Tim hieu ve van de co ban cua phap luat - Pdf 22

Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
Nhận xét của giáo viên Sinh viên:Ngô Thị Giang MSSV:10010753
Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
PHẦN MỘT:GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
PHẦN HAI:NỘI DUNG

chế, sai sót đó để bài tiểu luận được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên:Ngô Thị Giang MSSV:10010753
Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
PHẦN MỘT:GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật là trách nhiệm của
mỗi công dân Việt Nam. Chính vì thế việc nắm rõ luật pháp để không vi
phạm pháp luật là trách nhiệm và nghĩa vụ của tất cả công dân trên đất
nước.
Từ đó có thể thấy việc tìm hiểu tường tận về pháp luật mà trước
hết là nắm vững những vấn đề cơ bản như là nguồn gốc,bản chất,thuộc
tính ,hình thức cũng như mối quan hệ giữa pháp luật với các vấn đề khác
trong xã hội khác là yêu cầu trước hết và căn bản nhất của mỗi công
dân,đặc biệt là đối với học sinh, sinh viên thì việc trang bị kiến thức về
pháp luật là vô cùng cần thiết.
Hơn nữa trong thời đại hiện nay,nhịp sống của một giai đoạn lịch
sử mới của xã hội loài người với những tiến bộ, phát triển mạnh mẽ của
khoa học công nghệ cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế đến chóng mặt
của nền kinh tế thị trường mở và bên cạnh đó là sự giao thoa, du nhập
của nhiều nền văn hóa đã làm cho xã hội có nhiều biến động lớn về mọi
mặt.Trong bối cảnh như ngày nay thì việc tìm hiểu và nắm rõ pháp luật
để thực hiện đúng,không vi phạm vào bất cứ điều khoản nào của luật
pháp Việt Nam càng mang ý nghĩa sâu sắc hơn nữa.
Trong bài tiểu luận ngắn này sẽ trình bày về đề tài:”Tìm hiểu về
vấn đề cơ bản của pháp luật” một số vấn đề căn bản nhất của pháp luật
Việt nam với mong muốn sẽ góp phần làm rõ hơn,và giúp mọi người có
thể nắm vững hơn những kiến thức pháp luật cần thiết.
Sinh viên:Ngô Thị Giang MSSV:10010753
Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
PHẦN HAI:NỘI DUNG

và tín điều tôn giáo trên được mọi người chấp hành một cách tự giác trên
cơ sở thói quen, niềm tin, nếu ai vi phạm thì sẽ bị cộng đồng xử lí. Mang
nội dung tinh thần hợp tác,giúp đỡ lẫn nhau, tính cộng đồng bình đẳng,
nhiều quy phạm mang tính lạc hậu. Các quy tắc mang tính tản mạn,
manh mún về nguyên tắc và chỉ có hiệu lực trong phạm vi thị tộc những
thị tộc, bộ lạc. Phương pháp cơ bản áp dụng đối với người vi phạm là tự
nguyện và thuyết phục, nhưng khi làm những việc mà cả thị tộc lên án
thì những người vi phạm cũng sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế.
Do sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất. Công cụ
ngày càng được cải tiến, con người được phát triển về thể lực, ngày càng
nhận thức đúng đắn hơn về thế giới và trong lao động sản xuất ngày
càng phát triển Những yếu tố đó đã tạo tiền đề cho sự phân công lao
động. Sự phân công lao động tự nhiên phải được thay thế bằng sự phân
công lao động theo hướng chuyên môn hóa, sau mỗi lần đó xã hội có
Sinh viên:Ngô Thị Giang MSSV:10010753
Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
những bước tiến mới. Những yếu tố mới tác động đã làm đảo lộn đời
sống thị tộc. Phân công lao động khiến cho các nghành kinh tế phát triển
mạnh, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, do đó đã phát sinh khả năng
chiếm đoạt sản phẩm dư thừa làm của riêng. Quá trình phân hóa tài sản
bắt đầu nảy sinh và chế độ tư hữu ra đời.
Một số tù trưởng, tăng lữ, thủ lĩnh quân sự Đã lợi dụng uy tín của
mình để chiếm đoạt tài sản dư thừa của tập thể, biến nó thành tài sản
riêng. Tù binh chiến tranh nay được giữ lại để tăng thêm sức sản xuất,
tạo thêm nhiều của cải cho những người có địa vị trong xã hội thị tộc.
Chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội có sự phân hóa giai cấp sâu sắc và luôn
đấu tranh gay gắt để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình nên pháp luật hình
thành nhằm điều hòa những mâu thuẫn đó.
Mặt khác, nhà nước hình thành nhằm duy trì trật tự xã hội và bảo
vệ lợi ích của giai cấp thống trị,nên pháp luật ra đời là công cụ để nhà

