i
LỜI CẢM ƠN
Lời cảm ơn đầu tiên em gửi lời biết ơn đến ba mẹ là người luôn chăm lo, động
viên, khuyến khích, giúp cho em từng bước trưởng thành và có được như ngày hôm
nay.
Lời cảm ơn tiếp theo, em cũng xin cảm ơn quý thầy cô khoa Kinh Tế Trường
Đại Học Nha Trang đã truyền đạt những kiến thức cũng như những kinh nghiệm
quý báu giúp ích cho em suốt quá trình học tập. Và đặc biệt hơn nữa, em xin gửi
lòng biết ơn cô Phạm Thị Thanh Thủy đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo em trong
suốt thời gian thực tập vừa qua để em có thể hoàn thành tốt đồ án tốt nghiệp này.
Tiếp theo em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các chú các bác đi
lưới cản, các chủ nậu vựa trong cảng Hòn Rớ, những cô bán sỉ, lẻ ở các chợ đầu
mối, công ty chế biến … đã tạo điều kiện cho em thu thập tốt số liệu trong quá
trình thực tập.
Và cũng xin gửi lời cám ơn đến bạn bè, anh em, họ hàng và mọi người đã giúp
đỡ tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này.
Cuối cùng, xin chúc các thầy cô sức khỏe dồi dào, các bạn luôn thành công và
các tác nhân trong chuỗi có được công việc làm ăn tốt nhất.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nha trang, tháng 6 năm
2012
Sinh
viên
Nguyễn Việt Hằng Nga
1.6.2 Quy định IUU 22
1.7 Các nghiên cứu về chuỗi giá trị các mặt hàng ở Việt Nam 23
CHƯƠNG II 27
THỰC TRẠNG PHÂN PHỐI THU NHẬP GIỮA CÁC TÁC NHÂN TRONG
CHIUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM CÁ NGỪ SỌC DƯA 27
2.1. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 27
iii
2.1.1. Điều kiện phát triển sản xuất thủy sản 27
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 28
2.2. Tình hình khai thác và tiêu thụ cá ngừ Việt Nam 29
2.2.1. Giới thiệu về cá Ngừ 29
2.2.2. Tình hình khai thác và tiêu thụ cá Ngừ 31
2.2.3. Một số khó khăn trong việc sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm cá ngừ 33
2.2.4. Dự báo sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm cá Ngừ của Việt Nam 35
2.3. Phân tích nhân tố cấu trúc 36
2.3.1. Các tác nhân trong chuỗi cá ngừ Sọc Dưa 37
2.3.2 Tình hình cạnh tranh mặt hàng cá ngừ Sọc Dưa của các tác nhân trong chuỗi
giá trị 42
2.3.3. Quá trình hình thành giá 45
2.4. Phân tích các nhân tố thực hiện 48
2.4.1. Thông tin thị trường 48
2.4.2. Hoạt động thương lượng, giao dịch mua bán giữa các tác nhân trong
chuỗi.
