hay dựa vào môn học KINH tế vĩ mô, PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG của lạm PHÁT tại VIỆT NAM - Pdf 22

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA- KHOA KINH TẾ
d&c
CHUYÊN ĐỀ MÔN HỌC
ĐỀ TÀI: DỰA VÀO MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ, PHÂN
TÍCH ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT TẠI
VIỆT NAM
GVHD : LÊ DUY THÀNH
SVTH :
MSSV :
LỚP :
Thanh Hóa, tháng 02 năm 2013
Chuyên đề môn học
GVHD: Lê Duy Thành
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN SVTH:

1.6: CHƯƠNG 6: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 13
1.7: CHƯƠNG 7: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 14
1.8: TÓM TẮT CHƯƠNG 1 15
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 16
SVTH:
Chuyên đề môn học
GVHD: Lê Duy Thành
2.1: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 16
2.1.1: Nguyên nhân dẫn đến lạm phát 16
2.2: NHẬN XÉT TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT TỚI NỀN KINH TẾ 18
2.2.1: Tác động của lạm phát tới lĩnh vực sản xuất 18
2.2.2: Tác động hoạt động của ngân hàng 18
2.2.3: Ảnh hưởng của lạm phát tới đời sống của người dân 19
2.3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KIẾM CHẾ LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 20
2.4: TÓM TẮT CHƯƠNG 2: 23
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ 24
3.1: GIẢNG DẠY MÔN HỌC 24
3.1.1: Giáo trình, tài liệu môn học, giảng dạy 24
3.1.2: Cơ sở vật chất 24
3.1.3: Tính thực tiễn, thiết thực của môn học 25
3.3: TÓM TẮT CHƯƠNG 3 26
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
1/ Sách 28
2/ Tạp chí 28
3/ Trang Web 28
SVTH:
Chuyên đề môn học 1
GVHD: Lê Duy Thành
LỜI MỞ ĐẦU

Chuyên đề môn học 2
GVHD: Lê Duy Thành
Ngoài phần mở đầu, mục lục đề tài gồm 3 phần chính:
- Chương 1: Tổng quan về môn học kinh tế vĩ mô
- Chương 2: Phân tích thực trạng tình hình lạm phát ở Việt Nam
- Chương 3: Nhận xét và đánh giá môn học .
SVTH:
Chuyên đề môn học 3
GVHD: Lê Duy Thành
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ
1.1: CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ VĨ MÔ
1.1.1: Mô tả môn học
Kinh tế vĩ mô là môn học kinh tế học căn bản cung cấp cho sinh viên kiến
thức đại cương về mô hình nền kinh tế quốc dân và hoạt động của nền kinh tế.
Nội dung môn học gồm cách tính tổng sản lượng quốc gia; sản xuất và tăng
trưởng; tổng chi tiêu và sản lượng quốc gia; những dao động của tổng chi tiêu;
tổng cầu và tổng cung; tiền tệ, ngân hàng, giá cả và lãi suất; cung-cầu lao động
và thất nghiệp; lạm phát; chính sách tài chính và chính sách tiền tệ và tìm hiểu
về tỉ giá hối đoái và cán cân thanh toán.
Kinh tế vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học chuyên nghiên cứu về đặc
điểm,cấu trúc và hành vi của cả một nền hinh tế nói chung kinh tế học vĩ mô và
kinh tế học vi mô là hai lĩnh vực chung nhất của kinh tế học.
Kinh tế vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học nghiên cứu sự vận đông và
những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên binh diện toàn bộ nền
kinh tế cuốc dân
1.1.2: Hệ thống kinh tế vĩ mô
Có nhiều cách mô tả hoạt đông của nền kinh tế.theo cách tiếp cạn hệ
thống,nền kinh tế được xem như một hệ thống – gọi là hệ thống kinh tế vĩ mô.hệ
thống này như P.A samuelson mô tả - được đặc trưng bởi 3 yếu tố:đầu vào,đầu