Pháp luật cũng giống như nhà nước chỉ tồn tại trong xã hội có giai
cấp. Pháp luật của ai, do ai và vị lợi ích của giai cấp nào thì thể hiện bản
chất của giai cấp đó và được đề lên thành luật mà nội dung của nó được
quy định bởi các điều kiện vật chất xã hội.
Sinh viên:Ngô Thị Giang MSSV:10010753
Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
Pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị, thì nội dung của pháp luật thể
hiện điều kiện sinh hoạt, vật chất của giai cấp thông trị và do giai cấp đó
quyết định. Vì vậy bản chất của pháp luật được xem xét dưới những khía
cạnh khác nhau:
2.1.Bản chất giai cấp của pháp luật.
Khi nói đến pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị cũng có
nghĩa là khẳng định bản chất giai cấp của pháp luật.Bất cứ giai cấp nào
khi đã nắm được quyền lực trong tay đều nhanh chóng thiết lập bộ máy
chính quyền của mình, đồng thời thể chế hóa ý chí của giai cấp mình
thành pháp luật và dùng pháp luật để giải quyết các vấn đề trong xã hội
nhằm bảo vệ quyền lực của mình.Chẳng hạn:
Pháp luật chủ nô là ý chí của giai cấp chủ nô côngkhai qui định
quyền lực vô hạn của chủ nô còn giai cấp nô lệ thì không có quyền gì.
Pháp luật phong kiến là công cụ của nhà nước phong kiến thể hiện ý
chí của giai cấp địa chủ, phong kiến.
Pháp luật tư sản thể hiện ý chí của giai cáp tư sản dù có nhiều tiến
bộ hơn so với pháp luật chủ nô và phong kiến nhưng vẫn bảo vệ những
đặc quyền, đặc lợi của giai cấp tư sản.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân lao động.
Như vậy, pháp luật là sản phẩm hoạt động của nhà nước. Nhà nước nào
bản chất ra sao thì nội dung hình thành pháp luật thể hiện bản chất của
nhà nước đó thể hiện bằng ý chí của giai cấp nắm quyền trong xã hội.
2.2.Bản chất xã hội của pháp luật.

cấp thống trị tự nghĩ ra mà là do những thực tế khách quan từ đời sống
Sinh viên:Ngô Thị Giang MSSV:10010753
Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
xã hội phản ánh nên.Nhưng do việc soạn luật lại là việc của nhà làm luật
nên nó có góc độ phản ánh có lợi nhất cho giai cấp của mình.Chính vì
thế luật pháp vừa mang tính chủ quan lại vừa mang tính khách quan.
3.Thuộc tính của pháp luật
Để có thể có được những hiểu biết đầy đủ hơn về pháp luật chúng
ta cần nắm rõ về các thuộc tính,hay còn gọi là các đặc điểm đặc trưng
của pháp luật.Bởi lẽ trong xã hội có rất nhiều loại quy phạm nhưng chỉ
có quy phạm pháp luật mới có những đặc điểm riêng biệt mà nhờ nó mà
pháp luật mới có được những ưu thế vượt trội hơn hẳn các loại quy
phạm xã hội khác.
3.1.Tính phổ biến
Được hiểu là tính bắt buộc thực hiện mọi quy định của pháp luật
hiện hành đối với mọi cá nhân, tổ chức. Bởi vì, pháp luật do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành và có giá trị bắt buộc thực hiện đối với
moi ngừoi cứ trú trên lãnh thổ nước nước đó và đối với mọi công dân.
Thuộc tính này được phân biệt qua các yếu tố biểu hiện như: Dự
liệu tình huống điển hình, xác định cách hành xử bắt buộc, đưa ra cách
xử lý khi không tuân theo.
3.2.Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
Đặc trưng của pháp luật là phải rõ ràng, chuẩn xác nội dung của
pháp luật bằng các điều khoản , văn bản quy phạm pháp luật và hệ thông
văn bản quy phạm pháp luật tương xứng.
- Yêu cầu cơ bản để đảm bảo tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
của pháp luật cần đáp ứng yêu cầu sau:
Sinh viên:Ngô Thị Giang MSSV:10010753
Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
+ xác định mối tương quan giữa nội dung và hình thức của pháp