50
2.4.3. Hoạt động truy xuất nguồn gốc xuất xứ của các tác nhân trong chuỗi 52
Ngư dân 52
2.4.4. Vấn đề rủi ro 53
2.4.5. Hoạt động quản lý và kiểm soát chất lượng sản phẩm của các tác nhân
KẾT LUẬN 74
KIẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 81
v
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Tên viết tắt
Tiếng
Anh
Tiếng Việt
CL
Chất lượng
EC
European Commission
Ủy ban châu Âu
EU
European Union Liên minh châu Âu
FAO
Unreported fishing
Hoạt động đánh bắt cá bất hợppháp, không có báo cáo
NK
Nhập khẩu
SCP
Structure–Conduct–Performance
VASEP
Vietnam Association of Seafood
Exporters
And
Pr
o
duc
e
rs
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu
Th
ủ
y
S
Hình 1.1: Chuỗi giá trị áp dụng cho một doanh nghiệp 6
Hình 1.2: Sơ đồ giá trị tăng thêm trong toàn chuỗi giá trị 8
Hình 1.3: Chuỗi cung ứng hợp nhất 11
Hình 1.4. Chuỗi giá trị mở rộng 13
Hình 1.5. Chuỗi cung ứng tổng quát 14
Hình 1.6. Mô hình 5 lực lượng 18
Hình 2.1: Sơ đồ cấu trúc thị trường cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang 37
Hình 2.2: Ngư dân tại cảng Hòn Rớ 38
Hình 2.3: Hoạt động của chủ nậu tại cảng Hòn Rớ 39
Hình 2.4. Giá cá thu mua của các nậu vựa và giá xuất khẩu cá cấp đông từ………46
Hình 2.5: Thể hiện Chi phí, lợi nhuận biên, giá trị tăng thêm theo tác nhân kênh 1.60
Hình 2.6: Thể hiện Chi phí, lợi nhuận biên, giá trị tăng thêm theo tác nhân kênh 2.62
Hình 2.7: Thể hiện Chi phí, lợi nhuận biên, giá trị tăng thêm theo tác nhân kênh 3.63
Hình 2.8: Thể hiện Chi phí, lợi nhuận biên, giá trị tăng thêm theo tác nhân kênh 4.64
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Mô hình SCP cho một ngành 15
năm gần đây tình hình kinh tế bất ổn gây ra nhiều khó khăn cho các tác nhân tham
gia trong chuỗi giá trị, bên cạnh đó tình hình khai thác cũng gặp nhiều khó khăn
hơn khi sản lượng đánh bắt ngày càng suy giảm, thời tiết bắt đầu chuyển biến phức
tạp hơn. Vì vậy tất yếu dẫn đến tình trạng cạnh tranh ngày càng khốc liệt mà hậu
quả là có thể làm giảm lợi ích đáng kể của một số tác nhân trong chuỗi giá trị. Vì
vậy, để phát triển ngành thủy sản một cách bền vững và có hiệu quả chúng ta cần
phải tối đa hóa giá trị và lợi ích của các tác nhân, hướng đến sự phát triển bền vững
của ngành.
Để đánh giá được những thay đổi trong chuỗi giá trị cũng như là sự thay đổi
thu nhập của các tác nhân trong chuỗi và đề xuất những giải pháp thích hợp cho
việc phát triển ngành này ở Khánh Hòa việc nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu sự phân
phối thu nhập giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị sản phẩm cá ngừ Sọc
Dưa thành phố Nha Trang”. Là đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình. 2 2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Tìm hiểu sự phân phối thu nhập giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị
sản phẩm cá ngừ Sọc Dưa thành phố Nha Trang. Trên cơ sở đó, đưa ra các khuyến
nghị chính sách và giải pháp thực hiện.
Mục tiêu cụ thể
Phân tích cấu trúc chuỗi giá trị mặt hàng thủy sản cá ngừ Sọc Dưa và vai trò
của các tác nhân trong chuỗi giá trị.
Đánh giá sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị.
Đề xuất các khuyến nghị về mặt chính sách nhằm bảo vệ lợi ích chung cho
các tác nhân tham gia trong chuỗi.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Ngoài phần tổng quan về đề tài, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, mục
lục và phụ lục, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng phân phối thu nhập giữa các tác nhân trong chuỗi giá
trị sản phẩm cá ngừ Sọc Dưa.
Chương 3: Giải pháp phân phối lại thu nhập giữa các tác nhân
4 CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Chuỗi giá trị
1.1.1. Khái niệm về chuỗi giá trị (value chain)
Ngày nay, chuỗi giá trị đang là một vấn đề được nhiều ngành, nhiều đối
tượng chủ thể trong nền kinh tế quan tâm. Vì vậy, chúng ta có rất nhiều khái niệm
cho một chuỗi giá trị của một doanh nghiệp, của một ngành và chuỗi giá trị
động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của
tất cả các hoạt động cộng lại. Điều quan trọng là không để pha trộn các khái niệm
của chuỗi giá trị với các chi phí xảy ra trong suốt các hoạt động.