1.1.4: Các chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu
Để đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ mô nêu trên,Nhà nước có thể sử dụng
nhiều công cụ chính sách khác nhau.mỗi chính sách lại có những công cụ riêng
biệt.dưới đây là một số chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu thường sử dụng trong
lịch sử lâu dài và đa dạng của họ.
• Chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa nhằm điều chỉnh thu nhập và chi tiêu của chính phủ để
hướng nền kinh tế vào một mức sản lượng và việc làm mong muốn.
SVTH:
Chuyên đề môn học 5
GVHD: Lê Duy Thành
Chính sách tài khóa có hai công cụ chủ yếu là chi tiêu của chính phủ và
thuế.chi tiêu của chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp với quy mô chi tiêu công
cộng,do đó có thể trực tiếp tác động đến tổng cầu và sản lượng.thuế làm giảm
các khoản thu nhập ,do đó làm giảm chi tiêu của khu vực tư nhân,từ đó cũng tác
động đến tổng cầu và sản lượng.thuế khóa cũng có thể tác động đến đầu tư và
sản lượng về mặt dài hạn
Trong thời gian ngắn ,1 đến 2 năm,chính sách tài khóa có tác động đến sản
lượng thực tế và lạm phát ,phù hợp với các mục tiêu ổn định kinh tế.
Về mặt dài hạn chính sách tài khóa có thể có tác dụng điều chỉnh cơ cấu
kinh tế,giúp cho tăng trưởng và phát triển lâu dài
• Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ chủ yếu nhằm tác động đến đầu tư tư nhân,hướng nền
kinh tế tới mức sản lượng và việc làm mong muốn .
Chính sách tiền tệ có hai công dụng chủ yếu là cung ứng tiền tệ và lãi
suất.khi ngân hàng trung ương thay đổi cung tiền lãi suất sẽ tăng hoặc giảm,tác
động đến đầu tư tư nhân ,do vậy ảnh hưởng tới tổng cầu và sản lượng.
Chính sách tiền tệ có tác động quan trọng đến tổng sản phẩm quốc dân
(GNP) thực tế về mặt ngắn hạn,song đó tác động đến đầu tư,nên nó cũng có ảnh
hưởng đến GNP tiềm năng về mặt dài hạn

đo toàn diện nhất đối với sản phẩm của chúng ta là GDP và GNP. Sự khác biệt
giữa GDP và GNP đó là : GDP là giá trị tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng
được sản xuất trên lãnh thổ một nước, còn GNP là giá trị tất cả hàng hóa và dịch
vụ cuối cùng do công dân 1 nước sản xuất ra
1.2.2: Hố cách GDP và số nhân
Hố cách GDP: sự khác biệt hay chênh lệch giữa chi tiêu ở mức GDP cân
bằng với GDP ở mức toàn dụng
Hố cách suy thoái: chênh lệch của mức chi tiêu mong muốn theo sản lượng
toàn dụng thấp hơn mưc sản lượng toàn dụng.
Hố cách lạm phát: chênh lệch cua mức chi tiêu mong muốn theo mức sản
SVTH:
Chuyên đề môn học 7
GVHD: Lê Duy Thành
lượng toàn dụng vượt qua mức sản lượng toàn dụng.
Số nhân đơn giản: là số nhân theo đó một sự thay đổi ban đầu của chi tiêu
sẽ tạo ra một sự thay đổi chi tiêu được hình thành sau một loạt các vòng chi tiêu
kéo theo.
1.2.3: Điều chỉnh hố cách:
Theo quan điểm của Keynes cần có sự can thiệp của chính phủ
Theo quan điểm cổ điển không cần sự can thiệp của chính phủ
GDP là chỉ tiêu tốt về phúc lợi kinh tế nhưng nó không phải là chỉ tiêu hoàn
hảo về phúc lợi. Vì một số yếu tố tốt đẹp như thời gian nghỉ ngơi sẽ bị loại bỏ ra
khỏi GDP. Tổng Thu nhập của các gia đình, công ty, chính phủ cung cấp sức
mua để mua sản phẩm. Khi sức mua được sử dụng, GDP cũng được sáng tạo
thêm và quá trình sản xuất mới được tiếp tục.
1.3: CHƯƠNG 3 : CHÚNG TA CÙNG NHAU TÌM HIỂU VỀ LẠM PHÁT
– THẤT NGHIỆP
1.3.1: Khái niệm về lạm phát - thất nghiệp
Lạm phát là hiện tượng giảm mãi lực của đồng tiền. Điều này cũng đồng
nghĩa với “vật giá leo thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với cùng

