Y học cổ truyền kinh điển - sách Tố Vấn: Thiên bảy mươi hai & bảy mươi ba: LỤC NGUYÊN CHÍNH KỶ ĐẠI LUẬN - Pdf 22

Thiên bảy mươi hai & bảy mươi ba: LỤC NGUYÊN CHÍNH KỶ ĐẠI LUẬN
Hoàng Đế hỏi rằng:
Sáu sự hóa, sáu sự biến, thắng với phục, râm với trị cùng những vị cam, khổ, tân, hàm, toan,
đạm có nên trước sau như thế nào, tôi đã biết rồi (1).
Duy sự hóa của năm vận, hoặc thuận năm khí, hoặc trái thiên khí, hoặc thuận thiên khí mà
trái địa khí, hoặc thuận địa khí mà trái thiên khí, hoặc tương đắc, hoặc không tương đắc
Tôi chưa hiểu được rõ ràng. Giờ muốn suốt “Kỷ” của trời, thuận “lý” của đất, cho vận được
hòa, cho hóa được điều, khiến trên dưới hợp đức, không cùng sai bực, trời đất thăng giáng,
đều được thích nghi, năm vận tuyên hành, không trái với chính, đều với chính vị thuận
nghịch thế nào? Xin cho biết rõ (2) [1] .
Kỳ Bá thưa rằng:
Trước phải lập lấy “niên”, để cho rõ là thuộc khí nào, cái số vận hành của Kim, Mộc, Thủy,
Hỏa, Thổ, cái hóa về sự lâm ngự của Hàn, Thử, Táo, Thấp, Phong, Hỏa Như thế thời thiên
đạo có thể thấy, dân khí có thể đều, âm dương quyển thư, gần mà không nhầm. Vậy xin lần
lượt nói rõ (1) [2].
Hoàng Đế hỏi:
Chính của Thái dương như thế nào [3]?
Kỳ Bá thưa rằng [4].
Đó thuộc về những năm Thìn, Tuất Thái dương Tư thiên, Thái âm Tại toàn. Phàm lại
Chính của những năm Thái dương Tư thiên tà hiếp do khí hóa vận hành Tư thiên (khí đến
trước khi mùa chưa đến ) Thiên khí nghiêm túc (hanh hái), địa khí yên lặng, hàn khí tràn
ngập thái hư, dương khí không thi hành được chính lệnh. Thủy với Thổ hợp đức. Trên ứng
lên Thần tinh và chấn tinh, về loài cốc (thóc), sắc vàng. Lệnh của nó thư từ (thong thả), hàn
chính phát triển nhiều, nơi trầm lây không dương diễm (hơi nóng của khí dương), nên hỏa
phát phải đợi thời, khí dương chủ trì về khoảng giữa, mưa nhuần không ngớt, rồi lại qua về
Thái âm Mây về bắc cực, thấp hóa lan, nhuần thấm muôn vật, hàn khắp ở trên, sấm động ở
dưới, khí của hàn thấp, cùng giao với nhau. Do đó, dân sinh bệnh hàn thấp, cơ nhục nhão
nát; túc nuy không cử động được, đại tiện tiết tả, và huyết giật (tràn) (2) [5].
“Sơ chi khí”, khi đất thay đổi, khí sẽ đại ôn (ấm nhiều); loài cỏ sớm tốt, dân mắc dịch lệ, ôn
bệnh phát sinh, mình nóng, đều nhức, nóân ọe, ngoài da mụn lở (1) [6].
“Nhị chi khí”, đại lương (mát nhiều) lại đến, loài cỏ gặp lạnh, hỏa khí bị chèn, dân phát bệnh

Thiên khí kính cấp, địa khí quang minh (2). Dương khí chuyên phát huy chính lệnh của
mình, nên khí viêm trử tràn lan, mọi vật táo và kiên (3). Thuần phong mới trị phong tao
ngang vận, tràn tới khí giao, nhiều dương, ít âm, mây theo mưa xuống, thấp hóa mới sinh,
táo cực rồi nhuận (4). Về loài cốc, sắc nó trắng và đỏ (5) [19].
Kim với Hỏa hợp đức, trên ứng với Thái Bạch, Huỳnh hoặc chính của nó thao thiết, lệnh của
nó cường, loài chập trùng mới hiện, nước chảy không thành băng. Dân sinh bệnh khái, ách
tắc (nghẽn ở cuống họng); chứng hàn nhiệt bạo phát, run rẩy, và long bế (tiểu tiện vít hoặc
buốt) (6) [20].
“Thanh” trước rồi mới “kính” loại mao trùng sẽ chết; “nhiệt rồi mới bạo”, loài giới trùng sẽ
hại (7) [21].