đối dài và phải phù hợp với các quy luật khách quan và chỉ được sửa đổi,
bổ sung khi điều kiện kinh tế, xã hội thay đổi.
4.Chức năng, vai trò của pháp luật
4.1.Chức năng của pháp luật
Chức năng của pháp luật là những phương diện, mặt hoạt động chủ
yêu của pháp luật, thể hiện bản chất và giá trị xã hội của pháp luật.
Pháp luật có ba chức năng chủ yếu :chức năng điều chỉnh các quan
hệ xã hội, chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội và chức năng giáo dục.
4.1.1.Chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội
Là sự tác động trực tiếp của pháp luật tới các quan hệ xã hoọi và
được thực hiện thông qua việc ghi nhạn qui định cho phép, ngăn cấm,
khuyến khích, qui định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể. Như vậy,
chức năng chính của pháp luật là hướng các qui phạm xã hội vào phạm
vi, khuôn mẫu và tạo ra điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển trong
một trật tự chung.
4.1.2.Chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội
Pháp luật qui định những phương tiện nhằm bảo vệ các quan hệ xã
hội (Các quy định về xử phạt hành vi vi phạm – chế tài, hệ thống cơ
quan bảo vệ pháp luật), nền tảng của xã hội khi có các vi phạm pháp luậ.
Ngoài ra, pháp luật còn loại trừ (Cấm) các quan hệ xã hội lạc hậu, không
phù hợp với bản chất chế độ (bói toán, lên đồng….)
4.1.3.Chức năng giáo dục
Sinh viên:Ngô Thị Giang MSSV:10010753
Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
Chức năng này được thực hiện bằng các biện pháp tuyên truyền,
phổ biến, thông qua sự tác động gián tiếp đến ý thức của tâm lý con
người làm cho họ có hành động phù hợp với cách xử sự ghi trong qui
phạm pháp luật.
Pháp luật ở quốc gia có quy định khác nhau do đó vai trò và chức
năng của pháp luật cũng khác nhau.Tùy vào chế độ chính trị ở mỗi quốc

4.2.1.2.Vai trò của PL đối với xã hội
-Góp phần tạo ra một trật tự XH,bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng
của toàn bộ cơ cấu XH
-Những biến đổi XH, mục tiêu của các chủ trương cải cách chỉ có
thể có được khi được bảo đảm bởi một có cơ chế pháp luật rõ ràng, vững
chắc.
-Bảo vệ các QHXH trước nguy cơ xâm hại của tội phạm cũng như
các yếu tố tiêu cực khác.
-Bảo vệ thuần phong mỹ tục,các giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc
-Tính nhân đạo của PL.
-PL là cơ sở hình thành và bảo vệ các giá trị đạo đức tốt đẹp.
4.2.1.3.Vai trò của PL đối với hệ thống chính trị
-PL là phương tiện thế chế hóa đường lối,chính sách của Đảng.
-PL là phương tiện không thể thiếu để Nhà nước QLXH
-Đảm bảo cho các tổ chức xã hội tham gia vào quản lý nhà
nước,quản lý xã hội
-Góp phần làm cho toàn bộ hệ thống chính trị hoạt động nhịp
nhàng,ăn khớp.
4.2.1.4. Vai trò của PL đối với tư tưởng:
Sinh viên:Ngô Thị Giang MSSV:10010753
Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
PL là phương tiện đăng tải các giá trị tư tưởng của CN Mác-Lênin,
tư tưởng HCM,cũng như những giá trị tiến bộ của nhân loại(quyền con
người,quyền dân chủ).
4.2.2. Vai trò của pháp luật đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân
Pháp luật là phương tiện ghi nhận , bảo đảm và bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân.Trong các văn bản pháp luật của nhà
nước đều có những điều khoản quy định quyền và lợi ích hợp pháp của

