Bàn thêm về vấn đề cơ bản của triết học - Pdf 67

Ldthieu sưu tầm 1
Bàn thêm về vấn đề cơ bản của triết học
Vũ Tình
Tạp chí Triết học
Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu
của việc tìm hiểu triết học nói chung và tìm hiểu một học thuyết triết học nào đó nói
riêng.
Trong nhiều năm, các giáo trình triết học Mác - Lênin ở nước ta, về cơ bản, đều khẳng
định: Vấn đề cơ bản của triết học là "mối quan hệ giữa vật chất và ý thức". Gần đây,
giáo trình về môn học này của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc
gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh viết: "Quan hệ giữa tư
duy và tồn tại, giữa tâm và vật, giữa ý thức và vật chất, trở thành vấn đề lớn và là vấn
đề cơ bản của triết học".
Hiện nay, cách giải thích tại sao "mối quan hệ giữa vật chất và ý thức" hay “quan hệ
giữa tư duy và tồn tại, giữa tâm và vật, giữa ý thức và vật chất" lại là vấn đề cơ bản của
triết học cũng khác nhau. Có giáo trình viết: Trong thế giới cố vô vàn hiện tượng,
nhưng chung quy chúng chỉ phân thành hai loại, một là những hiện tượng vật chất (tồn
tại, tự nhiên), hai là những hiện tượng tinh thần (ý thức, tư duy). Do đó vấn đề về mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy là vấn đề cơ bản của triết học".
Lại có giáo trình cho rằng: Vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại hay ý thức và
vật chất được gọi là vấn đề cơ bản hay vấn đề tối cao của triết học vì giải quyết vấn đề
này là cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học".
Hiện tượng này cũng xảy ra tương tự khi đề cập đến nội dung vấn đề cơ bản của triết
học. Thí dụ: "Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt. Mặt thứ nhất giải quyết vấn đề
giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào...
Mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học giải quyết vấn đề khả năng nhận thức của con
người”, "Khi nghiên cứu các hệ thống, các trường phái triết học, chủ nghĩa Mác cho
rằng, vấn đề quan trọng hàng đầu là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh
thần và thế giới tự nhiên, cái nào có trước, cái nào có sau…”
Là những tài liệu để giảng dạy, học tập, các giáo trình triết học Mác - Lênin ở nước ta
hiện nay tuy có sự thống nhất về tư tưởng và đều xuất phát từ các tác phẩm kinh điển,

Chúng ta biết rằng, ngay sau khi nêu quan điểm "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học,
đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại", Ph.Ăngghen
viết tiếp:
“Ngay từ thời hết sức xa xưa, khi con người hoàn toàn chưa biết gì về cấu tạo thân thể
của họ và chưa biết giải thích những điều thấy trong mơ, họ đã đi đến chỗ quan niệm
rằng tư duy và cảm giác của họ không phải là hoạt động của chính thân thể họ (TG
nhấn mạnh) mà là hoạt động của một linh hồn đặc biệt nào đó cư trú trong thân thể và
rời bỏ thân thể họ khi họ chết, ngay từ thuở đó, họ đã phải suy nghĩ về quan hệ giữa
linh hồn ấy với thế giới bên ngoài"... Do đó, vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa
tinh thần với tự nhiên, một vấn đề tối cao của toàn bộ triết học, cũng hoàn toàn giống
như bất cứ tôn giáo nào, đều có gốc rễ trong các quan niệm thiển cận và ngu dốt của
thời kỳ mông muội... (TG nhấn mạnh ). Vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, một vấn
đề đã đóng một vai trò lớn lao trong triết học kinh viện thời trung cổ, vấn đề xem cái
nào có trước, tinh thần hay tự nhiên? vấn đề đó bất chấp giáo hội, lại mang một hình
thức gay gắt: thế giới do Chúa Trời sáng tạo ra, hay nó vẫn tồn tại từ trước đến nay (TG
nhấn mạnh).
Cách giải đáp vấn đề ấy đá chia các nhà triết học thành hai phe lớn. Những người quả
quyết rằng tinh thần có trước tự nhiên, và do đó rút cục lại thừa nhận rằng thế giới được
sáng tạo ra bằng cách nào đó... những người đó là thuộc phe chủ nghĩa duy tâm. Còn
Ldthieu sưu tầm 3
những người cho rằng tự nhiên là cái có được thì thuộc các học phái khác nhau của chủ
nghĩa duy vật.
Như vậy, trong quan hệ "giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần với tự nhiên" thì khái
niệm tư duy, tinh thần mà Ph.Ăngghen sử dụng nên giải thích như thế nào cho rõ? Có
nên không khi chúng ta cho rằng: "... một là những hiện tượng vật chất (tồn tại, tự
nhiên), hai là những hiện tượng tinh thần (ý thức, tư duy)", hoặc "... mối quan hệ giữa
tư duy và tồn tại hay ý thức và vật chất được gọi là vấn đề cơ bản... của triết học". Mặc
dù phần nói về chủ nghĩa duy tâm khách quan có giải thích về khái niệm tinh chần,
nhưng ngay từ đầu, cách trình bày trên đã làm cho người tìm hiểu vấn đề cơ bản của
triết học và cơ sở để phân biệt chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm đồng nhất nội