Khi nó phát ra táo (vội vàng, gấp bách); sự thắng phục phát sinh, rất là rối loạn, cái khí
thanh, nhiệt, đứng vững ở thời lỳ khí giao (8) [22].
“Sơ chi khí”, khí đất mới đổi, (1) âm mới ngừng, khí mới túc (nghiêm, lạnh) nước mới thành
băng, hàn võ mới hóa. Sẽ phát ra bệnh nhiệt trướng, mà mặt phù thũng, hay ngủ, cầu (đau ở
sống mũi), nục (huyết ra đằng mũi), xị (hắt hơi), khiếm (vươn vai), ẩu (oẹ); tiểu tiện vàng và
đỏ, quá lắm thời lâm (do tiểu nhỏ giọt) [23].
“Nhị, chi khí”, khí dương mới tán bố, dân mới sễ chịu, mọi vật mới sinh ra và tốt, lệ khí mới
đến, dân hay bạo tử (2) [24].
“Tam chi khí”, thiên chính mới tán bố, lương khí (khí mát) mới lưu hành; táo với nhiệt giao
hợp. Táo cực mà nhuận, dần sẽ mắc bệnh hàn, nhiệt (3) [25].
“Tứ chi khí”, mưa lạnh xuống; bệnh bỗng dưng ngất đi, run rẩy, nói mê, ít khí, cuống họng
khô, khát đòi uống, mà tâm thống, ung thũng (mụn sưng), thương dương (lở láy), hàn ngược
(sốt rét), cốt nuy và tiện huyết (4) [26].
“Ngũ chi khí”, Xuân lệnh lại lưu hành, loài thảo lại tốt tươi, dân khí hòa (5) [27].
“Chung chi khí”, dương khí tán bố, khí hậu lại ôn, chập trùng hiện ra, nước không thành
băng, dân mới an khang. Nếu biến tai sảnh, sẽ là bệnh ôn (6) [28].
Cho nên ăn tuế cốc cho yên chính khi, nên ăn “gián cốc” để trừ tà khí (1). Nên dùng các vị
hàm, vị khổ, vị tân, dùng các phép thanh, phép hãn, phép tán (2). Làm cho yên vận khí,
đừng để thụ tà (3); nên chiết bỏ uất khí mà giúp cho hóa nguyên (4), dùng các khí hàn, nhiệt,
khinh, trọng, mà chế hoặc ít, hoặc nhiều. Nếu đồng nhiệt thời nhiều thiên hóa, đồng thanh

phát bệnh sẽ phúc mãn, mình nặng (4) [40].
“Chung chi khí”, địa khí chính, phong mới đến, muôn vật lại sinh trưởng, sương mù lưu
hành, dân mắc bệnh “quan bế” bất cấm (đi tiểu luôn), tâm thống, dương khí không về tàng
nên phát khái (6) [41].
Nếu bớt vận khí, giúp cho cái “sở bất thắng”, phải chết bỏ uất, trước lấy hóa nguyễn. Nhờ
đó bạo vận không sinh ra, bệnh độc không phát sinh (7) [42].
Vậy năm đó, nên dùng các vị hàm, vị tân, vị toan nên dùng phép thâm, tiếp tích, pháp phát
(8) [43].
Nhận xem khí hàn hay ôn, để điều trị tật bệnh, nếu “đồng” phong nhiệt thời dùng nhiều hàn
hóa “dị” phong nhiệt thời dùng ít hàn hóa (9) [44].
Dùng nhiệt, nên xa thời kỳ nhiệt, dùng ôn, nên xa thời kỳ ôn, dùng hàn, nên xa thời kỳ hàn,
dùng lương nên xa thời kỳ lương, về việc ăn, cũng cùng một phương pháp, đó là đạo chính.
Có giả, thời trái lại. Nếu làm trái phương pháp đó, sẽ là nguyên nhân gây nên bệnh (10)
[45].
Hoàng Đế hỏi:
Chính, lệnh của Thái âm như thế nào [46]?
Kỳ Bá thưa rằng:
Thuộc về những năm Sửu, Vị (Mùi) Thái âm thấp thổ Tư thiên, Thiếu giác hóa vận, Thái
dương hàn thủy Tại toàn [47].
