LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Marketing nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh của Nhà xuất
bản Giao thông vận tải Chuyên đề tốt nghiệp
1
LỜI NÓI ĐẦU
marketing đã kết hợp với thực tiễn quan sát phân tích các chỉ tiêu về nhà
xuất bản giao thông vận tải, tôi đã chọn đề tài: "Một số giải pháp
Chuyên đề tốt nghiệp
2
marketing nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Nhà xuất
bản Giao thông vận tải"
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu hoạt động kinh doanh sách và văn
hoá phẩm dưới quan điểm marketing từ đó xây dựng các chiến lược
marketing và các giải pháp marketing nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
của công ty.
Kết cấu đề tài được chia làm 3 chương:
Chương I:
Những lý luận chung về marketing trong hoạt động
kinh doanh
Chương II:
Thực trạng sản xuất kinh doanh của Nhà xuất bản
giao thông vận tải
Chương III:
Các giải pháp marketing nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh của Công ty Chuyên đề tốt nghiệp
3
Chương I
phối các sản phẩm dịch vụ và tư tưởng để tạo ra sự trao đổi nhằm thoả
mãn các mục tiêu cá nhân và tổ chức, hay "Marketing là một quá trình
Chuyên đề tốt nghiệp
4
quản lý mang tính xã hội nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những
gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi
những sản phẩm có giá trị với những người khác".
Theo Philip Kotler "Marketing là hoạt động các con người hướng tới
sự thoả mãn nhu cầu và ước muốn thông qua các tiến trình trao đổi".
Sự khác nhau giữa các định nghĩa này chỉ ở quan điểm góc độ nhìn
nhận về marketing. Mặc dù các định ngh
ĩa này cho phép cả các quá trình
trao đổi không kinh doanh như là một bộ phận của marketing thì sự
nghiên cứu tập trung vào marketing trong môi trường kinh doanh.
2. Vai trò và vị trí của Marketing trong hoạt động kinh doanh
Một doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động thị trường nếu muốn
tồn tạivà phát triển thì cẩn phải có các hoạt động chức năng sau: sản xuất
tài chính, quản trị nhân lực Nhưng đối với nền kinh tế thị trường hoạt
động củ
a các chức năng này chưa có gì đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại
và càng không có gì đảm bảo chắc chắn cho sự phát triển của doanh
nghiệp nếu tách rời nó khỏi một chức năng khác. Chức năng kết nối mọi
hoạt động của doanh nghiệp với thị trường.
Chức năng này thuộc lĩnh vực quản lý khác - quản lý Maketing.
Thật vậy nếu một doanh nghiệp chỉ tậ
p trung vào sản xuất ra nhiều
sản phẩm với chất lượng cao thì chưa chắc sẽ có hai vấn đề thực tế đặt ra
với doanh nghiệp.
Thứ nhất liệu thị trường có cần hết mua sô sản phẩm của doanh
các khả năng về tài chính, sản xuất công nghệ, tay nghề, khả năng của
người lao động, khả năng cung ứng nguyên vật liệu.
3. Chiến lược maketing hỗn hợp (maketing - Mix)
Maketing hỗn hợp (maketing - Mix) là tập hợp những công cụ
maketing mà Công ty sử dụng theo đuổi những mục tiêu maketing trên thị
trường mục tiêu. Trong maketing - mix có hàng chục công cụ khác nhau
nhưng ở đây ta đưa ra 4 công cụ chủ yếu là: sản phẩm (product), giá cả
(price), phân phối (place) khuyến mãi (pronotion). Maketing - mix của
công ty tại một thời điểm tương đối với một sản phẩm cụ thể có thể được
biểu diễn bằng (P1,P2,P3,P4).
