.
Do thời gian và năng lực hạn chế nên đề tài không thể tránh khỏi những
thiếu sót rất mong sự đóng góp của quý thầy cô và ban lãnh đạo khách sạn
khách, bởi lòng hiếu khách và trình độ văn hoá của họ. Du khách và cư dân địa
phương luôn tác động qua lại với nhau.
1.2 Khái niệm về du khách:
Việc xác định ai là du khách? Phân biệt giữa du khách và những người
lữ hành khác đều dựa vào hai tiêu thức.
Mục đích chuyến đi
Thời gian chuyến đi
Khách du lịch quốc tế : “ Là những người nước ngoài, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài vào Việt nam du lịch là công dân Việt Nam, người nước
ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”.
Khách du lịch nội địa: “ Là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư
trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.
2. Khái niệm sản phẩm du lịch:
Khái niệm: Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương
tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tìm năng du lịch nhằm cung cấp cho du
khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọng vẹn và sự hài
lòng”.
Phân tích đặc điểm sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là môt loại sản phẩm đặc biệt nó không phải là
sản phẩm lao động cụ thể, biểu hiện dưới hình thái vật chất, mà là sản phẩm vô
hình biểu hiện bằng nhiều loại dịch vụ.
Tính tổng hợp: tính tổng hợp của sản phẩm du lịch, biểu hiện trước
hết ở chỗ sản phẩm du lịch là kết hợp các loại dịch vụ mà xí nghiêp du lịch liên
quan cung cấp nhằm thoã mãn cac nhu cầu của du khách. Nó vừa bao gồm sản
phẩm vật chất, tinh thần, vừa bao gồm sản phẩm phi vật chất tinh thần, vừa bao
gồm phi lao động và vật tự nhiên. Trong đó vừa có giao thông du lịch ngành
khách sạn ngành ăn uống.
Tính không thể dự trữ: Do sản phẩm du lịch không tồn tại quá
trình “ sản xuất ”lại không biểu hiện bằng hiện vật cụ thể giá trị của nó được
Trang 4
1.2 Bản chất của hoạt động kinh doanh khách sạn:
Bản chất chính của hoạt động kinh doanh khách sạn là kinh doanh các
dịch vụ lưu trú ăn uống và các dịch vụ bổ sung khác.
Kinh doanh dịch vụ lưu trú và các dịch vụ bổ sung khác kèm theo là
nghành sản xuất phi vật chất vì vậy nó không tạo ra giá trị mới nhưng đây là
nghành rất cần thiết bởi tính chất tái phân chia thu nhập từ nghành này sang
nghành khác, từ khu vực này sang khu vực khác.
Trang 6
2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách sạn:
2.1 Đặc điểm về sản phẩm: sản phẩm của khách sạn là một quá trình từ
khi khách hàng mua sản phẩm ở khách sạn đến khi rời khỏi khách sạn gồm:
Hoạt động đảm bảo nhu cầu sinh hoạt bình thường như nghỉ ngơi, ăn
uống, giải trí
Sản phẩm của khách sạn chủ yếu là “dịch vụ” và một phần là hàng hoá
nên không thể lưu kho, không thể đem đến nơi khác quảng cáo và tiêu thụ, mà
chỉ có thể “sản xuất và tiêu dùng ngay tại chỗ” sản phẩm của ngành khách sạn là
sự kết hợp của sản phẩm vật chất và sự tham gia phục vụ của nhân viên, đây là
hai yếu tố không thể thiếu được của hoạt động kinh doanh khách sạn. Đối với
việc cung ứng dịch vụ và phục vụ là một trong những tiêu chuẩn của khách sạn.
2.2 Đặc điểm trong mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng:
Hai yếu tố này diễn ra đồng thời trong cùng một thời gian. Không thể
tồn kho do đó việc đánh giá và cảm nhận của khách hàng là tức thì luôn luôn
đảm bảo nguồn cung cấp để sẵn sàng phục vụ khách. Khách sạn phục vụ 24/24
giờ trong ngày, và tất cả ngày lễ, điều đó đòi hỏi phải bố trí các ca làm có tính
toán để đảm bảo phục vụ khách hàng thường xuyên.
2.3 Đặc điểm đối tượng phục vụ:
Đối tượng kinh doanh và phục vụ của ngành khách sạn đa dạng về
thành phần, nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, sở thích, phong
tục, yêu cầu của họ là sự phục vụ của khách sạn phải thoả mãn nhu cầu đa dạng
của họ. Để làm được điều đó yêu cầu các cấp quản lý phải luôn tổ chức nghiên
cho một chuyến đi.
