GIÁO TRÌNH
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 7: Công ty đa quốc gia
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 7 – Công ty đa quốc gia
169
Chương VII
CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
I. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
1. Định nghĩa công ty đa quốc gia
Hood và Young (1979) cho rằng công ty đa quốc gia có thể định nghĩa là: một công ty
sở hữu (toàn bộ hay một phần), kiểm soát và quản lý các tài sản tạo ra thu nhập ở nhiều hơn
một quốc gia.
Người ta lập luận rằng định nghĩa nên hạn chế hơn, chẳng hạn chỉ bao gồm các doanh
nghiệp có quy mô lớn hơn một mức nhất định, hoặc bằng việc loại bỏ sở hữu thiểu số ở nước
ngoài, hoặc bằng việc loại ra những doanh nghiệp có hoạt động ở chỉ hai quốc gia. Tuy nhiên,
thuộc vào các doanh nghiệp của Mỹ do các doanh nghiệp của Mỹ có các hoạt động kinh
doanh ở mức cao hơn, bao gồm nghiên cứu và phát triển và marketing, người tiêu dùng châu
Âu theo thị hiếu của Mỹ ở mức kinh ngạc và do sức mạnh thị trường của các công ty Mỹ.
Các công ty đa quốc gia của Mỹ trong giai đoạn này có các đặc điểm mà vào thời kỳ
đó được coi là yếu tố quyết định các đặc điểm của các công ty đa quốc gia sau Chiến tranh.
Trước hết chúng được kéo sang các nước đã phát triển chủ yếu khác, chứ không phải các nước
thuộc địa hoặc các nước đang phát triển khác. Mục đích của chúng là phục vụ các thị trường
lớn như Cộng đồng châu Âu trên cơ sở địa phương và cả sản xuất sản phẩm thay thế nhập
khẩu, chứ không phải liên kết dọc ngược trở lại nguồn nguyên liệu. Thứ hai, nghiên cứu về
một công ty đa quốc gia Mỹ cho thấy rằng sự phát triển của nó gắn liền với các ngành tập
trung hoá cao, nghiên cứu nhiều và còn thể hiện mức quảng cáo cao và sử dụng một tỷ lệ lớn
lao động có tay nghề.
Những lý thuyết khác vào những năm 1970 và 1980 chỉ ra rằng các công ty đa quốc
gia có thể có các hình thức khác. Sự xuất hiện của các công ty đa quốc gia Nhật ở nước ngoài
cho đến tận những năm gần đây vẫn tập trung vào các hoạt động "trên nền xuất khẩu" ở các
nước công nghiệp hoá mới, đối lập với kiểu hoạt động với các công ty đa quốc gia của Mỹ là
sử dụng nhiều lao động có tay nghề, nghiên cứu và phát triển nhiều. "Sự thách thức của Mỹ"
đã bị đảo ngược khi các doanh nghiệp châu Âu gia nhập thị trường Mỹ và sự sở hữu của châu
Âu đối với các doanh nghiệp Mỹ trở nên rõ nét ít nhất là bằng sở hữu của Mỹ ở châu Âu. Sự
xuất hiện của các công ty đa quốc gia nằm ở các quốc gia đang phát triển như Ấn Độ ngược
với kiểu trước đây với thực tế có rất nhiều các công ty đa quốc gia nhỏ. Khu vực dịch vụ là
một bộ phận quan trọng của các công ty đa quốc gia và là một nhân tố đóng góp vào việc
đánh giá lại bản chất của các các công ty đa quốc gia. Người ta đã công nhận rằng hoạt động
của công ty đa quốc gia bao gồm nhiều hoạt động hơn trước đã được đánh giá lại.