ra nhưng trong xã hội văn minh,nhà nước cũng phải tự hạn chế bởi pháp
luật, chịu phục tùng,phải thi hành pháp luật do chính mình đặt ra.Có như
vậy mới bảo vệ được quyền của công dân,tránh sự lạm quyền,bảo đảm
sự công bằng và sự phát triênt bình thường của nhà nước.Pháp luật chỉ
có thể hiện được trong đời sống khi có sự đảm bảo của nhà nước ở đây
một lần lữa ta càng thấy rõ nhà nước và pháp luật có quan hệ qua lại hữu
cơ với nhau,cùng phát sinh tồn và phát triển.
4.2.4. Pháp luật là vũ khí chính trị để nhân dân lao động chống lại các
giai cấp áp bức bóc lột.
Thể hiện ý trí nhà nước của nhân dân lao động pháp luật là vũ khí
chính trị mà nhân dân dùng để chống lại các giai cấp áp bức bóc lột .
Dựa vào pháp luật nhân dân tiến hành trấn áp các lực lượng phản cách
mạng , giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội ,ghi nhận và
củng cố chính quyền nhân dân. Pháp luật là phương tiện thể chế hoá
đường lối chính sách của Đảng ,nhà nước ,pháp luật cũng là công cụ để
cải tạo xã hội cũ trong các lĩnh vực kinh tế , chính trị , văn hoá-xã hội…
đưa lại tự do ,hạnh phúc cho nhân dân lao động .
5.Các kiểu và hình thức của pháp luật
5.1.Kiểu pháp luật
Khái niệm:Kiểu pháp luật là hình thái pháp luật được xác định bởi
tập hợp các dấu hiệu, đặc trưng cơ bản của pháp luật thể hiện bản chất
giai cấp, điều kiện tồn tại và phát triển của pháp luật trong một hình thái
kinh tế - xã hội nhất định.
Chủ nghĩa Mác - Lê Nin xem xét lịch sử xã hội như là một quá
trình lịch sử tự nhiên của sự thay thế một hình thái kinh tế - xã hội khác.
Sinh viên:Ngô Thị Giang MSSV:10010753
Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
Mỗi một hình thái kinh tế - xã hội là một kiểu lịch sử của xã hội được
thiết lập trên cơ sở của một phương thức sản xuất.
Pháp luật là một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng. Bản chất, nội

quy luật. Cơ sở của sự thay thế đó là sự vận động và phát triển khách
quan của các quy luật kinh tế - xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản
xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất có
tính quyết định. Sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội được thực hiện
thông qua một cuộc cách mạng xã hội đã làm thay thế kiểu nhà nước và
pháp luật tương ứng.
5.2.Hình thức của pháp luật
Pháp luật cũng giống như mọi hiện tượng xã hội, có các hình thức
thể hiện và hình thức tồn tại riêng. Trong khoa học pháp lý quan niệm:
Hình thức của pháp luật là khái niệm dùng để chỉ ranh giới (giới hạn)
tồn tại của pháp luật trong hệ thống các quy phạm xã hội, là hình thức
biểu hiện của pháp luật, đồng thời cũng là phương thức tồn tại, dạng tồn
tại thực tế của pháp luật.
Hình thức pháp luật gồm: hình thức bên ngoài (nguồn của pháp
luật ) và hình thức bên trong của pháp luật (cấu trúc của pháp luật).
5.2.1.Hình thức bên ngoài
Khi nói đến hình thức bên ngoài của pháp luật là nói đến sự biểu
hiện ra bên ngoài của pháp luật.
Sinh viên:Ngô Thị Giang MSSV:10010753
Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
Dựa vào phương thức thể hiện ý chí của nhà nước thành pháp luật,
ta có: Tập quán pháp, văn bản quy phạm pháp luật, tiền lệ pháp và
những nguyên tắc của pháp luật tôn giáo. Có nước còn quan niệm cả tư
tưởng, học thuyết khoa học pháp lý cũng có giá trị được áp dụng như
pháp luật.
- Tập quán pháp là những tập quán hình thành và lưu truyền trong
xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị và được nhà nước thừa
nhận, nâng chúng lên thành những quytắc xử sự chung và được nhà
nước bảo đảm thực hiện.
Hình thức này được sử dụng rộng rãi trong pháp luật chủ nô và