Hoạt động của ngành khách sạn có ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch
Khách sạn thu được một khoản chính là thu hút một phần quỹ tiêu dùng
của nhân dân và thực hịên tái phân chia quỹ tiêu dùng của nhân dân theo lãnh
thổ và nó góp phần huy động số tiền nhàn rỗi tiết kiệm trong nhân dân.
Doanh thu của khách sạn bao gồm doanh thu ngoại tệ lẫn nội tệ, trong
đó doanh thu nội tệ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của ngành du lịch.
Trang 8
Khách sạn tạo điều kiện thuận lợi để xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ
mà chúng ta có thể gặp nhiều khó khăn khi xuất ra thị trường thế giới, nó giúp
tiết kiệm chi phí bao bì đóng gói và vận chuyển.
Đội ngũ trong khách sạn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số cán bộ
công nhân viên trong toàn ngành (theo thống kê của ngành du lịch thế giới thì có
112 triệu người làm công tác dịch vụ, cứ 15 người lao động thì có 1 người làm
công tác du lịch). Lực lượng lao động du lịch rất đa dạng và phong phú về cơ
cấu và nghề nghịêp chuyên môn.
Khách sạn du lịch là nơi gặp gỡ của các dân tộc trên thế giới chính vì
vậy mà họ được giao lưu văn hoá các bản sắc dân tộc, do đó tăng thêm sự hiểu
biết củng cố tinh thần đoàn kết giữa các quốc gia
III. Các vấn đề về quảng cáo:
1.Khái niệm về quảng cáo:
Quảng cáo là một quá trình truyền thông khi cá nhân được trả tiền
nhằm thông tin cho những công chúng xác định và thuyết phục họ mua sản
phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp hoặc là để thiết lập và tăng cường hình ảnh
của doanh nghiệp và tổ chức đó.
2.Mục đích của quảng cáo:
Ngày nay, trong bất kỳ một doanh nghiệp nào thì hoạt động quảng cáo
là công tác hàng đầu. Trong kinh doanh du lịch nói chung và trong kinh doanh
khách sạn nói riêng thì hoạt động quảng cáo lại hết sức quan trọng. Bởi lẽ sản
phẩm du lịch là sản phẩm vô hình ta không thể đem đến cho khách hàng mà
có thể hỏi thăm khách hàng của mình để tiếp cận với số điện thoại của doanh
nghiệp từ nguồn nào nếu trường hợp doanh nghiệp tung quảng cáo trên nhiều
phương tiện truyền thông khác nhau.
2.3 Tạo mối quan hệ giữa sản phẩm và nhu cầu
Đây là hình thức quảng cáo ít mang trực tiếp hơn, mục đích của hình
thức quảng cáo này là xây dựng trong tâm trí người tiêu dùng mối quan hệ giữa
sản phẩm và nhu cầu. Qua đó, một nhãn hiệu từ trạng thái chưa được biết đến, từ
Trang 10
trạng thái chưa được chấp nhận sang trạng thái được ưa chuộng. Mục đích chủ
yếu của hình thức quảng cáo này là làm cho sản phẩm được người tiêu dùng biết
đến và chấp nhận. Đây là hình thức quảng cáo nhằm thuyết phục người tiêu
dùng rằng sản phẩm sẽ thoả mãn nhu cầu của họ.
2.4 Nhắc người tiêu dùng nhớ lại sự thoả mãn trong quá khứ và thúc
đẩy họ mua sản phẩm trở lại.
Hình thức quảng cáo này nhằm nhắc cho người tiêu dùng nhớ lại sự hài
lòng mà họ từng có trước đây khi sử dụng, từ đó thúc đẩy họ tiếp tục họ mua sản
phẩm. Nhiều sản phẩm khi trở lại thị trường Việt Nam, sau một thời gian dài có
mẫu quảng cáo như :“xuất hiện tại Việt Nam từ năm ”, “hãy cùng khám phá"
một lần nữa”.
2.5 Thay đổi thái độ của người tiêu dùng
Đây là một trong những mục tiêu thách thức nhất của quảng cáo doanh
nghiệp áp dụng hình thức quảng cáo này nếu như sản phẩm trên thị trường
không được người tiêu dùng chấp nhận vì một lý do nào đó hoặc bổ sung một
tính năng mới mà khách hàng chưa từng nghĩ tới hoặc muốn giữ lại khách hàng
đang chuyển sang sử dụng sản phẩm mới.