Marketing - Mix
Chủng
loại chất
lượng
mẫu mã
tính nưng
tên nhãn
bao bì
Kênh
phạm vi
dịch vụ
hàng hoá,
địa điểm,
dự trữ,
v
ận
sản phẩm Phân phối
Hình 2: Chiến lược maketing - Mix
3.1 Chiến lược sản phẩm (produet)
Thị trường mục tiêu
Giá cả:
Giá quy định
Chiết khấu
Bớt giá
Kỳ hạn thanh toán
Điều kiện trả chậm
Khuyến mãi:
Kích thích tiêu thụ
Quảng cáo
Lực lượng bán hàng
Quan hệ với công chúng
Marketing trực tiếp
Kích thích
tiêu thụ
Quảng
cáo
Lực lượng
bán hàng
- Giai đoạn phát triển
- Giai đoạn chín muồi
- Giai đoạn suy thoái
Một sản phẩm sẽ trải qua 4 giai đoạn trên, đến thời kỳ suy thoái tức
là sản phẩm đó không tồn tại các nhà sản xu
ất lại. Tuy sản phẩm mới vào
thị trường và lại trải qua các giai đoạn trên. Cứ như thế thành chu kỳ sống
sản phẩm.
3.2 Chiến lược giá cả (price)
Là việc xác định mục tiêu chiến lược giá, lựa chọn các phương pháp
được giá sao cho có hiệu quả thì phải dựa vào 3 yếu tố đó là cung cầu và
các yếu tố này Công ty không chỉ định ra mức giá phù hợp mà còn phải
xây dựng chương trình chiế
n lược giá cả để có thể thích ứng một cách
nhanh chóng với những thay đổi về cung, cầu trên thị trường, khai thác tối
đa những cơ hội thuận lợi để phản ứng kịp thời thủ đoạn cạnh tranh về giá
của các đối thủ cạnh tranh. Các nhà quản trị có thể áp dụng một số chiến
lược sau:
- Xác định chiến lược có thể áp dụng cho sản ph
ẩm mới.
- Chiến lược giá áp dụng cho danh mục hàng hoá
- Định giá hai phần
- Định giá trọn gói
- Định giá theo nguyên tắc địa lý
- Chưa biết giá và biết giá
Chuyên đề tốt nghiệp
8
- Định giá khuyến mại
- Định giá phân biệt
hiện nay và họ phải kết hợp 4 công cụ trên một cách hợp lý để có thể tạo
ra một chương trình hoạt động marketing hiệu quả.
Chuyên đề tốt nghiệp
9
II- ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP
1- Sự cần thiết và vai trò của kinh doanh
Hiện nay, mỗi quốc gia cũng như cá nhân không thể sống riêng rẽ mà
có đủ mọi thứ được. Vì vậy đòi hỏi họ phải có sự trao đổi diễn ra trên thị
trường và thị trường ở đây không chỉ giới hạn ở trong nước mà còn có sự
trao đổi giữa các quốc gia khác nhau.
Sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ thông qua hành vi mua bán gọi là
kinh doanh, là hình thưc của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc
lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa riêng biệt của các
doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp hiện nay muốn tồn tại và phát triển thì họ phải có
khả năng kinh doanh mà trong kinh doanh có lãi, lỗ Các doanh nghiệp
hoạt động đều muốn thu được doanh thu và lợi nhuận cao. Điều đ
ó tất yếu
phải tiến hành hoạt động kinh doanh. Nếu một doanh nghiệp nào mà khả
năng kinh doanh kém, không sáng tạo và mọi hoạt động đều mang tính tự
phát không theo một quy luật, chính sách nào thì hoạt động của họ sẽ
không đạt kết quả như mong muốn, dẫn tới tình trạng thua lỗ và có khả
năng bị phá sản do nợ nần chồng chất mà không có khả năng thanh toán.
Trong kinh doanh các doanh nghiệp phải có các thủ thuật chi
ến lược để
cho nó hoạt động có hiệu quả nhất.