nền kinh tế là một hình thức thu “thuế lạm phát”. Chính phủ sử dụng khoản phụ
trội này để quân bình ngân sách với hi vọng sang năm kinh tế tiếp tục phát triển
sẽ được nộp ngân sách nhiều hơn. Một chút lạm phát cũng khiến doanh nghiệp
kiếm thêm lợi nhuận vì thông thường từ khâu nhập nguyên liệu (giá trước lạm
phát) đến lúc hoàn thành sản phẩm bán được cao giá hơn cũng tốt thêm cho
doanh vụ.
Ngoài những trường hợp kể trên, bao giờ lạm phát cũng có ảnh hưởng xấu
đối với kinh tế. Tỉ lệ lạm phát bao nhiêu là vừa phải cũng tùy thuộc vào tình
hình phát triển kinh tế của từng nơi, đặc điểm của nền kinh tế của từng quốc gia
khác nhau. Theo lẽ thông thường thì tỉ lệ lạm phát nếu giữ được ở mức thấp hơn
tỉ lệ phát triển kinh tế thì là điều tốt. Do đó, các quốc gia đang ở giai đoạn kinh
tế cất cánh (tỉ lệ phát triển xấp xỉ 10%) có thể chấp nhận một tỉ lệ lạm phát cao
SVTH:
Chuyên đề môn học 9
GVHD: Lê Duy Thành
hơn các quốc gia đã phát triển (tỉ lệ phát triển dưới 5%)
1.3.3: Nguyên nhân đưa đến lạm phát
Có nhiều trường phái kinh tế khác nhau đưa ra các lý thuyết về nguyên nhân
đưa đến lạm phát, trong số đó trường phái Neo-Keynesian có vẻ được chấp nhận
hơn cả với “mô hình tam giác” nói lên ba dạng lạm phát chính và những nguyên
nhân của nó:
• Lạm phát do nhu cầu tăng (Demand-pull inflation).Lạm phát do nhu cầu
sản xuất và dịch vụ (gọi chung là Tổng Thu Nhập Quốc Dân GDP) tăng trong
khi tỉ lệ thất nghiệp còn thấp. Còn gọi là Phillips Curve - đường cong Phillips.
Nói cách khác là khi nhu cầu kinh tế tăng mà thị trường lao động bị hạn chế sẽ
gây lạm phát.
• Lạm phát do đột biến giá cả (Cost-push inflation).Giá cả một số nguyên
vật liệu trọng yếu, ví dụ giá dầu hoả, tăng cao bất thường có thể đưa đến lạm
phát vì hiện tượng dây chuyền, các mặt hàng khác sẽ tăng theo.
• Lạm phát sẵn có tự nhiên (Built-in inflation).Lạm phát sẵn có, liên quan

Là tình trạng người trong lực lượng lao động không tìm được việc làm.
Sự mất mát kinh tế vĩ mô do nạn thất nghiệp gây ra là sản lượng hàng hóa và
dịch vụ bị giảm sút. Luật Okun giả thiết rằng cứ 1% thất nghiệp sẽ làm giả sút
2% sản lượng. Cái giá mà con người phải trả cho thất nghiệp không chỉ bao gồm
các mất mát tài chính ngoài ra còn bao gồm cả những sự trả giá về tâm lý, thể
chất và xã hội.
Muốn giảm thất nghiệp chu kỳ cần áp dụng chính sách chống suy thoái,
muốn giảm thất nghiệp tự nhiên cần phải tạo thuận lợi cho người lao động trong
quá trình tìm viêc.
Luôn luôn có sự đánh đổi tạm thời giữa lạm phát và thất nghiệp nhưng
không có sự đánh đổi trong dài hạn.
1.4: CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
Chính sách tài chính là khái niệm dùng để chỉ việc chính phủ thay đổi chi
tiêu hoặc thuế để ổn định hoạt động của nền kinh tế. Chính sách tài chính bao
gồm 2 công cụ là chi tiêu và thuế.
SVTH:
Chuyên đề môn học 11
GVHD: Lê Duy Thành
Thất bại vĩ mô xảy ra khi các mức chi tiêu mong muốn không bằng với giá
trị sản xuất ở điều kiện làm việc đầy đủ gây ra thất nghiệp và lạm phát. Việc chi
tiêu của người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố ngoài thu nhập và thu
nhập hiện có. Việc tiết kiệm của người tiêu dùng biểu hiện bằng sự rò rỉ của
luồng luân chuyển. Đó là nhừng luồng tiền không quay lại thị trường sản phẩm,
thuế và nhập khẩu cũng làm rò rỉ tiền ra khỏi nền kinh tế. Những khoản rò rỉ đó
được bù lại bằng các khoản đầu tư, chi tiêu của chính phủ và xuất khẩu. Mất cân
bằng trong chi tiêu sẽ gây ra lạm phát và thất nghiệp, không có sự điều chỉnh tự
động nào để trở lại mức việc làm đầy đủ.
Chính sách thuế của chính phủ không trực tiếp tác động lên tổng cầu, nó
gián tiếp làm thay đổi tổng cầu thông qua việc làm thay đổi hành vi của khu vực
tư nhân. Khi chính phủ thay đổi thuế thì tác động đầu tiên của nó là làm thay đổi