Phàm cái chính của những năm Thái âm Tư thiên, khí hóa vận hành đều hậu thiên (sau thiên
thời mới đến, tức là bất cập) âm khí chuyên chính, dương khí rút lui, gió lớn thường nóåi,
khí trời giáng xuống, khí đất bốc lên, đồng ruộng khói tỏa, bụi trắng tung bay, mây về
phương nam, thường tuôn mưa lạnh, mọi vật trưởng thành về mùa trường hạ, do đó, dân
mắc bệnh hàn thấp, phúc hãn, mình phù, thân thũng, bĩ nghịch, hàn quyết, câu cấp (tay chân
co rút), thấp với hàn hợp đức, nên “vàng đen” tối tăm, lưu hành ở trong khí giao, trên ứng
với Chấn tinh, Thần minh, chính nó là nghiêm ngặt, bệnh nó yên lặng. Về loài cốc, sắc kiềm
huyền (vàng, đen) (1). Cho nên âm “ngừng” ở trên, hàn tích ở dưới, thủy hàn thắng hỏa, thời
biến thành băng bộc (nước cứng, mưa đá”, dương quang không thể phát triển, cái khí túc sái
sẽ lưu hành (2).
Cho nên: hữu dư nên ở nơi cao, bất cập nên ở nơi thấp, hữu dư nên sớm, bất cập nên muộn,

Kỳ Bá thưa rằng:
Thuộc về những năm Tí và Ngọ. Thiếu âm quân hỏa Tư thiên Thái giác hóa vận, Dương
minh táo kim Tại toàn. Phàm chính lệnh của những năm Thiếu âm Tư thiên, khí hóa, vận
hành đều Tiên thiên, địa khí nghiêm túc, thiên khí quang minh, thử, nhiệt lại thêm táo, mây
theo mưa xuống; khí thấp hóa sẽ lưu hành, mưa nhuần thường xuống. Kim với hỏa hợp đức,
trên ứng với Huỳnh hoặc, Thái bạch. Chính của nó sáng sủa, lệnh của nó nghiêm thiết, về
loài cốc sắc đan bạch (đỏ và trắng). Thủy, hỏa, hàn, nhiệt, cùng lẫn lộn ở trong khí giao
[60].
Nhiệt bệnh phát sinh ở bộ phận trên, thanh bệnh phát sinh ở bộ phận dưới, hàn nhiệt rối
loạn, giao tranh ở bên trong. Dân phát bệnh suyễn, huyết giật huyết tiết, cầu, xị, mục xích
(mặt đỏ), tí dương (toét ở đuôi mắt), hàn quyết vào Vị, tâm thống, yêu thống, phúc đại (bụng
to, cũng như trướng), ách can, (cuống họng khô), thũng thượng (sưng ở các bộ phận trên)
(2) [61].
“Sơ chi khí”, địa khí thay đổi, khí táo sắp hết, khí hàn bắt đầu các loài chập trùng lại ẩn nấp,
nước mới thành băng, sương lại xuống, gió mới thổi, dương khí bị uất. Dân phải kín đáo,
giữ gìn các quan tiết, yêu chùy (xương sống chỗ ngang thắt lưng) đau; khí viên thử sắp tràn
lan, trong ngoài mọc mụn lở (1) [62].
“Nhị chi khí”, dương khí tan bố, phong mới lưu hành, xuân khí mới chính, muôn vật đều tốt;
hàn khí thỉnh thoảng đến, dân mới hòa, dân phát bệnh lâm, mắt mờ, mắt đỏ, khí uất lên trên
mà nhiệt[63].
“Tam chi khí”, thiên chính tán bố, đại hỏa lưu hành, mọi loài nảy nở; hàn khí thỉnh thoảng
đến. Dân mắc bệnh khí quyết, tâm thống, hàn nhiệt thay đổi, khái suyễn, mắt đỏ (3) [64].
“Tứ chi khí”, khí phục thử đến, thường có mưa lớn, hàn nhiệt đều đến. Dân mắc bệnh hàn
nhiệt, ách can, hoàng đản, câu, nục, và ẩm (4) [65].
“Ngũ chi khí”, sợ hỏa lâm, thử lại đến, dương mới hóa, muôn vật mới sinh, mới lớn và tốt,
dân an khang, nếu có tai sảnh, sẽ là bệnh ôn (5) [66].
“Chung chi khí” táo lệnh lưu hành, dư hỏa cách trở ở bên trong, thũng ở bộ phận trên, khái,
suyễn, quá lắm thời huyết giật. Hàn khí phát sinh luôn, do đó sương mù tỏa. Bệnh phát sinh
ở trong bì phu, tấu lý, hợp với dưới hiếp, liền xuống thiếu phúc mà sinh hàn trung, do địa
khí sắp đổi vậy (6) [67].

tai, chóng mặt (3) [78].
“Tứ chi khí”, các khí phục thử, thấp nhiệt cùng giao tranh ở phía trên bên tả Quyết âm Tư
thiên, dân mắc bệnh Hoàng đản và phù thũng (4) [79].