Kinh doanh đóng một vai trò sống còn của doanh nghiệp, có nhiệm
vụ thúc đẩy doanh nghiệp phát triển nhằm đạt kết quả khả quan cả về
nhiều hình thức hoạt động kinh doanh trên thị trường mà các doanh
nghiệp sử dụng, có doanh nghiệp sử dụng hình thức này, có doanh nghiệp
sử
dụng hình thức kia, họ cho là hình thức kinh doanh mà mình sử dụng là
có hiệu quả, nhưng mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp là doanh số
và ln để có khả năng tồn tại và phát triển.
III- ĐẶC ĐIỂM MARKETING TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
Trong những năm gần đây, hoạt động marketing trở nên phổ biến ở
các doanh nghiệp, trong nền kinh tế thị trường, khi có rất nhiều các doanh
nghiệp tham gia vào hoạt động kinh tế thì tất y
ếu sẽ dẫn đến sự cạnh tranh
gay gắt để các doanh nghiệp luôn tạo lợi thế về cho mình. Vì vậy hầu hết
các doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ và có danh tiếng trên thị trường thì
họ đều sử dụng các công cụ kích thích kinh doanh và khả năng cạnh tranh,
cụ thể là các công cụ marketing. Họ sớm nhận thức được vai trò và tính
chất quyết định của marketing. Chính vì vậy khi họ tham gia vào thị
trường họ
đã xác định chiến lược marketing để hoạt động phù hợp với cơ
Chuyên đề tốt nghiệp
11
chế thị trường. Sau đó tùy theo sự biến động của thị trường họ sẽ điều
chỉnh thay đổi và hoàn thiện hơn các chiến lược marketing.
Các doanh nghiệp đều nhận thức được tính chất quyết định của hoạt
động marketing nhưng tùy thuộc vào khả năng của họ có thực hiện được
hay không. Đa số các doanh nghiệp thành công hiện nay họ có bản lĩnh,
kiên trì và bi
ết chấp nhận những khó khăn thử thách mà họ phải vượt qua.
Như vậy marketing trong doanh nghiệp rất đa dạng, có rất nhiều hình
thức và công cụ tốt để kích thích hoạt động kinh doanh. Nhưng hoạt động
thâm nhập và phát triển thị trường bên ngoài. Việc lựa chọn thị trường
mục tiêu là một quá trình đánh giá các cơ hội thị trường và xác định các
định hướng thị trường đồng thời cũng phải dựa trên 2 cơ sở là mục tiêu và
chính sách của Công ty, cơ sở này lại phụ thuộc vào tổng doanh số và lợi
nhu
ận của Công ty.
Như vậy dựa trên các cơ sở đã thu thập được, doanh nghiệp sẽ lựa
chọn cho mình thị trường mục tiêu, và nỗ lực cao trong hoạt động
marketing ở thị trường này.
2- Môi trường marketing trong doanh nghiệp
Môi trường marketing có ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải có những thông
tin chính xác về môi trường marketing để rồi từ đó có nh
ững quyết định
quan trọng đến hoạt động kinh doanh của mình.
2.1. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Nó quyết định sức hấp dẫn của thị trường mục
tiêu thông qua việc phản ánh tiềm năng thị trường và cơ sở hạ tầng. Việc
đánh giá mức độ hấp dẫn có thể căn c
ứ vào 3 yếu tố: dân số, cơ cấu kinh
tế, mức sống của dân cư. Những đặc trưng này của môi trường kinh tế
được sử dụng làm tiêu thức để phân đoạn trong thị trường mục tiêu.
2.2. Môi trường văn hóa
Môi trường văn hóa có ảnh hưởng đặc biệt đến hoạt động marketing
trên thị trường vì mỗi dân tộc, khu vực có một nếp sống và phong tục
khác nhau, đây là c
ơ sở để cho các nhà nghiên cứu nhũng hành vi, ứng xử,
thái độ để đưa ra quyết định marketing cuối cùng để đáp ứng những nhu
cầu theo từng khu vực.
phẩm, chính sách giá cả, chính sách phân phối và chính sách khuyếch
trương là các chính sách quan trọng để lập kế hoạch, chương trình hoạt
động marketing của mình.