tiền hoặc lãi suất để ổn định hoạt động của nền kinh tế. Cơ quan hoạch định
chính sách tiền tệ là chính phủ hoặc ngân hàng TW, nhưng cơ quan thực thi
chính sách tiền tệ luôn luôn là ngân hàng TW.
Sự gia tăng cung ứng tiền làm giảm lãi suất cân bằng, ngược lại giảm cung
ứng tiền sẽ làm tăng lãi suất cân bằng. Để chính sách tiền tệ phát huy hết tác
dụng, lãi suất phải thể hiện được hết những thay đổi trong cung tiền và chi tiêu
đầu tư phải phản ứng được với những thay đổi trong lãi suất. Không có điều
kiện nào được đảm bảo. Trong tính trạng bẫy thanh khoản, người ta muốn giữ
tiền không hạn chế ở mức lãi suất thấp nào đó. Lãi suất sẽ không giảm xuống
mức thấp này khi cung tiền tăng cao. Hơn nữa kỳ vọng của nhà đầu tư sẽ làm
thay đổi quyết định đầu tư.
Để chống thất nghiệp, chính phủ cũng có thể sử dụng chính sách tiền tệ.
Trong trường hợp này chính phủ phải thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng,
thông qua việc mua trái phiếu chính phủ, giảm lãi suất chiết khấu hoặc cắt giảm
tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Tuy nhiên, họ phải trả giá cho thành công này bằng mức
lạm phát cao hơn.
Mặc dù các đòn bẩy tài chính có vẻ ấn tượng nhưng trên thực tế trong nền
SVTH:
Chuyên đề môn học 13
GVHD: Lê Duy Thành
kinh tế thì không được tốt lắm. Thất nghiệp và lạm phát gia tăng khó có thể thực
hiện các chính sách tài chính nêu ra trên lý thuyết. Ở một chừng mực nào đó, sự
thất bại của chính sách kinh tế còn phản ánh các nguồn lực khan hiếm và những
mục tiêu mang tính cạnh tranh. Ngoài ra còn tồn tại những vấn đề về đo lường,
lập kế hoạch và vần đề thực thi.
1.6: CHƯƠNG 6: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Thương mại quốc tế cho phép mỗi quốc gia chuyên môn hóa trong phạm vi
của hiệu quả tương đối, làm tăng sản lượng thế giới. Với mỗi quốc gia, lợi ích
thu được từ thương mại phản ánh qua khả năng tiêu thụ vượt quá khả năng sản
xuất .

người. Cùng với thời gian, tăng năng suất gắn liền với tăng mức sống.
Tăng trưởng nhanh giúp cho mức sống tăng nhanh nhưng nó cũng tạo ra
những tác động khác có hại cho nền kinh tế chính vì vậy, chúng ta cần cân nhắc
để tiến tới sự tăng trưởng bền vững. Khó khăn của các nước đang phát triển là
vốn đầu tư thấp, dân số tăng nhanh nhưng chất lượng lao động lại kém. Thương
mại quốc tế chủ yếu dựa vao nông nghiệp là chính. Các chính sách của chính
phủ có thể khuyến khích tăng trưởng kinh tế theo nhiều cách: khuyến khích tiết
kiệm, đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy giáo dục, kiểm soát mức
tăng dân số và thúc đẩy nghiên cứu khoa học.
Các nước kém phát triển đều thiếu lao động có tay nghề cao và trình độ
quản lý vốn, công nghệ. Mặc dù tiết kiệm trong nước có thể đáp ứng nhu cầu
đầu tư một vài lĩnh vực nhưng vẫn cần phải có nguồn đầu tư từ nước ngoài. Để
đi tìm một ngành chủ lực để phát triển, các nước phải lựa chọn giữa khuyến
khích xuất khẩu và thị trường trong nước. Xuất khẩu thu được ngoại tệ nhưng
phải đương đầu với nhiều bất ổn. Mặt khác, sản xuất cho thị trường trong nước
có thể dẫn tới chi phí cao và nhu cầu hạn hẹp. tăng trưởng kinh tế chỉ là điều
kiện cần chứ chưa đủ để phát triển kinh tê. Một quốc gia phát triển chậm nhưng
một phần nào đó vẫn có thể cải thiện được tình trạng phát triển thấp bằng các
chính sách xã hội.
SVTH:
Chuyên đề môn học 15
GVHD: Lê Duy Thành
Đánh giá sự phát triển kinh tế được thực hiện theo 3 khía cạnh: tăng trưởng
kinh tế, chuyển dịch cơ cấu,các yếu tố xã hội khác. Tăng trưởng kinh tế tạo tiền
đề vật chất cho việc thực hiện mục tiêu phát triển. chuyển dịch cơ cấu kinh tế là
dấu hiệu phản ánh sự biến đổi về chất và các chỉ tiêu xã hội chính là mục tiêu
cuối cùng cần đạt tới.
Các chỉ số xã hội được thể hiện trên các khía cạnh: mức độ đảm bảo nhu
cầu của con người, mức độ nghèo đói và trình độ dân trí.
1.8: TÓM TẮT CHƯƠNG 1