II. LÝ THUYẾT KINH TẾ VÀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
1. Vận dụng của các quan điểm khác nhau
Một trong các đặc điểm quan trọng nhất của công ty đa quốc gia là nó tập hợp được rất
nhiều các lĩnh vực khác nhau, mà lẽ ra không liên quan, của phân tích kinh tế vào với nhau. Thứ
nhất, lý thuyết thương mại quốc tế có liên quan khi các công ty đa quốc gia buôn bán bên ngoài
KINH TẾ QUẢN LÝ
định không chính xác như vậy. Tương tự, cũng có thể rất tốn kém khi chuyển giao một lợi thế
ra ngoài ranh giới của doanh nghiệp gốc, điều đó làm cho người ta thích đầu tư vào đó hơn,
hoặc những nhà kinh doanh địa phương không đủ khả năng mua lợi thế này. Cả Krugman
(1981) và Porter (1985) đều nhấn mạnh khả năng bị mất quyền kiểm soát gắn liền với việc
bán một lợi thế cạnh tranh cho một doanh nghiệp độc lập mà doanh nghiệp đó có thể sử dụng
nó để trở thành một đối thủ cạnh tranh có hiệu quả trong tương lai. Về mặt nguyên lý có thể
vượt qua được điều này bằng việc phác thảo và hiệu lực hoá các hợp đồng, nhưng điều đó lại
làm nảy sinh những điểm cơ bản đã được nhấn mạnh trong phân tích của Williamson, cái
được gọi là việc kết hợp giữa sự không chắc chắn và hành vi cơ hội sẽ tạo ra sự quản lý không
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 7 – Công ty đa quốc gia
172
hiệu quả. Trong bối cảnh đa quốc gia, các giao dịch giữa các doanh nghiệp độc lập còn bị làm
khó thêm do khoảng cách về địa lý, thể chế luật pháp khác nhau và do thiếu những hợp đồng
kinh doanh không chính thức giữa các bên giao dịch, đó là những người sống trong các nền
văn hoá kinh doanh rất khác nhau.
Mặc dù việc quốc tế hoá có nhiều lợi thế so với thị trường, và đầu tư nước ngoài có xu
hướng được ưa thích hơn cấp giấy phép nhưng cũng cần phải nhớ rằng các lợi thế này không
phải là tuyệt đối. Việc cấp giấy phép là hình thức hoạt động cơ bản diễn ra trên một quy mô
đáng kể và trong một số ngành (như hoá chất và dược).
Nếu một giao dịch thị trường được thực hiện thì có rất nhiều hoạt động "tạo thị
trường" phải tiến hành mà những hoạt động này lại mất chi phí. Các bước diễn ra theo trình
tự:
Xây dựng hợp đồng
Xác định và thông tin về các chi tiết cho mỗi bên
Đàm phán
Giám sát bao gồm cả sàng lọc chất lượng
Vận chuyển hàng hoá
Trả hoặc tránh thuế
Hiệu lực hoá
việc phối hợp các hoạt động nằm ở các nước khác nhau.
Điều kiện thứ hai cho việc sản xuất quốc tế là các doanh nghiệp có lợi thế sở hữu sẽ
muốn chuyển giao những lợi thế sở hữu đó thông qua các cấp bậc quản lý chứ không phải
thông qua thị trường. Như vậy lý thuyết "quốc tế hoá" tạo ra một trong ba mạch trong hệ biến
hoá "được lựa chọn rộng". Buckley và Casson (1985) lập luận rằng sự thất bại của bản thân
các thị trường nguyên liệu đã trở thành điều kiện cần và đủ cho việc quốc tế hoá diễn ra.
Nhưng Dunning (1985) lại lập luận rằng phải phân biệt giữa khả năng quốc tế hoá cuả doanh
nghiệp và các lý do để doanh nghiệp quốc tế hoá. Như vậy rõ ràng là có những mối quan hệ
chặt chẽ giữa hệ biến hoá lựa chọn rộng và mô hình quốc tế hoá.