Nói chung, tính cạnh tranh trên thị trường sách báo cũng gay gắt
không kém đối với các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm khác. Thị
trường sách báo có nhiều biến độ
ng do có nhiều hãng hay Công ty được
thành lập đặc biệt là Công ty xuất nhập khẩu báo chí Xuhasaba và một số
Công ty khác ở thành phố Hồ Chí Minh.
2- Cung - cầu thị trường sách, báo
2.1. Cung về thị trường sách, báo
Chuyên đề tốt nghiệp
14
Cung về sản phẩm sách báo trên thị trường rất lớn, các sản phẩm
sách, báo đều phải cần tới nguyên vật liệu chính đó là giấy để sản xuất và
xuất bản các loại sách, báo, tạp chí. Các nhà máy giấy trên cả nước là nơi
cung cấp toàn bộ nguyên vật liệu cho công tác xuất bản - hàng năm sản
lượng mà các nhà máy giấy được tiêu thụ rất lớn chứng tỏ cung về sản
phẩ
m sách báo là rất lớn, đồng thời luôn có các nhà nghiên cứu, nhà văn,
nhà khoa học, kỹ thuật và công nghệ cung cấp nhiều đề tài hấp dẫn và
phong phú về nội dung cũng như chất lượng để cho các Nhà xuất bản và
các Công ty phát hành sách, báo có thể cho ra sản phẩm phù hợp với nhu
cầu của thị trường về sản phẩm sách báo.
2.2. Cầu về sản phẩm sách báo trên thị trường
Ngày nay do nền kinh tế nước ta đang đi vào
ổn định và phát triển,
cho nên đời sống nhân dân ổn định và trình độ học vấn được nâng cao vì
vậy nhu cầu về sản phẩm sách báo ngày càng tăng và rất đa dạng, hiện
Đảng và Nhà nướ
c là các yếu tố trong chính trị sẽ ảnh hưởng tới cung -
cầu; Nhà nước có chủ trương và quy định về tiêu chuẩn sản xuất và xuất
bản cho nên tùy vào quy định và tiêu chuẩn Nhà nước quy định; cung -
cầu về thị trường sách báo sẽ thay đổi.
+ Yếu tố luật pháp: Yếu tố này cũng ảnh hưởng quan trọng tới cung -
cầu. Nó cho phép các nhà sản xuất với tư cách pháp nhân cung cấp những
sản phẩm cho nhu c
ầu về sách báo và họ phải chịu trách nhiệm mọi hoạt
động của mình với pháp luật, với Nhà nước. Cung cũng như cầu luôn phải
tuân thủ theo pháp luật.
Chuyên đề tốt nghiệp
16
Chương II
THỰC TRẠNG KINH DOANH SÁCH VÀ VĂN HÓA PHẨM CỦA
NHÀ XUẤT BẢN GIAO THÔNG VẬN TẢI
I - SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ XUẤT BẢN
1- Lịch sử hình thành
Ngày 7 / 7 / 1983 được sự đồng ý của Bộ văn hóa và thông tin về
việc thành lập Nhà xuất bản Giao thông Vận tải, Bộ Giao thông Vận tải đã
ra quyết định thành lập Nhà Xuất bản.
Tên gọi: Nhà xuất bản giao thông vận tải
Tr
ụ sở chính: 80B Trần Hưng Đạo - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Số đăng ký kinh doanh: 108752 - DNNN
Theo Quyết định trên thì Nhà xuất bản là một doanh nghiệp nhà nước
trực thuộc Bộ giao thông vận tải chuyên sx kinh doanh các loại sách và
văn hóa phẩm và in ấn các loại trong và ngoài ngành. Loại hình doanh
đúng tiêu chuẩn chất lượng mà cấp trên đề ra và đồng thời cũng nắm bắt
những thông tin về văn hóa xã hội, kinh tế
- chính trị để xuất bản và phát
hành các loại sách rộng khắp mọi nơi để đáp ứng nhu cầu nâng cao hiểu
biết và dân trí cho mọi người trong xã hội.
Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất bản, tự thiết lập mối quan hệ với
các bạn hàng, tìm thị trường tiêu thụ và ký kết hợp đồng xuất bản với các
bạn hàng có đơn đặt hàng tại Nhà xuất bản.
Lập các k
ế hoạch, dự án dài hạn, trung và ngắn hạn và các kế hoạch
tác nghiệp theo sự hướng dẫn và yêu cầu của cơ chế quản lý mới.
Quản lý cán bộ công nhân viên và tài sản của Công ty theo đúng chế
độ chính sách của Nhà nước.
Có nghĩa vụ sử dụng các nguồn vốn kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn
vốn và có lãi.
Chấp hành đúng nghĩa vụ nộp thuế, ngân sách cho Nhà nước, chịu sự
kiểm tra, giám sát củ
a các cơ quan chức năng trong ngành cũng như cơ
quan quản lý nhà nước. Có trách nhiệm thực hiện và chấp hành nghiêm
chỉnh các chế độ quy định của pháp luật.
3- Điều kiện kinh doanh của Nhà xuất bản
3.1 - Khả năng về nhân lực
Chuyên đề tốt nghiệp
18
Khi đặt tới vấn đề vai trò nhân lực, tức là nói đến số lượng và chất
lượng cán bộ công nhân viên trong cơ quan. Các nhân viên không nhất
thiết phải đông, mà yêu cầu đặt ra là họ phải có đạo đức, trình độ và
nghiệp vụ cao, khả năng tổ chức và quản lý tốt - và được phân bổ chức
năng và nhiệm vụ phù hợp với từng người.
của cán bộ các phòng ban đã tạo ra một khí thế ganh đua giữa các phòng
kinh doanh khác nhau nhằm tạo hiệu quả kinh doanh có lợi rất nhiều cho
Công ty. Các phòng ban đều cố gắng hoàn thành chỉ tiêu giao cho và đạt
hiệu quả hơn thế nữa.
3.3. Khả năng tài chính và cơ sở vật chất kinh doanh
Hiện tại là một doanh nghiệ
p hạch toán kinh tế độc lập vốn được cấp
trên cấp cho để hoạt động sản xuất kinh doanh và có tài khoản tại Ngân
hàng Công thương.
Về khả năng tài chính: Vốn hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm
vốn cố định và vốn lưu động.
- Vốn cố định: 534.167.000 đồng
- Vốn lưu động: 1.204.557.049 đồng
Về cơ sở vật chất kỹ thuật gồ
m có:
2 Xưởng in Nhà xuất bản với những thiết bị hiện đại bao gồm: 2 máy
ofset 8 trang của Nhật và 4 máy 4 trang của Tiệp khắc, máy vi tính, máy
fax.
Có hai nhà 4 tầng với tổng diện tích: 1.200 m2, các nhà kho, các khu
bãi để các loại xe.
4- Cơ cấu tổ chức bộ máy
Như phần trên đã nêu, Nhà xuất bản bao gồm 11 phòng ban chức
năng và các chi nhánh trên toàn quốc, trong đó có Ban Giám đốc.
Và sơ đồ cơ cấu tổ chức của Nhà xuất bả
n như sau:
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC NHÀ XUẤT BẢN GTVT
Ban Giám đốc
Nhà xuất bản
Chi nhánh tại TP
phận này có trách nhiệm giữ gìn trật tự an ninh, chống mất mát tài sản và
kiểm tra những người ra vào Công ty.
Phòng kế toán - tài vụ là phòng quản trị Công ty v
ề mặt tài chính - kế
toán, phòng có nhiệm vụ quản lý về mặt tài chính cho Công ty, cụ thể là
các công việc theo dõi tình hình biến động tài chính cũng như kết quả sản
xuất kinh doanh của công ty để báo cáo thường xuyên lên Giám đốc:
Phòng có nhiệm vụ phải lập các bản báo cáo hàng tháng, quý, năm để theo
dõi tình hình biến động về tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh để báo
cáo thường xuyên lên cho Giám đốc và cho các cơ quan quản lý Công ty
như Ngân hàng mà Công ty đặt tài khoản.