SVTH:
Chuyên đề môn học 17
GVHD: Lê Duy Thành
Thứ nhất, do leo thang giá cả các mặt hàng tiêu dùng. Sự tăng mạnh nhu
cầu ở các nước đang phát triển nói chung và VN nói riêng trong khi cung ứng
suy giảm do tác động của sự sụt giảm nền kinh tế thế giới.
Thứ hai, do su thế leo thang của nền kinh tế thế giới và sự mất giá của
đồng USD. Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có cán cân
thanh toán và dự trữ phụ thuộc nhiều vào đồng đôla, sự mất giá của USD tác
động trực tiếp đến giá cả nội địa. Thực tế cho thấy , khi giá đôla giảm đã khiễn
cho giá dầu tăng kỷ lục đưa xu thế tăng giá chung ở hầu hết các quốc gia không
có chính sách kìm chế giá.
Thứ ba, do hạn chế nguồn tín dụng sản xuất. Những tháng qua, ngân hàng
nhà nước liên tục thay đổi lãi suất, yêu cầu ngân hàng nhà nước phải mua lại trái
phiếu nhà nước…trên thực tế đây là biện pháp nhằm làm giảm dòng tiền tệ lưu
thông và kiềm chế việc tăng giá. Tuy nhiên, việc làm này có hại nhiều hơn là có
lợi. Lý do là, khi giảm lãi suất, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào trong nước sẽ
gia tăng rất khó kiểm soát với tỷ giá hối đoái thả nổi như hiện nay, các ngân
hàng có thể sử dụng để cho vay vốn đầu tư như vậy lượng tiền vẫn tăng nhanh,
lạm phát tăng là điều tất nhiên.
Thứ tư, do trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung, phải nhập khẩu từ
nước ngoài, trong đó đáng lưu ý có các mặt hàng mà một nước đi lên từ nông
nghiệp phải nhập khẩu lớn như thủy sản, sữa và sản phẩm sữa, rau quả, ngô, dầu
mỡ động thực vật, thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu, cao su, gỗ và nguyên phụ
liệu, đường, thịt; mà một nước có bờ biển dài nhưng phải nhập muối; một nước
có tỷ lệ xuất khẩu/GDP cao, nhưng do tính gia công, lắp ráp cao mà nhập khẩu
nguyên phụ liệu lớn, như nguyên phụ liệu dệt may, giày dép, chất dẻo nguyên
liệu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; một số loại hàng tiêu dùng có
kim ngạch lớn, như điện thoại các loại và linh kiện, ô tô nguyên chiếc, xe máy
nguyên chiếc, hóa mỹ phẩm lên đến mấy tỷ USD