Mạch thứ ba của hệ biến hoá lựa chọn rộng liên quan đến vị trí sản xuất. Để việc quốc
tế hoá diễn ra không chỉ các doanh nghiệp có lợi thế sở hữu dẫn đến việc giao dịch quốc tế
hoá có hiệu quả nhất, mà còn có cả lợi thế trong việc kết hợp các đầu vào có thể trao đổi được
phát sinh từ nước gốc (như kỹ năng quản lý hoặc lợi thế công nghệ) với các đầu vào khác của
nước sở tại. Nếu không thì doanh nghiệp sẽ chỉ hoạt động ở một địa điểm. Những lợi thế như
thế có thể phát sinh theo nhiều cách. Cách rõ ràng nhất là có sự khác nhau trong các điều kiện
doanh thu và chi phí địa phương, phát sinh từ các mức lương và giá đầu vào khác nhau, hoặc
các hàng rào thương mại và tính di động của các yếu tố. Hirsh (1976) nghiên cứu sự lựa chọn
này theo quan điểm tối thiểu hoá chi phí, và khuyến nghị những khác nhau sau đây làm quy
tắc ra quyết định nên sản xuất trong nước hay sản xuất ở nước ngoài:
Xuất khẩu sang nước B nếu:
P
a
+ M < P
b
+ C trong đó:
P
a
và P
b
là chi phí sản xuất ở nước A, nước B
cực đoan thì công ty đa quốc gia là sự khuyếch đại của công ty độc quyền lớn của Mỹ, hành
động như một chuyến đi bóc lộ công nhân và người tiêu dùng và hối lộ các chính phủ độc lập.
Phía cánh tả và trung lập thì cho rằng công ty đa quốc gia là phương tiện để loại bỏ ảnh hưởng
của các lực lượng thị trường trên phạm vi toàn cầu, đem lại tính hiệu quả và sự phân bổ tài
nguyên trên toàn cầu được cải thiện. Những khái quát hoá như thế là một sự mô tả không phù
hợp cho một hiện tượng quan trọng và phức tạp như công ty đa quốc gia, cần phải có một
phân tích chi tiết hơn nữa.
2. Ảnh hưởng của công ty đa quốc gia đến các nền kinh tế sở tại
Hoạt động của công ty đa quốc gia có thể ảnh hưởng đến môi trường sở tại theo nhiều
cách khác nhau, mà mỗi cách đều đáng xem xét. Theo Hood và Young (1979) thì có thể xác
định được 4 kiểu ảnh hưởng khác nhau sau:
Các ảnh hưởng chuyển giao tài nguyên và công nghệ
Các ảnh hưởng cán cân thương mại và cán cân thanh toán
Các ảnh hưởng đến cơ cấu cạnh tranh và hoạt động
Các ảnh hưởng đến chủ quyền và tự chủ địa phương
2.1. Chuyển giao tài nguyên và công nghệ
Công ty đa quốc gia có thể nằm trong luồng vào của vốn và "công nghệ" theo định
nghĩa rộng và ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế sở tại phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong
trường hợp vốn, một luồng vào phụ thêm cho tài nguyên sẵn có cho quá trình sản xuất của
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 7 – Công ty đa quốc gia
175
nước sở tại và sự có mặt của các công ty đa quốc gia mà có các cơ hội lợi nhuận đã được xác
định sẽ giúp huy động tiền tiết kiệm trong nước. Ở nhiều nước đang phát triển có xu hướng
trở thành tiêu điểm vì họ quan tâm nhiều đến ảnh hưởng của công ty đa quốc gia thì sự có mặt
của các công ty đa quốc gia cũng có thể kích thích việc cung cấp viện trợ từ nước gốc có công
ty đa quốc gia để hỗ trợ cho các hoạt động buôn bán của họ.