“Ngũ chi khí”, Khí táo thấp thay nhau thắng, Khí trầm âm tán bố, dao hàn cắt da, đòi phen
mưa, gió (5) [80].
“Chung chi khí” uý hỏa tư lệnh, khí dương biến hóa, chập trùng bò ra, nước không thành
băng, địa khí phát tiết mạnh, loài cỏ nảy mọc, con người dễ chịu. Nếu gặp khí biến, sẽ mắc
bệnh ôn lệ (6) [81].
Phải chiết bỏ bớt khí uất, giúp thêm hóa nguyên đở cho vận khí, đừng để tà thắng (7) [82].
Trong năm, nên dùng vị tân để điều trị bộ phận trên, dùng vị hàm để điều trị bộ phận dưới,
cái khí úy hỏa đừng phạm càn vào nó (8) [83].
Dùng ôn, nên xa thời kỳ ôn, dùng nhiệt nên xa thời kỳ nhiệt, dùng lương nên xa thời kỳ
lương, dùng hàn nên xa thời kỳ hàn. Về việc ăn, cũng cùng một phương pháp. Có giả, thời
trái lại, đó là đạo chính. Nếu trái phương pháp đó, sẽ gây tật bệnh.
Hoàng Đế hỏi:
Phu tử nói đã rất rõ, nhưng lấy gì để tỏ về sự tương ứng ? [85]
Kỳ Bá thưa rằng:
Phàm sáu khí, lúc đi có thứ tự lúc ngừng có vị trí. Cho nên thường lấy tháng giêng, ngày sóc
(mồng một), sáng rõ, nhận xem; biết được vị trí, thời sẽ biết được ở đâu rồi (1) [86].
Vận hữu dư, nó đến trước, vận bất cập, nó đến sau. Đó là cái đạo của trời và là lẽ thường của
khí. Nếu vận không hữu dư, không bất túc, tức là chính tuế, vì nó đến đúng với mùa (2)
[87].
Hoàng Đế hỏi:
Cái khí thắng phục, đã có nhất định rồi. Còn cái sự tai sảnh xảy đến, lấy gì để dự biết được
[88]?
Kỳ Bá thưa rằng:
Nếu không phải khí hóa, thời tức là tai sảnh (3) [89].
Hoàng Đế hỏi:
Cái số của trời đất, chung thủy như thế nào [90]?
Kỳ Bá thưa rằng:

với sáu khí, cộng 6 năm [101]. Những năm Đinh tỵ, Đinh hợi, trên Thiếu giác lâm Quyết
âm; những năm Aát mão. Aát dậu, trên Thiếu dương lâm Dương minh; những năm Kỷ sửu,
Kỷ vị (mùi) trên Thiếu cung lâm Thái âm Như thế là ba vận (đó là bất cập mà đồng thiên
hóa ba vận, hợp với saú khi, cộng sáu năm [102]. Ngoài hai mươi bốn năm ấy, thời không
có gia là lâm nữa (chỉ 24 năm ấy là có thượng, hạ, gia, lâm, còn 36 năm khác thời không có)
[102].
Hoàng Đế hỏi”
“Gia” như thế nào? [103]
Kỳ Bá thưa rằng:
Thái quá mà gia đồng với Thiên phù, bất cập mà gia đồng với tuế hội (1) [104].
“Lâm: như thế nào? [105]
Kỳ Bá thưa rằng:
Thái quá, bất cập, đều có Thiên phù, mà biến hành có nhiều ít, bệnh hình có nhẹ nặng, sống
chết có sớm, muộn khác nhau (2) [106].
Hoàng Đế hỏi:
Phu tử nói: dùng hàn xa hàn, dùng nhiệt xa nhiệt, tôi chưa hiểu rõ. Xin cho biết thế nào là
“xa”?. [107].
Kỳ Bá thưa rằng:
Dùng nhiệt đừng phạm nhiệt, dùng hàn đừng phạm hàn. Thuận thời hòa, trái thời bệnh. Vậy
phải kính sợ mà lánh xa. Đó tức “thời” khởi theo sáu vị vậy (1) [108].
Hoàng Đế hỏi:
Oân lương như thế nào? [109]
Kỳ Bá thưa rằng:
Tư khí là nhiệt, dùng nhiệt đừng phạm, tư khí là hàn, dùng hàn đừng phạm, tư khí là lương,
dùng lương đừng phạm, tư khí là ôn dùng ôn, đừng phạm, gián khí đồng với chủ khi, đừng
phạm, dị với chủ khí thời có thể tiểu phạm (hơi phạm). Đó là “tứ úy” (bốn đều sợ), phải xét
cho kỹ (2) [110].