Theo đó khi đi qua lần lượt các hoạt động của chuỗi mỗi sản phẩm nhận được
một số giá trị. Các hoạt động chính là các hoạt động liên quan đến việc chuyển đổi
về mặt vật lý, quản lý sản phẩm cuối cùng để cung cấp cho khách hàng. Các hoạt
động bổ trợ là các hoạt động nhằm hỗ trợ cho các hoạt động chính [14]. Tuy nhiên,
khái niệm chuỗi giá trị mà Michael E. Porter nghiên cứu là chuỗi giá trị của một
doanh nghiệp nhưng nó là khái niệm cơ bản để hiểu được chuỗi giá trị của ngành
hàng.
Mô hình chuỗi giá trị của Porter chia hai mảng hoạt động chính: hoạt động bổ
trợ và hoạt động chính.
Các hoạt động chính [12]
- Hậu cần đến (inbound logistics): những hoạt động này liên quan đến việc
nhận, lưu trữ và dịch chuyển đầu vào sản phẩm, chẳng hạn như quản trị nguyên vật
liệu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sản phẩm cho nhà
cung cấp.
- Sản xuất: các hoạt động tương ứng với việc chuyển đổi đầu vào thành sản
phẩm hoàn thành, chẳng hạn như gia công cơ khí, đóng gói, lắp ráp, bảo trì thiết
bị, kiểm tra, in ấn và quản lý cơ sở vật chất.
- Hậu cần ra ngoài (outbound logistics): đây là những hoạt động kết hợp với
việc thu thập, lưu trữ và phân phối hàng hóa vật chất sản phẩm đến người mua,
chẳng hạn như quản lý kho bãi cho sản phẩm hoàn thành, quản trị nguyên vật liệu,
quản lý phương tiện vận tải, xử lý đơn hàng và lên lịch trình – kế hoạch.
- Marketing và bán hàng: những hoạt động này liên quan đến việc quảng cáo, 6
- Quản trị nguồn nhân lực: đây chính là những hoạt động liên quan đến việc
chiêu mộ, tuyển dụng, đào tạo, phát triển và quản trị thù lao cho toàn thể nhân viên
trong tổ chức, có hiệu lực cho cả các hoạt động chính và hoạt động bổ trợ.
- Cơ sở hạ tầng công ty: công ty nhìn nhận ở góc độ tổng quát chính là khách
hàng của những hoạt động này. Chúng không hỗ trợ chỉ cho một hoặc nhiều
các hoạt động chính mà thay vào đó chúng hỗ trợ cho cả tổ chức.
Chuỗi giá trị của ngành:
Chuỗi giá trị cho một ngành công nghiệp là một đại diện vật chất của các quá
trình khác nhau có liên quan đến sản xuất hàng hóa (dịch vụ), bắt đầu từ nguyên
liệu ban đầu và kết thúc với giao nhận các sản phẩm hoàn chỉnh (còn được gọi là
chuỗi cung cấp). Chuỗi giá trị cho một ngành công nghiệp gồm các hoạt động chuẩn
bị cho quá trình sản xuất, các hoạt động sản xuất (bao gồm cung ứng các máy móc
thiết bị, hệ thống máy tính, nguyên vật liệu, sản xuất sản phẩm,…) và các hoạt động
thương mại.[16]
Chuỗi giá trị được hiểu là một loạt các chuyển đổi từ nguyên vật liệu (giai
đoạn đầu) đến khi giao sản phẩm/dịch vụ hoàn chỉnh đến người tiêu dùng cuối
cùng (giai đoạn cuối). Trong chuỗi giá trị toàn cầu có sự tham gia của nhiều công
ty và nhiều quốc gia với những chức năng khác nhau; một số cung cấp nguyên vật
liệu, một số sản xuất sản phẩm cuối cùng, và một số chuyển giao sản phẩm
này đến người tiêu dùng cuối cùng [17].