Phòng cũng có nhiệ
m vụ hạch toán kinh tế cho Công ty - ngoài ra
còn có các nghiệp vụ kế toán, thống kê theo đúng quy định của Nhà nước
ban hành.
Chuyên đề tốt nghiệp
21
Phòng kỹ thuật và văn hóa truyền thống
Phòng có nhiệm vụ chuyên về kỹ thuật, có nhiệm vụ xem xét các
trang thiết bị để sửa sang nâng cấp chất lượng máy móc thiết bị, phòng
này cũng có nhiệm vụ là sản xuất những loại sách văn nghệ truyền thống.
Phòng sản xuất văn hóa phẩm có nhiệm vụ in ấn và phát hành các
loại văn hóa phẩm, nhận hợp đồng đặt hàng cho nhữ
ng ai có nhu cầu, các
loại văn hóa phẩm như lịch in, lịch blox
Trung tâm tư vấn xuất bản miền Trung có nhiệm vụ tư vấn xuất bản
cho khu vực miền Trung, tư vấn các nghiệp vụ xuất bản, kinh doanh cho
Nhà xuất bản
4. Đặc điểm kinh doanh của Công ty
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, Công ty phải nghiên cứu và tìm
cho mình một thị
trường mục tiêu và khách hàng mục tiêu để tung sản
phẩm của Công ty vào thị trường. Muốn thực hiện được điều này thì Công
ty cần phải nỗ lực tối đa vào khả năng, nhạy cảm và thích ứng với thị
trường để đưa ra những kế hoạch chiến lược cụ thể cho việc thực hiện
mục tiêu này.
II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
NHÀ XU
ẤT BẢN
1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Nhà xuất bản
Nhà xuất bản Giao thông vận tải là một doanh nghiệp Nhà nước, trực
thuộc Bộ giao thông vận tải, được thành lập vào năm 1983 nên chịu ảnh
hưởng nhiều của cơ cấu kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, mọi hoạt
động kinh doanh đều do Nhà nước trực tiếp điều hành.
Từ đại hội VI (1986), thực hi
ện chủ trương đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế, xóa bỏ cơ chế cũ, thay vào đó là nền kinh tế thị trường hay cơ cấu
kinh tế hàng hóa có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước không can thiệp
sâu vào các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mà các doanh
nghiệp được quyền hạch toán tự chủ và chịu trách nhiệm về quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình.
Nhà xuất bản sản xu
ất và phát hành có nội dung và chất lượng đúng
với tiêu chuẩn của cấp trên giao cho, phát hành các loại sách về chuyên
ngành giao thông vận tải và khoa học kỹ thuật với mục đích cung ứng
sách cho nhu cầu nghiên cứu khoa học kỹ thuật, giao tiếp vận tải và làm
tăng mức danh thu cho doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát triển lâu
dài.
2. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà xuất bản
đồng
4.700 6.500 138%
Lãi ròng - 1.800 137%
Nộp NSNN - 1.050 1.340 127%
Đầu sách Số lượng 110 187 170%
Bản in Số bản 165 260 157%
1998
Tổng doanh thu Triệu
đồng
6.800 12.024 180%
Lãi ròng - 2.500 140%
Nộp NSNN - 1.500 1.950 130%
Số liệu do Phòng kế toán Tài vụ Nhà xuất bản.
Chuyên đề tốt nghiệp
24
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng trong kinh doanh của Nhà xuất
bản
Chỉ tiêu Đơn vị 1996 1997 %96/9
7
1998 %97/9
8
Tổng doanh
thu
thông vận tải, các Cơ quan ngành từ Trung ương đến địa phươ
ng, bằng sự