Hoàng Đế hỏi:
Phạm thời như thế nào? [111]
Kỳ Bá thưa rằng:

Những năm Mậu thìn, Mậu tuất. Ở trên, Thái dương hàn thủy Tư thiên, ở giữa, Thái chủy
hỏa vận, ở dưới, Thái âm thấp thổ Tại toàn [121].
Hàn hóa sáu (1); nhiệt hóa bảy (2), thấp hóa năm (3), đó tức là chính hóa nhật (4). Về hóa, ở
trên thời thổ và ôn, ở giữa thời Cam và Hòa, ở dưới thời Cam và ôn. Đó là thích nghi của
thực vị và dược phẩm. [122]
Những năm Kỷ tỵ, Kỷ hợi. Ở trên, Quyết âm, phong mộc Tư thiên, ở giữa, Thiếu cung thổ
vận, ở dưới. Thiếu dương tướng hóa Tại toàn [123].
Phong hóa, thanh hóa, thắng và phục đồng. Đó tức là khí hóa nhật (1) Phong hóa ba (2)
Thấp hóa năm (3); Hỏa hóa bảy (4) Đó tức là chính hóa nhật. Về hóa, ở trên thời Tân và
lương, ở giữa thời Cam và hòa, ở dưới thời hàm và hàn. Đó là thích nghi về thực vị và dược
phẩm. [124]
Những năm Canh ngọ. Canh tý. Ở trên, Thiếu âm quân hỏa Tư thiên, ở giữa Thái thương
Kim vận, ở dưới, Dương minh táo kim Tại toàn [125]. Nhiệt hóa bảy (1), thanh hóa, chín
(2), táo hóa, chín (3). Đó là chính hóa nhật. Về hóa, ở trên thời hàm và hàn, ở giữa thời Tân
và ôn, ở dưới thời Toan và ôn. Đó là thích nghi về thực vị và dược phẩm [126].
Những năm Tân vị, Tân sửu. Ở trên, Thái âm thấp thổ Tư thiên, ở giữa Thiếu vũ Thủy vận,
ở dưới Thái dương hàn thủy Tại toàn [127]. Võ hóa, Phong hóa, thắng và phục đồng. Đó tức
tà khí hóa nhật (1). Võ hóa năm (2), hàn hóa một (3), đó tức là chính hóa nhật. Về hóa, ở
trên thời khổ và nhiệt, ở giữa thời khổ và hòa, ở dưới thời khổ và nhiệt. Đó là thích nghi về
thực vị và dược phẩm [128].
Những năm Nhâm thân, Nhâm dần. Ở trên, thiếu dương tướng hỏa Tư thiên; ở giữa, Thái
giác, mộc vận; ở dưới, Quyết âm phong mộc Tại toàn. [129] Hỏa hóa hai(1); Phong hóa,
tám(2) đó tức là chính hóa nhật. Về hoa ở trên là hàm và hàn, ở giữa là toan và hòa; ở dưới
là Tân và Lương. Đó là thích nghi của thực vị và dược phẩm. [130]
Những năm Quý dậu, Quý mão. Ở trên, Dương minh, táo kim Tư nhiên, ở giữa. Thiếu chủy,
Hỏa vận ở dưới, Thiếu âm quân hỏa Tại toàn [131]. Hàn hóa, võ hóa thắng và phục, đồng.
Đó tức là tà khí hóa nhật. Táo hóa, võ hóa, thắng và phục, đồng. Đó tức là tà khí hóa nhật.
Táo hóa, chín (1), nhiệt hóa, hai (2), đó tức là chính hóa nhật. Về hóa, ở trên thời tiểu ôn, ở
giữa thời hàm và ôn, ở dưới thời hàm và hàn. Đó là thích nghi về thực vị và dược phẩm
[132].

Những năm Canh thìn, Canh tuất. Ở trên, Thái dương hàn thủy Tư thiên, ở giữa Thái dương
Kim vận, ở dưới, Thái âm thấp thổ Tại toàn [145].
Hàn hóa, một (1), Thanh hóa, chín (2), Võ hóa, năm (3), đó là chính hóa độ. Về hóa, ở trên
thời khổ và nhiệt, ở giữa thời Tân và ôn, ở dưới thời Cam và khíệt. Đó là thích nghi về thực
vị và dược phẩm [146].
Những năm Tân tỵ, Tân hợi. Ở trên, Quyết âm phong mộc Tư thiên, ở giữa. Thiếu vũ, thủy
vận, ở dưới, Thiếu dương Tướng hỏa Tại toàn [147].
Võ hóa, phong hóa thắng và phục đồng. Đó là hóa độ của tà khí. Phong hóa ba (1), hàn hóa
một (2) hỏa hóa bảy (3). Đó là chính hóa độ. Về hóa ở trên thời Tân và Lương, ở giữa thời
khổ và hòa, ở dưới thời hàm và hàn [148].