2.6 Tạo niềm tin cho khách hàng khi mua sản phẩm
Mục tiêu cuối cùng của quảng cáo là củng cố thái độ niềm tin của
người tiêu dùng về sản phẩm. Không nên nói quá, nói nhiều để khi sử dụng sản
phẩm người tiêu dùng, phải có độ chính xác đánh vào tâm lý của khách. Hình
thức quảng cáo này thường được các doanh nghiệp có sản phẩm hàng đầu trên
4. Các phương thức quảng cáo
TT Các hình thức
quảng cáo
Ưu điểm Nhược điểm
01 Tập gấp du lịch Chi phí thấp, cung cấp đầy đủ
các thông tin về khách sạn.
Khách có thể nhìn rõ hình
ảnh khách sạn đồng thời có
thể tự liên lạc với khách sạn
02 Bằng thư
catalogue
Hình thức này linh hoạt, lựa
chọn được độc giả như mong
muốn, các đối thủ cạnh tranh
không biết được hình thức
quảng cáo này và có tính
riêng biệt cho từng cá nhân.
Khách hàng dễ coi là
quấy rầy
03 Trên báo chí Quảng cáo này rất linh hoạt,
kịp thời, phạm vi bao trim thị
trường vùng, nó được chấp
nhận rộng rãi, khả năng tin
cậy cao, chi phí rẻ.
Hình thức quảng cáo
này ngắn hạn và chất
lượng báo tin thấp.
04 Trên truyền hình Nó kết hợp được hình ảnh,
âm thanh và sự cử động đồng
thời hình thức này có thể thu
1. Quá trình hình thành và phát triển :
Trước năm 1975 đây là khu nhà của tư nhân xây dựng gọi là công ty
Gia Long với mục đích là cư xá cho sĩ quan Mĩ thuê. Sau năm 1975 trở thành
khu tập thể của công an. Sau đó Uỷ ban giao cho công ty Giao tế quản lý để
phục vụ cho nhiệt điện Cầu Đỏ. Với sự chuyển biến của nghành kinh tế nói
chung và du lịch nói riêng khách sạn đã ra đời vào năm 1986 do công ty du lịch
QNĐN tiếp quản và cải tạo. Từ năm 1986 đến 1990 khách sạn hoạt động theo cơ
chế độc lập cho đến cuối tháng 8 năm 1994 nó xác nhập trở lại công ty du lịch
QNĐN. Đến đầu 1998 do sự chia cách Tỉnh Quảng Nam ra khỏi Thành phố Đà
Nẵng, khách sạn lại được sự quản lý của công ty du lịch dịch vụ thành phố Đà
Nẵng.
Mặc dù gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất kỹ thuật, về nguồn vốn
và đội ngũ nhân viên, nhưng đơn vị đã cố gắn khắc phục được những khó khăn
và đứng vững cho đến nay. Nó đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc phát
triển du lịch QNĐN và bây giờ nó tiếp tục vai trò này đối với du lịch Thành phố
Đà Nẵng.
2. Chức năng và nhiệm vụ:
Khách sạn Hải Vân là đơn vị trực thuộc công ty du lịch dịch vụ Đà
Nẵng được công ty giao cho quyền hạn và trách nhiệm sau:
Tổ chức hoạt động kinh doanh theo quy định về hoạt động kinh doanh
khách sạn của chính phủ đảm bảo an toàn tính mạng cho khách, an ninh trật tự xã
hội, truyền thống văn hoá dân tộc.
Chấp hành các điều lệ quy định của tổng cục du lịch về hoạt động kinh
doanh khách sạn.
Trang 15
Hoàn thnàh tất cả chỉ tiêu về tài chính công ty giao cho khách sạn.
Được chủ động trong việc tìm nguồn khách, tìm thị trường, tự do ký
kết hợp đồng đưa đón khách với trung tâm điều hành du lịch và các chi nhánh
du lịch.
Ban giám đốc của khách sạn có quyền thay đổi giá phòng sao cho phù
Trang 17
Giám cđố
PG n u ngĐă ốK thu t b o ỹ ậ ả
v ệ
Phòng k toán ế
PG l u trúĐ ư
B p tr ng ế ưở
Nhân viên
Tr ng l tânưở ễ B ph nộ ậ
Tr ng bu ngưở ồ
Nhân viên
Nhân viên
nhận thức được sự giúp đỡ của các trưởng bộ phận trong việc điều hành kinh
doanh của khách sạn.
Bộ phận lễ tân: bao gồm một trưởng lễ tân và hai lễ tân khác. Nhóm
của bộ phận này là tổ chức đón tiếp, sắp xếp phòng cho khách thanh toán, đưa
tiễn khách. Ngoài ra đây là nơi thu nhận những thông tin cần thiết cho công
việc kinh doanh của khách sạn và phản ánh kịp thời những phàn nàn cảu khách
cho ban giám đốc để giải quyết nhanh chóng vụ việc nhằm mang lại sự hài lòng
cho khách.