ngân hàng khác, thì phải nâng lãi suất huy động. Nhưng nâng bao nhiêu là hợp
lý, luôn là bài toán khó đối với mỗi ngân hàng. Cuộc chạy đua lãi suất huy động
SVTH:
Chuyên đề môn học 19
GVHD: Lê Duy Thành
của các ngân hàng làm cho lãi suất tăng cao lên tới 17-18% năm, có ngân hàng
đưa lãi suất huy động gần lãi suất tín dụng, kinh doanh lỗ lớn nhưng vẫn phải
thực hiện, gây ảnh hưởng bất ổn cho cả hệ thống NHTM. Lạm phát tăng cao,
ngân hàng nhà nước buộc phải áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ để giảm khối
lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá
nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít
khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả,
với mức độ rủi ro cho phép. Mặt khác, do lãi suất huy động tăng cao, thì lãi suất
cho vay cũng cao, điều này đã làm xấu đi về môi trường đầu tư của ngân hàng,
rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện. Do sức mua của đồng Việt Nam giảm, giá vàng và
ngoại tệ tăng cao, việc huy động vốn có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên thật sự khó
khăn đối với mỗi ngân hàng, trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài hạn đối với
các khách hàng rất lớn, vì vậy việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài
hạn trong thời gian qua tại mỗi ngân hàng là không nhỏ. Điều này đã ảnh hưởng
đến tính thanh khoản của các ngân hàng, nên rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá xảy ra
là điều khó tránh khỏi.
2.2.3: Ảnh hưởng của lạm phát tới đời sống của người dân
Nguyên nhân dẫn tới lạm phát tăng cao là do chỉ số giá tiêu dùng tăng liên
tục. Làm cho đời sống của người dân gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là những
người có thu nhập thấp, những người làm công ăn lương có mức lương cố định,
giá cả tăng cao làm cho chi tiêu trong gia đình tăng lên. Với mức thu nhập hàng
tháng của nhiều người bây giờ không đủ trang trải cho cuộc sống, tuy nhà nước
đã quyết định tăng lương nhưng mức lương tăng không đủ đáp ứng cho mức
tăng giá. Những bà nội chợ sẽ giảm bớt khẩu phần trong mỗi bữa ăn xuống, hạn
chế tối đa việc mua sắm cho gia đình, sinh viên gặp khó khăn trong việc tiêu

những mất mát thực tế do lạm phát gây ra thì đây chính là một biện pháp đúng
đắn. Mục tiêu này giữ cho tỷ lệ lạm phát và mục tiêu việc làm ở một mức độ phù
hợp. Tăng cường giám sát và quản lý việc bình ổn giá cả thị trường nhằm đảm
bảo quyền lợi của người tiêu dùng. Theo dự báo, thị trường hàng hóa các tháng
SVTH:
Chuyên đề môn học 21
GVHD: Lê Duy Thành
còn lại của năm 2011 có thể diễn biến phức tạp, chịu tác động bởi nhiều yếu tố
chủ quan và khách quan, trong đó đáng chú ý là áp lực lạm phát đang nổi lên,
nhất là đối với nhóm hàng lương thực, thực phẩm. Tình hình sản xuất kinh
doanh tiếp tục khó khăn do mặt bằng lãi suất còn cao, chi phí đầu vào cao Dự
kiến tổng mức bán lẻ năm 2011 tăng khoảng 22% so với năm 2010, đạt 1.880
nghìn tỷ đồng.
Để thực hiện mục tiêu khống chế mức tăng giá năm 2011 khoảng 18%, trong
những tháng tới, nhiệm vụ điều tiết cung cầu và bình ổn thị trường giá cả sẽ còn
nặng nề và phức tạp. Vì vậy, Bộ Công thương cho rằng cần triển khai thực hiện
các giải pháp như: Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương
theo dõi sát diễn biến cung cầu hàng hóa, giá cả, thị trường; chủ động và linh
hoạt có các biện pháp điều tiết cung cầu và bình ổn thị trường nhằm bảo đảm
sản xuất, đáp ứng nhu cầu của xã hội, không để xảy ra thiếu hàng, sốt giá, góp
phần kiềm chế lạm phát.
Bên cạnh đó là tiếp tục thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại nội
địa để góp phần bình ổn thị trường; phối hợp với Liên minh Hợp tác xã trong
việc tiêu thụ hàng hóa công nghiệp và nông nghiệp. Tăng cường kiểm soát thị
trường, đảm bảo cung ứng tốt những mặt hàng trọng yếu như xăng dầu, phân
bón, sắt thép, giấy in, xi măng, gạo, dược phẩm ; đồng thời, xử lý nghiêm các
hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá, gian lận thương mại, niêm yết giá và bán
theo giá niêm yết, kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng hóa và vệ sinh an toàn
thực phẩm hàng hoá lưu thông trên thị trường.
Thứ hai, cần áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, giảm lượng tiền giấy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status