Những năm Nhâm ngọ, Nhâm tý, ở trên, Thiếu âm quân hỏa Tư thiên, ở giữa, Thái giác
Mộc vận, ở dưới, Dương minh táo kim Tại toàn [149].
Nhiệt hóa, hai (1), Phong hóa, tám (2), thanh hóa bốn (3). Đó là chính hóa độ. Về hóa, ở trên
thời hàm và hàn, ở giữa thời toan và lương, ở dưới thời toan và ôn. Đó là thích nghi về thực
vị và dược phẩm [150].
Những năm Qúi vị (mùi), Qúi sửu. Ở trên, Thái âm thấp thổ. Tư thiên, ở giữa, Thiếu chủy
hỏa vận, ở dưới. Thái dương hàn thủy Tại toàn [151].
Hàn, hóa, võ hóa, thắng và phục đồng. Đó là hóa độ của tà khí. Võ năm (1), hỏa hóa nhai (2)
hàn hóa một (3), đó là hóa độ của chính khí. Về hóa trên thời khổ và ôn, ở giữa thời hàm và
ôn, ở dưới thời cam và nhiệt. Đó là thích nghi về thực vị và dược phẩm [152].
Những năm Giáp thân, Giáp dần. Ở trên Thiếu dương Tướng hỏa Tư thiên, ở giữa Thái cung
thổ vận, ở dưới Quyết âmphong mộc Tại toàn [153].
Hỏa hóa, hai (1), võ hóa năm (2); Phong hóa, tám (3), đó là chính hóa độ. Về hóa ở trên thời
hàm và hàn, ở giữa thời hàm và hòa, ở dưới thời Tân và Lương, Đó là thích nghi về thực vị
và dược phẩm. [154]
Những năm Aát dậu, Aát mão. Ở trên, Dương minh táo kim Tư thiên, ở giữa Thiếu dương
Kim vận, ở dưới Thiếu âm quân hỏa Tại toàn [155]. Nhiệthóa, hàn hóa, thắng và phục đồng.
Đó là hóa độ của tà khí. Táo hóa bốn (1), thanh hóa bốn (2), nhiệt hóa hai (3). Đó là chính
hóa độ. Về hóa, ở trên thời khổ và tiểu ôn, ở giữa thời khổ và hòa, ở dưới thời hàm và hàn.
Đó là thích nghi về thực vị và dược phẩm. [156]

khổ và ôn, ở giữa thời toan và hòa, ở dưới thời cam và ôn. Đó là thích nghi về thực vị và
dược phẩm.
Những năm Quý tỵ, Quý hợi. Ở trên, Quyết âm phong mộc. Tư thiên, ở giữa. Thái giác hỏa
vận, ở dưới Thiếu dương Tướng hỏa Tại toàn [172]. Hàn hóa, võ hóa thắng và phục đồng.
Đó là hóa độ của tà khí, phong hóa ở tám (1); hỏa hóa hao (2), đó là chính hóa độ. Về hóa, ở
trên, tân và lương ở giữa hàm và hòa, ở dưới hàm và hàn. Đó là thích về thực vi và dược
phẩm.
Trở lên là những “kỷ” có định kỳ, thắng và phục chính và hóa, đều có thương số, phải xét
cho kỹ. Cho nên, nếu biết được cốt yếu, chỉ nói một điều đã đủ, không biết được cốt yếu, sẽ
lưu tán không biết đến đâu là cùng (1) [173].
Hoàng Đế hỏi:
Khí của năm vận, có báo phục tuế khí chăng? (1) [174]
Kỳ Bá thưa rằng:
Uất cực sẽ phát, đợi thời mà sinh (2) [175]
Xin cho biết rõ như thế nào? [176]
Cái khí năm thường, (tức là vận), vì có thái quá, bất cập, nên sự phát ra có khác. Thái quá
thời bạo, bất cập thời từ. Bạo thời bệnh nặng, từ thời bệnh đứng (vững không nặng lắm) (3)
[177].
Thái quá với bất cập, số nó như thế nào[178]?
Thái quá thời theo số “thành”, bất cập thời theo số “sinh” Thổ thời thường là “sinh” (4).