Mặt khác, các công ty có thể không làm tăng lượng vốn sẵn có, phát sinh từ tài trợ địa
phương hoặc lợi nhuận tái đầu tư của các công ty con ở địa phương. Trong trường hợp này
ảnh hưởng của nó phụ thuộc vào hiệu quả của việc sử dụng vốn. Nếu các công ty đa quốc gia
Chương 7 – Công ty đa quốc gia
176
tạo tốt hơn có thể dẫn đến cải thiện hiệu quả cả theo nghĩa tĩnh của giảm chi phí và cải thiện
hoạt động marketing và nghĩa động của việc điều chỉnh nhanh hơn theo những thay đổi trong
môi trường và các cơ hội đổi mới ngay.
Mặt trái của bảng cân đối kỹ năng quả lý có thể có một sự truyền bá nhỏ các thực tế
quản lý sang ngành địa phương nếu các công ty đa quốc gia sử dụng một phần đáng kể những
người quản lý của nước gốc mà những người đó có thể cuối cùng sẽ làm việc ở các công ty đa
quốc gia hoặc có thể quay về để làm việc ở nước gốc. Mặt khác nếu họ mang theo người
những kinh nghiệm làm việc và quản lý tốt hơn (công nhân, quản đốc và những người quản lý
bản địa thấp hơn trong việc áp dụng những kỹ thuật tốt hơn thì khi đó có thể truyền bá sang
ngành bản địa khi các công nhân này chuyển công việc. Tương tự, nếu ban quản lý địa
phương tìm cách thi đua với các kỹ thuật đến cùng với các công ty đa quốc gia để cạnh tranh
với họ thì các kỹ thuật mới có thể được truyền bá hiệu quả.
2.2. Các ảnh hưởng cán cân thương mại và cán cân thanh toán
Một luồng vào các xí nghiệp đa quốc gia có thể ảnh hưởng đến cán cân thanh toán
theo nhiều cách. Nếu có luồng vốn vào thì tài khoản vốn sẽ được cải thiện, nhưng nó bị bù lại
bởi việc đem lợi nhuận và cổ tức về nước nguồn. Nếu công ty đa quốc gia mà sản xuất hàng
xuất khẩu hoặc hàng thay thế nhập khẩu thì tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán sẽ được
cải thiện. Điều này chủ yếu phụ thuộc vào giá trị đóng góp vào cho nước sở tại.
Các vấn đề cán cân thanh toán làm nảy sinh một vấn đề rất nhạy cảm về định giá
chuyển giao trong phạm vi các công ty đa quốc gia. Một trong các lý do của việc quốc tế hoá
các giao dịch là nó tạo ra các phương tiện mà một doanh nghiệp có thể đổi hướng lợi nhuận từ
các hoạt động của mình từ vị trí này sang vị trí khác bằng việc thay đổi giá nội bộ đặt cho các
sản phẩm trung gian. Những chuyển giao như thế thường đáng làm vì có những chế độ thuế
khác nhau và sự giao động của tỷ giá hối đoái.
Mức độ kích thích của giá chuyển giao phụ thuộc và sự khác nhau trong chế độ thuế ở
những nơi khác nhau, những hiệp định đánh thuế quốc tế và tính biến động của tỷ giá hối
đoái. Từ lâu các chính phủ đã cố gắng hợp tác trong đánh thuế, và tỷ giá hối đoái là ổn định
hay không ổn định thì cũng không thể đưa ra những dự đoán có ý nghĩa về hành vi của nó, vì
mức độ đảm bảo rằng mình có lợi chứ không phải các nền kinh tế sở tại có lợi. Cũng có thể có
trường hợp sự phát triển kinh tế ở các nước sở tại được điều khiển bởi các quyết định đưa ra ở
bên ngoài các nước này, vì thế làm giảm tính tự chủ của các chính phủ của các quốc gia và
khả năng của họ trong việc định hướng cho các sự kiện nằm trong biên giới của mình. Những
cân nhắc này mở ra những lĩnh vực rộng lớn hơn rất nhiều của việc bàn luận bao gồm những
vận dụng của chúng về dân chủ và tự do. Trong một thế giới mà các nước ngày càng phụ
thuộc lẫn nhau do hoạt động của các công ty đa quốc gia gây ra thì khả năng theo đuổi các
chính sách do mình tự chủ sẽ rất khó khăn.