luận của chủ nghĩa duy tâm. Về bản chất, chủ nghĩa duy tâm chủ quan không phủ nhận
sự tồn tại của thế giới siêu tự nhiên, phi vật chất, vì vậy, có thể được không khi hiểu:
Ldthieu sưu tầm 4
chủ nghĩa duy tâm không chia thành hai phái, mà chủ nghĩa duy tâm chủ quan hay chủ
nghĩa duy tâm khách quan chỉ là những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.
Những vấn đề trên không phải được rút ra từ câu chữ, từ lý luận thuần tuý, mà quan
trọng hơn, từ nhu cầu của cuộc sống hiện thực. Cho đến nay, không phải chỉ những
người thuộc chủ nghĩa duy vật hay những người có học vấn cao mới hiểu tinh thần, ý
thức là của con người, mà đấy thuộc loại kiến thức phổ thông, bất cứ ai cũng biết.
Chính vì vậy không ít người, đặc biệt đặc biệt là giáo dân của các tôn giáo hữu thần, tuy
không thừa nhận "tinh thần", "ý thức" kể cả cái gọi là "ý thức khách quan" là cái có
trước, là cái quyết định giới tự nhiên, song họ lại rất tin tưởng ở một thế giới siêu tự
nhiên, phi vật chất tồn tại với tư cách là lực lượng sáng tạo . Ngay cả các nhà duy vật,
thậm chí các nhà khoa học duy vật, cũng có lúc này, lúc khác rơi vào quan điểm của
chủ nghĩa duy tâm (thường là duy tâm chủ quan), thì, kể cả những lúc duy tâm nhất
cũng không ai quan niệm "tinh thần", "ý thức" của con người có trước tự nhiên, không
ai quan niệm sự vật là "phức hợp các cảm giác" xét dưới góc độ bản thể luận.
Về bản chất vấn đề cơ bàn của triết học
Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề giữa tư
duy và tồn tại, song do "tư duy" được các trường phái triết học quan niệm khác nhau
nên bản chất vấn đề cơ bản của triết học cũng được hiểu khác nhau.
Với chủ nghĩa duy tâm khách quan, đấy là mối quan hệ giữa giới siêu tự nhiên, phi vật
chất tồn tại dưới những tên gọi khác nhau với giới tự nhiên, con người và xã hội loài
người.
Với chủ nghĩa duy tâm chủ quan, đấy là mối quan hệ giữa toàn bộ những biểu hiện của
tinh thần, ý thức con người như ý chí, tình cảm, tri thức… với hiện thực.
Với chủ nghĩa duy vật biện chứng thì:
“ Mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại" thường được lý giải trực tiếp là "mối quan hệ giữa
ý thức và vật chất".
Thực ra, khái niệm "tư duy” có ngoại diên hẹp hơn khái niệm "ý thức” còn khái niệm