Hoàng Đế hỏi:
Phát ra như thế nào? [180]
Kỳ Bá thưa rằng:
- Thổ uất phát ra, sấm vang hang núi, khí giao dồn dập, bụi tối vàng đen, hóa thành khí
trắng, tràn khắp cao sâu, gió thổi cát bay, nước sóng đầy ràn mưa tuôn tầm tã Thời kỳ
đó, mới sinh, mới hóa, mới trưởng, mới thành. Sẽ phát các chứng bệnh. Tâm phúc trướng
(bụng to vượt), trường minh (sôi bụng), đại tiện luôn (tức kiết lỵ), quá lắm thời tâm thống,
đầy sưng ở hiếp, ẩu, thổ, hoắc loạn, đình ẩm (nước nghẽn ở hung ức), chú hạ (tiết tả), chân
sưng mình nặng. Mây theo mưa xuống, giáng ủng chiêu dương (giáng che phủ ánh mặt trời
buổi sớm), núi trầm khói tỏa. Khí mới phát do ở bốn khí. Mây vắt ngang trời, lúc không lúc

Hoàng Đế hỏi:
Thủy phát mà bộc, tuyết (mưa đá và tuyết), thổ phát mà phiêu, sậu (vỡ, lở), mộc phát mà
hủy, chiết (đổ, gẫy), kim phát mà thanh minh (trong sáng), hỏa phát mà huân, muội (nóng
bức, tối tăm) Khí nào gây nên thế? [188]
Kỳ Bá thưa rằng:
Khí có nhiều, ít, phát có vi “nhỏ”, thậm (quá), “vi” là đúng với khí “thậm” là kiêm cả dưới.
Kiêm cả dưới, là do nhân ở khí mà biết (1) [189].
Hoàng Đế hỏi:
Năm khí phát ra, không đúng với vị, là vì sao ? [190]
Kỳ Bá thưa rằng:
Vì chính lệnh có chỗ sai suyễn [191]
Chỗ sai suyễn đó, có nhất định không? [192]
Nếu chậm lại sau, đều ba mươi độ có lẻ (1) [193].
Hoàng Đế hỏi:
Khí đến mà hoặc trước hoặc sau là vì sao ? [194]
Kỳ Bá thưa rằng:
Vận thái quá thời đến trước, nếu bất cập thời đến sau, đó là thường hậu [195].
Đúng thời mà đến như thế nào? [196]
Không thái quá, không bất cập, là đến đúng với thời (mùa) trái vậy sẽ là tai sảnh [197].
Khí, có khí không phải thời mà hóa, là thế nào? [198]
Thái quá ấy đúng với thời, bất cập ấy theo với “kỷ thắng” [199]
Khí của bốn mùa, lúc đến có sớm có muộn, có cao, có thấp, có tả, có hữu Hậu nó như thế
nào? [200]
Hành có nghịch thuận, đến có chậm, chóng, cho nên thái quá thời hóa Tiên thiên, bất cập
thời hóa Hậu thiên [201]
Sự lưu hành như thế nào? [202]
Xuân khí đi về phương Tây, Hạ khí đi về phương Bắc Thu khí đi về phương Đông, Đông
khí đi về phương Nam Cho nên, Xuân khí bắt đầu từ dưới, Thu khí bắt đầu từ trên, Hạ khí
bắt đầu ở giữa, Đông khi bắt đầu ở ngọn (tiêu). Xuân khí bắt đầu đi từ bên tả, Thu khí bắt
đầu đi từ bên hữu, Đông khí bắt đầu đi từ bên tả; Thu khí bắt đầu đi từ phía trước Đó là sự

là vũ hóa (cũng loài có cánh); Dương minh đến nơi là Giới hóa (hóa sinh loài có vỏ như trai
ốc), Thái dương đến nơi là Lân hóa (loài có vẩy như cá ) Đó là sự thường của đức hóa
[210].
Quyết âm đến nơi là sinh hóa (sinh sôi nẩy nở) Thiếu âm đến nơi là vinh hóa (tươi tốt), Thái
âm đến nơi là nhu hóa (hóa ra khí ẩm ướt), Thiếu dương đến nơi là Mậu hóa (rậm tốt),
Dương minh đến nơi là Kiên hóa (cứng bền), Thái dương đến nơi là tàng hóa Đó là sự
thường của truyền bố chính lệnh [211].
Quyết âm đến nơi là phiêu nóä, là mát nhiều. Thiếu âm đến nơi là đại huyên, hàn (rất ấm và
rét) Thái âm đến nơi là sấm rét, mưa ro, gió lớn, Thiếu dương đến nơi là gió to, bốc cháy
đọng sương… Dương minh đến nơi là cỏ cây lá rụng, hoặc ôn, Thái dương đến nơi là hàn
tuyết, băng, bộc, bạch ai (bụi trắng); đó là trạng thái thường của khí biến (1) [212].