Xuất phát từ các định nghĩa trên, chuỗi giá trị thủy sản được hiểu là sự
liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi, bao gồm nhà cung ứng đầu vào (ngư dân/hộ
nuôi trồng thủy sản và người cung ứng dịch vụ như con giống, thức ăn, thuốc, tín
dụng, kỹ thuật,…), nhà mua bán trung gian, nhà chế biến, nhà nhập khẩu, nhà buôn
bán, nhà bán lẻ và người tiêu dùng thông qua dòng sản phẩm trước và dòng thông
tin phản hồi sau [1].
8
gia muốn giao dịch với nhau nhiều lần lập đi lập lại, chúng ta có thể gọi đó là mối
quan hệ mạng lưới bền bỉ. Loại quan hệ này có mức độ tin cậy cao hơn và phụ
thuộc lẫn nhau ở mức độ nhất định. Quan hệ này có thể được chính thức hóa thông
qua hợp đồng, nhưng không nhất thiết.
1.1.2. Tầm quan trọng của phân tích chuỗi giá trị
Khi phân tích chuỗi giá trị cho ta biết tổng thu nhập của chuỗi giá trị thành
những khoản mà các tác nhân khác nhau trong chuỗi giá trị nhận được. Để hiểu
được sự phân phối thu nhập này thì phân tích cuỗi giá trị là cách duy nhất có được
thông tin đó.
Phân tích chuỗi giá trị có thể làm sáng tỏ việc các tác nhân được kết nối với
nền kinh tế toàn cầu như thế nào, năng xuất mà các tác nhân phải nâng cao hoạt
động và do đó mà tự đặt mình vào con đường tăng trưởng bền vững.
Phân tích chuỗi giá trị gia tăng của ngành: một ngành có thể được ví như
một doanh nghiệp lớn, mỗi doanh nghiệp trong ngành có thể xem như một bộ phận
của cái doanh nghiệp lớn đó, tham gia vào một số công đoạn để chế biến từ đầu
vào thành đầu ra cung cấp cho thị trường. Ví dụ: trong ngành công nghệ thông tin,
từ linh kiện điện tử sẽ phải trải qua các nhà sản xuất phần cứng, phần mềm, tích
hợp hệ thống, quản trị mạng, quản trị website để cuối cùng cung cấp cho người
dùng những nội dung được đăng tải. Một số ngành có thể có nhiều chuỗi giá trị
gia tăng khác nhau, liên quan đến các sản phẩm khác nhau. Trong mỗi chuỗi giá trị
gia tăng như vậy, phần đóng góp của mỗi công đoạn sẽ có giá trị khác nhau. Phân
tích ngành giúp ta nhìn ra giá trị của mỗi công đoạn, nhận diện xu hướng biến
đổi của từng công đoạn và điều cốt lõi nhất là những yếu tố làm ra giá trị cho
mỗi công đoạn
[18].
1.2. Chuỗi cung ứng (supply chain)
Có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng, Sau đây là một số định nghĩa về
chuỗi cung ứng đã được đưa
ra:
1.3. Mối quan hệ giữa chuỗi chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng.
1.3.1 Sự khác nhau giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng.
Chuỗi cung ứng sản phẩm được coi là chuỗi của các hoạt động từ khâu sản
xuất, qua lưu thông (có thể qua chế biến) và đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động 11 sản phẩm luôn có sự thay đổi về giá cả và có thể có những thay đổi nhất định về
giá trị vì luôn có các chi phí xảy ra trong suốt các hoạt động. Chính vì vậy, các bên
liên quan trong chuỗi cung ứng luôn có được các lợi ích nhất định và sự xung đột
lợi ích giữa các bên liên quan là tính chất tất yếu của chuỗi cung ứng sản phẩm
trong cơ chế kinh tế thị trường [19].