định nguồn gốc vật chất của ý thức, khẳng định khả năng ý thức được vật chất hoá
thông qua hoạt động của con người thì chủ nghĩa duy vật biện chứng đã thừa nhận tính
tương đối của ranh giới này.
Mặt khác, nói đến ý thức là nói đến ý thức của con người, nói đến vật chất là nói đến
giới tự nhiên, thế giới vật chất, nên bản chất mối quan hệ giữa ý chức và vật chất là mối
quan hệ giữa con người với giới tự nhiên mà con người đang sống trong đó. Ở đây, hai
mặt trong vấn đề cơ bản của triết học được chủ nghĩa duy vật biện chứng đặt ra rất rõ
ràng, và chủng có mối quan hệ rất mật thiết với nhau:
Mặt thứ nhất: Trong mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên thì vị trí, vai trò của
con người đối với giới tự nhiên như thế nào?
Mặt thứ hai: Trong mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên thì khả năng nhận
thức của con người về giới tự nhiên ra sao?
Đây là một trong những cách hướng đến triết học ứng dụng - triết học đặt ra và định
hướng giải quyết những nội dung không chỉ liên quan đến những vấn đề chung nhất có
tính toàn cầu như môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, chiến tranh, hoà bình,
lương thực, nhà ở… mà còn liên quan đến cả những vấn đề do cuộc sống nghề nghiệp,
cuộc sống đời thường của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đặt ra.
Vân đề cơ bản của triết học đã, đang và chắc chắn sẽ còn nhiều quan điểm khác nhau.
Một vài ý kiến trên chỉ để các bạn đồng nghiệp tham khảo với mong muốn góp phần
Ldthieu sưu tầm 6
làm cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy, truyền bá triết học nói chung, triết học
Mác - Lênin nói riêng đạt hiệu quả hơn.
Tìm hiểu về tư tưởng cải cách triết học của L.Phoiơbắc
Đinh Ngọc Thạch
Tạp chí Triết học
Phoiơbắc (1804 - 1872) là đại biểu cuối cùng của triết học cổ điển Đức, người đã đem
đến sự kết thúc đầy ý nghĩa toàn bộ nền triết học phương Tây cổ điển nói chung, triết
học cổ điển Đức nói riêng. Tư tưởng cải cách triết học ở Phoiơbắc được hình thành từ
năm 1829, khi ông vừa hoàn thành Luận án Tiến sĩ và bắt đầu giảng môn logic học và
siêu hình học tại Erlangen.

yếu tố sản sinh và phát triển của nó. Tự nhiên không phải là bản thể được nhào nặn từ
cái tuyệt đối, thượng đế nào đó, mà là bản thể độc lập, không cần đến bất kỳ giá đỡ thần
thánh nào. Sự hình thành thế giới nói chung, Trái đất, Mặt trời là quá trình tự nhiên.
"Cú hích ban đầu của Chúa" mà Galilê và Niutơn hình dung, đối với Phoiơbắc, là sản
phẩm của trí tưởng tượng khôi hài. Nếu Hêgen xác lập ranh giới không thể vượt qua
giữa thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ, tự nhiên và tinh thần, thì Phoiơbắc lại từ lập
trường của chủ nghĩa duy vật mà khẳng định rằng, không có cái gì, kể cả sự sống, lại
không hình thành từ vật chất. Bên cạnh đó những dữ liệu do hoá học, sinh vật học và
sinh lý học đem đến đều được Phoiơbắc sử dụng thành công trong việc phê phán cả chủ
nghĩa duy tâm sinh lý học lẫn chủ nghĩa duy vật tầm thường (Môlesốt, Vôgơtơ).
Phoiơbắc xem không gian và thời gian là điều kiện cơ bản, là phương thức của tồn tại
(ngầm hiểu là tồn tại vật chất). Không gian và thời gian cũng đồng thời là phương thức
của tư duy, bởi lẽ tư duy cần phản ánh trung thực tồn tại khách quan. Vật chất vận động
và phát triển trong không, thời gian hiện thực. Tính khách quan của không gian và thời
gian được Phoiơbắc xem như tiêu chuẩn đầu tiên của thực tiễn.
Trong chương trình cải cách triết học của mình, Phoiơbắc còn vạch ra và phê phán
những tư tưởng đã làm cho triết học xa rời nhu cầu thực tiễn của con người. Triết học tư
biện, thần học "duy lý hoá", thần luận tự nhiên, phiếm thần luận... đều trở thành đối
tượng phê phán của Phoi nhắc. Nhà triết học trẻ tuổi, một mặt, đối với triết học tư biện,
thứ "thần học thực sự, triệt để và duy lý hoá".
Sự xem xét lại tư tưởng triết học của quá khứ và điều chỉnh cách tiếp cận cho phù hợp
với điều kiện lịch sử mới không chỉ là điều cần thiết, mà còn có ý nghĩa sống còn đối
với sự phát triển của chính triết học. Triết học, theo Phoiơbắc, cần được giải phóng khỏi
tính mập mờ của phiếm thần luận Xpinôda, chủ nghĩa duy tâm - thần luận của Cantơ,
Phíchtơ, Selinh và chủ nghĩa duy tâm phiếm thần luận - phiếm logic của Hêgen.
Phê phán chủ nghĩa duy tâm Hêgen trong nhận thức, Phoiơbắc cho rằng, không phải
cuộc sống diễn ra theo đồ thức luận tư duy sẵn có, mà ngược lại, đồ thức luận ấy cần
được làm mới, điều chỉnh thường xuyên bằng chất liệu của cuộc sống, chịu sự phán
quyết của những điều kiện sống. "Chân lý - Phoiơbắc viết, không nằm trong tư duy và
trong tri thức như cái tự thân tự tại. Chân lý ở ngay trong cuộc sống và trong bản chất