Việc cân đối sự đánh giá ảnh hưởng của công ty đa quốc gia phụ thuộc chủ yếu và
những ưu tiên tương đối đặt ra cho tính hiệu quả nó tạo ra và ảnh hưởng của nó đến sự tự chủ
của địa phương.
IV. ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG TY ĐA QUỐC GIA ĐẾN NƯỚC GỐC
1. Các vấn đề ngược lại: công ty đa quốc gia và các nước nguồn
Phần lớn sự bàn luận về ảnh hưởng của công ty đa quốc gia liên quan đến ảnh hưởng
của nó đến các nước sở tại, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Đồng thời cũng có một
mối quan tâm nào đó, cụ thể là ở Mỹ, đến ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài trực tiếp đến
nước nguồn. Phần lớn tranh luận này là sự phản chiếu những cái có liên quan đến ảnh hưởng
đến nước sở tại, ảnh hưởng của đầu tư, mặc dù còn nghi ngờ, đến các lĩnh vực sau:
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 7 – Công ty đa quốc gia
178
Cán cân than toán
Việc làm
Mất sự dẫn đầu về công nghệ
Tránh thuế và mất chủ quyền
1.1. Những ảnh hưởng đến cán cân thanh toán
Ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài trực tiếp đến cán cân thanh toán của nước nguồn về
bản chất là ngược với ảnh hưởng đến nước sở tại. Một nguồn vốn bơm vào ban đầu làm cho
tài khoản vốn của nước nguồn xấu đi, nhưng lợi nhuận trở lại sẽ cải thiện tài khoản vãng lai.
Hàng hoá sản xuất ra ở nước ngoài có thể là thay thế cho xuất khẩu nhưng việc mở rộng kinh
179
1.3. Mất sự dẫn đầu công nghệ
Cũng giống như lợi thế chủ yếu của đầu tư nước ngoài trực tiếp đối với nước sở tại
nằm trong luồng vào các kỹ năng công nghệ, như đã lập luận, đặc biệt là ở Mỹ, các nước
nguồn đó có nguy cơ bị mất các lợi thế công nghệ của mình thông qua việc chuyển giao
chúng sang các nước khác. Lúc đầu, đây l
à một lập luận kinh tế chủ yếu, nhưng cũng có yếu
tố quân sự có liên quan mà đầu tư nước ngoài trực tiếp sắp đặt một cách có chiến lược các
công nghệ quan trọng vào các quốc gia khác mà các quốc gia đó lại có thể chuyển giao chúng
sang các nước thù địch tiềm năng. Cụ thể công nghệ computer đã được xếp vào loại này như
một hệ thống công cụ máy móc phức tạp. Trong khi lập luận quân sự có thể được chấp nhận
thì lập luận kinh tế lại kém vững chắc hơn nhiều, vì nó phản ánh các quan điểm đã nêu trên.
Trong ng
ắn hạn, nếu tiến bộ công nghệ được coi là một tài sản tĩnh "chỉ một lần", thì việc sử
dụng nó ở nhiều vị trí khác nhau có thể làm giảm hiệu suất của lao động ở vị trí đầu tiên, và
điều này có thể gây ra những vấn đề điều chỉnh. Tuy nhiên công nghệ ít khi là tĩnh, và trong
nhiều trường hợp công nghệ được chuyển giao ra ngoài thường chín muồi hơn, thậm chí là
hao mòn, ở nước nước nguồn của nó nơi mà các công nghệ mới hơn đã được tạo ra và sự dẫn
đầu về công nghệ vẫn được duy tr
ì, so với lợi thế của những nước đang sử dụng nó. Cố gắng
hạn chế việc sử dụng công nghệ đối với một vị trí địa lý cụ thể sẽ ngăn không cho công ty đa
quốc gia tổ chức một sự phân bổ tài nguyên hiệu quả nhất trên toàn cầu, vì thế hạn chế việc
phát triển của thu nhập thế giới, đối lập với thu nhập quốc gia. Cần phải nhớ rằng các hoạt
động của công ty đa quốc gia không phải "trò chơi tổng bằng không" nơi mà lợi ích và chi phí
của nước sở tại đúng bằng chi phí và lợi ích của nước nguồn. Tổng chung nhất thiết là dương
mặc dù một nước nào đó chịu thiệt.