Khái niệm về chuỗi cung ứng xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX.
Khi đó, chuỗi cung ứng là đơn lẻ, nhưng khi người ta kết hợp cả việc cung ứng vật
tư, kĩ thuật, nguyên vật liệu,… với việc phân phối sản phẩm, chuỗi cung ứng có
thể hình dung như một đường ống hoặc một cái máng dùng cho dòng chảy của sản
phẩm/vật tư, dịch vụ, thông tin và tài chính từ nhà cung ứng qua nhiều tổ chức,
công ty trung gian cho đến tận người tiêu dùng.
Một chuỗi cung ứng hợp nhất hiện nay có thể mô tả theo hình 1.2 như sau:
Hình 1.3: Chuỗi cung ứng hợp nhất
Theo như sơ đồ trên, một chuỗi cung ứng hợp nhất nối liền từ người
cung ứng đến người bán lẻ - người tiêu dùng thông qua một loạt các đơn vị liên
quan như nhà phân phối, người sản xuất (nhà máy), người bán buôn, nhằm quản
trị ba dòng là: sản phẩm dịch vụ (hàng hóa lưu thông), thông tin liên quan và
cả về mặt tài chính [19].
trung chủ yếu vào các hoạt động nội bộ, trong khi chuỗi cung ứng, theo định
nghĩa, tập trung vào cả nội bộ và bên ngoài. Nên nhận định trên có vẻ là sai lầm,
tuy nhiên để làm rõ hơn việc chuỗi cung ứng chính là một phần của chuỗi giá trị,
chúng ta phải mở rộng mô hình chuỗi giá trị ban đầu được mô phỏng như Hình
1.4, tập trung chủ yếu vào các thành phần trong nội bộ ngành, bao gồm nhà cung 13 cấp và khách hàng nằm ở vị trí ngược dòng và xuôi dòng của chuỗi so với tổ chức
trọng tâm. Các cấp độ của nhà cung cấp và khách hàng hình thành cơ sở của chuỗi
giá trị mở rộng hoặc khái niệm doanh nghiệp mở rộng, với tuyên bố rằng sự
thành công của doanh nghiệp mở rộng này chính là chức năng quản lý một cách
hiệu quả nhóm các doanh nghiệp liên kết với nhau qua khách hàng và nhà cung
cấp ở cấp độ đầu tiên ( nghĩa rằng doanh nghiệp chỉ xem xét nhà cung cấp và khách
hàng của mình mà thôi) [12].
Hình 1.4. Chuỗi giá trị mở rộng
Quản trị chuỗi cung ứng được xem như một đường ống hoặc dây dẫn điện
nhằm quản trị một cách hữu hiệu và hiệu quả dòng sản phẩm/nguyên liệu, dịch vụ,
thông tin và tài chính từ nhà cung cấp của nhà cung cấp xuyên qua các tổ chức/
công ty trung gian nhằm đến với khách hàng của khách hàng hoặc một hệ thống
mạng lưới hậu cần giữa nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng. Chúng ta
có thể xem chi tiết hơn ở hình 1.5 [12].
14
15 người bán và người mua, các kênh marketing, mức độ khác biệt
hóa sản phẩm, sự
tồn tại hay không của các rào cản gia nhập và xuất ngành [11].
Các nhân tố trong cấu trúc SCP được thể hiện trong Bảng 1.1 [4]
Bảng 1.1. Mô hình SCP cho một ngành.
Nhân tố cấu trúc Nhân tố thực hiện Nhân tố kết quả
- Những trung gian trong hệ
thống kênh marketing;
- Những cản trở gia nhập v
à
ra khỏi ngành;
- Sự tham gia của người m
ua
và người bán;
- Phân loại chất lượng;
- Phân tích thông tin thị
trường;
- Cấu trúc kênh thị trường;
- Tiến trình xác lập giá;
- Nguyên tắc điều phối th
ị
trường.