Bộ phận ăn uống: Bao gồm bộ phận phục vụ nhà hàng và bộ phận
bếp. Bộ phận phục vụ nhà hàng gồm 5 người trong đó có một phó giám đốc và
một tổ trưởng, bộ phận này có nhiệm vụ phục vụ ăn uống cho khách lưu trú
trong khách sạn. Ngoài ra còn có nhận tổ chức tiệc cưới, liên hoan do cá nhân cơ
quan bên ngoài đặt còn bộ phận bếp gồm 4 người chuyên chế bến thức ăn
phục vụ nhhà hàng, đặc biệt bộ phận này không chịu sự quản lý từ mặt nhân sự
của khách sạn, đó là một nhóm người có tay nghề nấu nướng đã hợp đồng với
khách sạn trong việc phục vụ ăn uống cho khách.
Bộ phận bảo vệ gồm 4 người, ngoài nhiệm vụ bảo vệ an toàn tài sản
và tính mạng của khách cũng như của khách sạn họ còn có nhiệm vụ mang hành
phận lễ tân, có lối đi chung với khách sạn nên tạo điều kiện thuận lợi cho du
khách khi có các nhu cầu ăn uống. Nhà hàng hiện nay có khoản trên 300 chỗ
ngồi thuận lợi cho việc phục vụ khách lưu trú tại khách sạn đồng thời cũng
thuận lợi cho việc tổ chức các buổi liên hoan, gặp mặt của các cơ quan khác.
Với không gian thoáng mát, sạch sẽ thái độ phục vụ chu đáo luôn làm cho khách
hàng có những bữa ăn ngon miệng và cảm giác thoã mái.
Dịch vụ bổ sung: Hiện nay ngoài hai dịch vụ chính là lưu trú và ăn
uống khách sạn Hải Vân còn tổ chức thêm một số dịch vụ khác như massage,
điện thoại, vận chuyển các dịch vụ này tuy có hoạt động nhưng doanh thu
Trang 19
mang lại không cao do cơ sở vật chất trang bị cho các dịch vụ này còn nghèo
nàn, không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
II. Điều Kiện Sẵn Sàng Đón Tiếp Khách Của Khách Sạn Hải Vân.
1. Khái quát về cơ sở vật chất kỹ thuật:
1.1 Vị trí kiến trúc và diện tích.
Vị trí: Khách sạn toạ lạc tại góc đường số 2 Nguyễn thị minh Khai và
Lý tự Trọng TP- ĐN. Khách sạn thuộc vào loại khách sạn nhỏ, nằm ở vị trí
không được thuận lợi cho sự phát triển cụ thể: khách sạn cách trung tâm Thành
phố Đà Nẵng khoảng 1 km và cách xa đầu mối giao thông ( cách sân bay quốc tế
3 km, cách nhà ga xe lửa khoảng 1,2 km) so với các đầu mối giao thông khác thì
khách sạn gần cảng Đà Nẵng nhất nhưng nhìn chung du lịch đường thuỷ Thành
phố Đà Nẵng không được thuận tiện cho lắm. Bên cạnh đó khu phố nơi khách
sạn toạ lạc vắng vẽ và ít người qua lại.
Kiến trúc và diện tích: Khách sạn gồm hai dãy, tổng diện tích của
khách sạn khoảng 2000 m2
Dãy phía trước gồm 4 tầng với diện tích gần khoảng 500 m2 .
Tầng 1: Gồm khu vực lễ tân, nhà hàng và 2 phòng kế toán.
Tầng 2: Gồm 15 phòng.
Tầng 3 : Gồm 15 phòng.
Tầng 4: Gồm 6 phòng và 1 phòng hội nghị trên một trăm chỗ.
giường đôi các tiện
nghi tối thiểu khác.
3.Loại3 85.000 100.000 Máy điều hoà, tivi,
giường đôi, bàn ghế,
các tiện nghi tối thiểu
khác.
4.Loại4 70.000 80.000 Giường đơn, ti vi,
các tiện nghi tối thiểu
Trang 21
khác.
Nhìn chung, trang thiết bị trong phòng được trang bị tương đối đầy
đủ, đáp ứng được nhu cầu của khách. Tuy nhiên do thời gian sử dụng đã lâu nên
các trang thiết bị đó cũng mất thẫm mỹ, khả năng sử dụng không còn cao.