1.4. Tránh thuế và mất chủ quyền
Vấn đề tránh thuế và mất chủ quyền về mặt bản chất là giống nhau đối với nước
nguồn và nước sở tại. Khả năng của công ty đa quốc gia ở mọi nơi đều nằm ngoài tầm tay của
chính phủ là một trong các đặc tính lý thú nhất. Những người phê chuẩn hoạt động cạnh tranh
động của mình ra trên khắp thế giới. Một số hoạt động "hạ lưu" chủ yếu như phục vụ, marketing
và bán hàng phải được định vị ở gần người mua nếu các hoạt động đó là có hiệu quả. Các hoạt
động "thượng nguồn" và các hoạt động phụ trợ phụ thuộc ít hơn vào khoảng cách đến người
mua và lợi thế cạnh tranh trong các hoạt động này có thể phụ thuộc vào sự phân rải toàn cầu của
doanh nghiệp nhiều hơn là vị trí của nó ở cá nhân các nước. Porter đã đưa ra hai khía cạnh then
chốt về cách thức mà một doanh nghiệp có thể cạnh tranh trên toàn cầu.
Khía cạnh thứ nhất là định hình các hoạt động của doanh nghiệp, cái đó đề cập đến địa
điểm mà các hoạt động đó sẽ được định vị.Thứ hai là mức độ phối hợp giữa các mặt khác
nhau của một hoạt động. Mỗi một trong hai khía cạnh này có thể thay đổi rất nhiều. Về định
hình, có nhiều phương án khác nhau nằm từ tập trung, khi một hoạt động như phát triển công
nghệ chẳng hạn, diễn ra chỉ ở một địa điểm, phục vụ hoạt động toàn cầu, đến rải rác khi một
hoạt động được thực hiện ở mọi chỗ hoặc mọi nước. Nếu tất cả các hoạt động là rải rác thì
mỗi chỗ có một chuỗi giá trị hoàn chỉnh của nó. Về phối hợp thì các phương án khác nhau là
cho tự quản hoàn toàn đến mỗi nhà máy có sự phối hợp rất chặt chẽ với hệ thống thông tin
chung, công nghệ sản xuất chung và các phương pháp quản lý chung.
Chiến lược hiện tại của một doanh nghiệp toàn cầu về cạnh tranh toàn cầu vì thế có thể
được đặc trưng bởi vị trí của nó về các khía cạnh n
ày, và các chiến lược tương lai có thể được
xem xét theo các khía cạnh đó.
Nếu một doanh nghiệp xây dựng chiến lược toàn cầu thì phải xem xét các mức độ tập
trung hay phối hợp có ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo sự dẫn đầu trong chi phí hay sự khác
biệt sản phẩm không. Trong trường hợp tập trung doanh nghiệp phải xem xét xem đặt các
hoạt động ở đâu và bao nhiêu chỗ. Với mỗi hoạt động trong chuỗi giá trị thì "ở đâu" phụ
thuộc vào các yếu tố như lợi thế cạnh tranh của mỗi chỗ, được xác định bởi các yếu tố như chi
phí lao động, và "bao nhiêu" sẽ phụ thuộc vào tầm quan trọng của các yếu tố làm giảm chi phí
như tính kinh tế của quy mô, tính kinh tế của phạm vi và ảnh hưởng rút kinh nghiệm. Mức độ
phối hợp tối ưu phụ thuộc vào lợi thế mà lợi thế đó có thể bắt nguồn từ mức độ phối hợp cao
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 7 – Công ty đa quốc gia
181