Quyết âm đến nơi là nhiễu đông, là Nghinh, tùy (đi lại, hình dung cơn gió), Thiếu âm đến
nơi là cao minh diễm (ngọn lửa sáng và cao), là sưng thũng. Thái âm đến nơi là trầm âm, là
bạch ai (bụi trắng), là hối, huyến (tối tăm ấm áp); Thiếu âm đến nơi là quang hiển (sáng, tỏ),
là đồng vân (mây do nước bốc lên) là Huân (ấm áp); Dương minh đến nơi là yên ai (khói,
bụi), là sương móc, là kính thiết (hanh hái), là thê minh (hiu hắt, quạnh quẽ), Thái dương
đến nơi là Cương cố (cứng bền), là kiên mang (giá lạnh ) Đó là lệnh thường của sáu khí, thi
hành ra bốn mùa [213].
Quyết âm đến nơi là lý cấp, Thiếu âm đến nơi là Dương chẩn, thân nhiệt, Thái âm đến nơi là
tích ẩm, là bĩ cách, Thiếu dương đến nơi là xị, ẩu, là Thương dương (lở láy), Dương minh
đến nơi là phù hư, Thái dương đến nơi là co duỗi không lợi; Đó là những bệnh thường về
mùa Xuân (1) [214].
Quyết âm đến nơi, gây nên chứng chi thống (đau ở hung và hiếp), Thiếu âm đến nơi, gây
nên chứng kinh, ố hàn, run rẩy, nói mê (sảng), Thái âm đến nơi gây nên chứng súc mãn (như
xúc huyết, và đầy) Thiếu dương đến nơi, gây nên chứng kinh táo, mâu, muội, bạo bệnh;
Dương minh đến nơi, gây nên chứng cầu (đau ở sống mũi), và các chứng đau ở xương khu,
đầu gốc, đùi, xương ống chân. Thái dương đến nơi, gây nên chứng yêu thống. Đó là bệnh
thường của mùa Hạ [215].
Quyết âm đến nơi, gây nên chứng liễu lệ (bị lệch bóng đái không tiểu tiện được), Thiếu âm
đến nơi, gây nên chứng hay thương, nói càn, huyết ra đằng mũi hoặc ở mắt; Thái âm đến nơi

Kỳ Bá thưa rằng:
Đó là do thái (quá), thiếu (tức bất cập), khác nhau. Khí “thái” đến, thong thả mà là thường,
khí “thiếu” đến, cấp tốc mà là vong (mất, chết) [226].
Hoàng Đế hỏi:
Khí của trời đất, doanh, hư như thế nào? [227]
Kỳ Bá thưa rằng:
Thiên khí bất túc, địa khí sẽ theo, địa khí bất túc, thiên khí sẽ theo. Vận ở khoảng giữa mà
thường đến trước. Ghét cái bất thắng, theo về cái đồng hóa, theo vận về thuận mà sinh ra
bệnh. Cho nên, trên thắng thời thiên khí giáng mà xuống, dưới thẳng thời địa khí đổi mà lên,
do nhiều, ít mà phân vị có sai lệch. “Vi” thời sai nhỏ, “thắng” thời sai lớn, quá lắm thời ngôi
đổi, khí giao. “Đổi” thời đại biến sinh ra mà gây nên tật bệnh. Đại yếu nói: “thậm kỷ 5 phần,
vị kỷ 7 phần Sự sai lệch có thể biết được” (1) [228].
Hoàng Đế hỏi:
Luận nói: nhiệt, đừng phạm nhiệt, hàn, đừng phạm hàn. Tôi muôn không lánh xa hàn, không
lánh xa nhiệt Thời như thế nào? [229]
Kỳ Bá thưa rằng:
Phát biểu, không phải xa lánh xa nhiệt, công lý, không phải lánh xa hàn [230]
Hoàng Đế hỏi:
Không phát biểu, không công lý, mà phạm hàn, phạm nhiệt, thời như thế nào? [231]
Kỳ Bá thưa rằng:
Hàn, nhiệt phạm vào bên trong, bệnh sẽ nặng thêm
Xin cho biết bệnh như thế nào? [233]
Chưa có bệnh thời sẽ sinh ra, đã có bệnh thời nặng thêm [234].
Sinh ra như thế nào [235]
Không lánh xa nhiệt, thời bệnh nhiệt đến, không lánh xa hàn, thời bệnh hàn đến. Bệnh hàn
đến, thời những chứng kiên, bĩ, phúc mãn, thống cấp và hạ lợi v.v. sẽ sinh ra. Bệnh nhiệt
đến thời những chứng: thổ, hạ, hoắc loạn, ung thư, thương dương mâu muộn, chú hạ, khiết
túng, thũng trướng, ẩu, cừu, nục, đầu thống, cốt tiết biến, huyết giật, huyết tiết, lâm bí v.v
sẽ sinh ra [236].
Hoàng Đế hỏi:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status