- Hoạt động mua
p
đồng);
+ Phân tích khác biệt v
ề
giá và dao động về g
iá
theo thời vụ;
+ Tham gia thị trường
.
Phân tích sự năng độn
g
của thị trường.
C
ấu trúc
thị trường
V
ận h
ành
thị trường
K
ết quả thự
c
hiện thị trường 16
trị.
Đối với kênh phân phối cá ngừ sọc dưa, việc phân tích giá trị tăng thêm
dựa vào chi phí sản xuất, chi phí gia tăng và lợi nhuận biên đối với mỗi thành viên
trong kênh phân phối bao gồm ngư dân, nậu vựa, người bán buôn, người bán lẻ, cơ
sở chế biến. Qua việc phân tích chi phí gia tăng, giá trị tăng thêm và lợi nhuận biên
nhằm làm rõ mức phân chia lợi nhuận cho từng thành viên trong kênh.
1.5. Lợi thế cạnh tranh
1.5.1. Lợi thế cạnh tranh theo quan điểm của Michael E. Porter
Về cơ bản, lợi thế cạnh tranh phát sinh từ các giá trị mà doanh nghiệp có thể
tạo ra cho người mua, giá trị này phải lớn hơn các chi phí của doanh nghiệp đã phải
bỏ ra. Giá trị là mức mà người mua sẵn lòng thanh toán, và một giá trị cao hơn
(superior value) xuất hiện khi doanh nghiệp chào bán các tiện ích tương đương
nhưng với mức giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh; hoặc cung cấp các tiện ích độc
đáo và người mua vẫn hài lòng với mức giá cao hơn bình thường. Có 2 loại lợi thế
cạnh tranh cơ bản: Chi phí tối ưu (cost leadership) và khác biệt hóa (differentiation).
Michael E. Porter chỉ rõ “lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm ở bản thân mỗi
hoạt động, mà còn ở cả mối liên kết giữa các hoạt động với nhau, với các hoạt 17 động của nhà cung ứng và cả các hoạt động của khách hàng nữa”. Hay nói cách
khác việc tạo nên lợi thế cạnh tranh cần phải dựa trên các mối liên kết dọc trong
một doanh nghiệp, trong một ngành hay còn gọi là sự liên kết các đối tượng trong
chuỗi cung ứng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc nâng cao vị thế
cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành.
1.5.2. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael E. Porter
Mỗi một yếu tố trong năm lực lượng này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
khác, mà bản thân các yếu tố đó cũng cần phải được nghiên cứu để tạo ra bức tranh
đầy đủ về sự cạnh tranh trong một ngành. Sự tác động qua lại giữa năm lực lượng
quyết định một ngành hấp dẫn như thế nào đối với các chủ thể kinh doanh ở trong
đó. Qua việc phân tích năm lực lượng này các ngành, các doanh nghiệp sẽ xác định
những lợi thế của mình so với đối thủ để tận dụng và phát triển.
Khách hàng:
Khách hàng là một phần của doanh nghiệp, khách hàng bao gồm: người tiêu
dùng cuối cùng, các
nhà
phân phối (bán buôn, bán lẻ), các nhà mua công nghiệp, và
người mua hàng cho các tổ chức nhà nước hoặc tổ chức xã hội.
Khách hàng luôn tạo ra áp lực về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi theo
của doanh nghiệp. Chính họ điều khiển áp lực cạnh tranh trong ngành thông qua
quyết định mua hàng. Khách hàng tạo ra áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp thể
hiện ở quy mô khách hàng, vị thế đàm phán giá cả, tầm quan trọng của sản
phẩm bao gồm sự khác biệt hóa và khả năng thay thế của sản phẩm khác. Ngoài