định pháp luật, ngành luật.
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do
nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận. Quy phạm pháp luật là tế bào của hệ
thống pháp luật.
Chế định pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh
một nhóm các quan hệ xã hội cùng loại, đồng tính chất trong cùng một
ngành luật. Chẳng hạn, Luật hôn nhân và Gia đình có các chế định: kết
hôn, ly hôn, nuôi con nuôi, trách nhiệm giữa cha mẹ đối với con cái, con
cái đối với cha mẹ
Ngành luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh
vực quan hệ xã hội bằng những phương pháp điều chỉnh đặc thù riêng.
Các ngành luật phân biệt với nhau bằng 2 tiêu chí: đối tượng điều chỉnh
và phương pháp điều chỉnh, trong đó đối tượng điều chỉnh là tiêu chí chủ
đạo.
Sinh viên:Ngô Thị Giang MSSV:10010753
Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
Việc phân chia hệ thống pháp luật thành các bộ phận cấu thành tuỳ
thuộc những trường phái khoa học pháp lý khác nhau. Ở các nước xã hội
chủ nghĩa và nước ta, hệ thống pháp luật được chia thành các ngành luật,
chế định pháp luật; ở các nước tư sản thộc hệ thống pháp luật Châu Âu
lục địa pháp luật lại được chia thành luật công và luật tư.
6.Mối quan hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác.
Mặc dù pháp luật mang bản chất giai cấp sâu sắc nhưng ít nhiều
phản ánh ý chí, lợi ích của các giai cấp và các tầng lớp khác trong xã
hội,. Để làm rõ hơn bản chất của pháp luật cần phải biết và thấy mối
quan hệ giữa nó với các hiện tượng kinh tế, xã hội, chính trị, đạo đức…
6.1.Mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế
Pháp luật thuộc một trong những yếu tố của kiến trúc thượng tầng,
còn kinh tế thì thuộc về yếu tố của cơ sở hạ tầng
Cũng như nhà nước, pháp luật sinh ra trên cơ sở của hạ tầng, do cơ

6.3. Pháp luật với đạo đức
Đạo đức là hệ thống những quy phạm mang tính chất đánh gia của
một gia cấp, một dân tộc về những giá trị tinh thần củ con người như
thiện, ác , tốt, xấu, cao thượng, thấp hèn, sự công bàng, lẽ phải , khen
chê… các quy phạm đạo đức tồn tại thành văn mà không mang tính
quyền lực chính trị. Những hành vi vi phạm đạo đức chỉ bị phê phán về
mặt xã hội mà không phải thực hiện sự cưỡng chế nhà nước.
Pháp luật là chuẩn mực lý tưởng và bắt buộc hành vi tồn tại dưới
dạng thành văn, mang dấu hiệu quyền lực chính chị do nhà nước ban
Sinh viên:Ngô Thị Giang MSSV:10010753
Khoa KHCB-Tổ Chính Trị Lớp:ĐHTN6TH
hành . Do vậy, đạo đước và pháp luật là mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ lẫn
nhau trong quá trình điều chỉnh hành vi con người. Tuy nhiên có những
nhóm quan hệ thuộc sự điều chỉnh của pháp luật mà không thuộc đối
tượng điều chỉnh của quy phạm đạo đức, song cũng có nhiều qui phạm
đạo đức đồng thời là quy pham pháp luật. Quy phạm pháp luật luôn
phản ánh đạo đức của giai cấp cầm quyền.Tuy nhiên pháp luật cũng chịu
ảnh hưởng của các đạo đức khác trong xã hội. Cốt lõi của giá trị đạo đức
và pháp luật là lẽ công bằng. Nhưng luật pháp, đạo đức và lẽ công bằng
là những phạm trù khác nhau.
Ngoài những mối quan hệ trên, pháp luật còn có mối quan hệ với
các quy phạm khác như; với các phong tục tập quán, với các qui phạm
của các tổ chức xã hội.
6.4.Pháp luật với nhà nước
Nhà nước và pháp luật tuy là 2 hiện tượng khác nhau nhưng lại gắn
bó mật thiết với nhau, mang nhiều nét tương đồng. Đều có chung điều
kiện phát sinh,tồn tại,thay đổi cũng như tiêu vong. Cả hai đều là phương
tiện chính trị cũng như quyền lực của giai cấp thống trị. Điều này cho
thấy mối quan hệ biện chứng giữa nhà nước và pháp luật.
Ngoài ra giữa chúng còn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status