1.3 Khu vực phục vụ ăn uống:
Nhà hàng có khả năng đón trên 100 khách, trang thiết bị chưa được
đầy đủ tuy nhiên vẫn còn có thể đáp ứng những nhu cầu bình thường về ăn uống
của khách. Sau đây là bảng sơ lược và trang thiết bị của nhà hàng.
Tên trang thiết bị Số lượng
Bàn 12
Máy điều hoà 4
Tủ lạnh 2
Quạt trần 6
Quạt cây 4
Quạt thường 8
1.4. Sảnh lễ tân: Diện tích khoảng trên 300 m2.
Các trang thiết bị ở sảnh lễ tân: Ngoài bàn lễ tân còn có 3 bộ salon đón
khách, 1 ti vi, 4 quạt trần.Tại bàn lễ tân có tổng đài điện thoại của khách và các
dụng cụ cơ bản như: Giá để chìa khoá của các phòng lưu trú: 3 điện thoại được
trả lời những thắc mắc của khách hàng hoặc những việc có liên quan đến nghiệp
vụ lễ tân, 1 máy in, các sổ sách liên quan đến việc đặt phòng thanh toán, bảng
Lễ tân 4 4
Kế toán 2 1 3
Buồng 3 3 6
Nhà hàng 2 2 4
Kỹ thuật 1 1 2
Bảo vệ 4 4
Bàn 5 7
* Nhận xét chung:
Trang 23
Với quá trình hình thành và phát triển của khách sạn ta thấy khách sạn
Hải Vân thuộc loại khách sạn nhỏ quy mô không lớn do đó số lượng nhân viên
trong khách sạn vừa đủ đáp ứng nhu cấu phục vụ cho du khách.
Với tổ chức bộ máy đơn giản, việc phân bố khách sạn khá đồng đếu
tuy nhiên khối lượng công việc giao cho 2 phó giám đốc không quá tương xứng,
giám đốc lưu trú thường chiếm tỷ trọng lớn công việc trong khách sạn vì chủ
yếu khách sạn Hải Vân kinh doanh dịch vụ lưu trú, còn giám đốc nhà, hàng với
một ít vì nhà hàng không có hiệu quả.
Độ tuổi lao động trong khách sạn khá cao thuộc loại già trong khi đó
nghành kinh doanh khách sạn đòi hỏi phải có một đội ngũ lao động trẻ đẹp và
có sức khoẻ chính vì thế khách sạn cần có chính sách thay thế nhân viên.
Trình độ nghiệp vụ của nhân viên trong khách sạn khá thấp cần đào tạo
bồi dưỡng lại.
Về chức năng và nhiệm vụ: khách sạn được tự do hoạt động kinh
doanh, ít chịu sự quản lý của công ty, hạn chế được tính chồng chéo lên nhau
trong việc quản lý, được tự do phát huy năng lực khả năng sáng tạo của mình.
Lao động trong khách sạn là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến
chất lượng phục vụ của khách sạn, là nhân tố trực tiếp làm cho du khách hài
lòng. Vì vậy để thu hút được nguồn khách cần thiết phải đánh giá chất lượng
nhân viên để từ đó có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ và ngoại
ngữ cho đội ngũ cán bộ công nhân viên khách sạn.
8
1742789,5 30920,4 1,86 57808 3,43
Lợi
nhuận
346399 697335 1071226 350936 101,3 374491 53,7
DT/
CP
1,21 1,41 1,61 1,23 10,25 7,47 5,28
LN/C
P
0,21 0,41 0,61
Nguồn: bộ phận kế toán
Qua 3 năm hoạt động : doanh thu của khách sạn tăng đều chi phí hằng
năm chỉ tăng nhẹ từ đó lợi nhuận cũng tăng theo.
Cụ thể:
Trong thời gian trước năm 2001 khách sạn đã sữa chữa và nâng cấp
trang thiết bị và cơ sở vật chất đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách nên lượng
khách đến khách sạn ngày càng tăng và doanh thu cuả khách cũng tăng, năm
2002 tăng 19,08 % so với năm 2001 tức tăng 381856,4 nghìn đồng và năm 2003
tăng 18,14 % so với năm 2002 tức là tăng đến 432287,7 nghìn đồng.
Nguyên nhân doanh thu tăng: Doanh thu của khách sạn tăng do tình
hình kinh tế của đất nước trong những năm qua tăng trưởng mạnh, ổn định về
chính trị nên khách đi du lịch ngày càng tăng, mặc khác Đà Nẵng là thành phố
trực thuộc trung ương và có nền kinh tế phát triển so với các tỉnh khác, gần các
trung tâm du lịch như Huế và Hội An nên lượng khách đến Đà Nẵng ngày càng
đông.
Trang 25