Theo Phoiơbắc, không có cái Tôi trừu tượng, mà chỉ có nhưng con người bằng xương,
bằng thịt - sản phẩm hoàn thiện tưởng cải cách trong lý luận về con người - vấn đề chủ
đạo của thuyết nhân bản, hay nhân loại học. Ở đây có sự ngộ nhận của tác giả Sơ thảo
luận cương vế cải cách triết học. Phoiơbắc cho rằng thuyết nhân bản vượt qua cả chủ
nghĩa duy vật lẫn chủ nghĩa duy tâm, vì nó xuất phát từ con người bằng xương, bằng
thịt, chứ không phải từ con người - cỗ máy và con người - lý tính tư biện. Sự ngộ nhận
này có thể thông cảm được, nếu căn cứ vào những diễn biến của cuộc tranh luận triết
học nửa sau thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX tại Pháp và Đức, cũng như những
khiếm khuyết của chủ nghĩa duy vật máy móc - siêu hình.
Con người, theo Phoiơbắc, là sự kết tinh toàn bộ giá trị người, mà những giá trị người
đó được tích luỹ trong quá trình vươn đến tự do, và được thể hiện trong tư tưởng của
các vĩ nhân lý trí (triết gia). Hợp nhất các giá trị mang tính loài đặc thù ấy của con
người cung có nghĩa là xác định tồn tại người trong tổng thể các tính quy định của nó.
Phoiơbắc viết: "Con người là tồn tại tự do, tồn tại của nhân cách, tồn tại của pháp
quyền. Chỉ trong con người mới tồn tại cái Tôi của Phíchtơ, đơn tứ của Lépnít, cái tuyệt
đối". Triết học mới vừa có tính phủ định, vừa có tính thống nhất, nó phủ định cái phiến
diện ở mỗi học thuyết và thống nhất các chân lý dù đối lập nhau nhưng cùng đóng vai
trò tích cực cả trong quá khứ lẫn hiện tại. Triết học của tương lai không phải là phép
cộng hay sự chiết trung tư tưởng từ ngày hôm qua, mà là thuyết nhân bản (nhân loại
học) có định hướng thực tiễn, phát huy cao nhất quan hệ chân chính, khắc phục tình
trạng phân đôi bản chất của con người. Phoiơbắc xem tình yêu, từ tình yêu như kết quả
và sự thể hiện của quan hệ hôn nhân, gia đình, đến tình yêu nhân loại (tình yêu phổ
quát) là quan hệ chân chính, quy sự đố kỵ và thù địch về quan hệ không chân chính, bị
tha hoá.
Ldthieu sưu tầm 9
Phoiơbắc phê phán quan niệm về con người cả ở các nhà duy vật thế kỷ XVII - XVIII
lẫn triết học tư biện Hêgen. Vấn đề là ở chỗ, Đêcáctơ, La Méttơn, Điđrô là những nhà
tư tưởng lớn của thời đại mình đã đề cao năng lực tư duy, ý chí sáng tạo, khát vọng tự
do của con người, nhưng do chịu sự chi phối của các nguyên lý cơ học và xu thế toán
học hoá tư duy, nên đôi khi họ mô tả cơ thể người theo một môtíp hết sức máy móc, đại

cách đúng đắn động lực của phát triển. Trọng tâm phân tích của Phoiơbắc là làm sáng
tỏ tính khách quan của tự nhiên, chứ không phải tính biến đổi, tính quy luật, tính tất yếu
khách quan và tính lịch sử của nó. Với những diều vừa nêu, có thể thấy rằng Phoiơbắc
chưa thể vượt qua khuôn khổ của chủ nghĩa duy vật siêu hình.
Trong thuyết nhân bản - đạo đức, Phoiơbắc nhấn mạnh giá trị con người, "tố chất
người" nói chung, song chưa nêu ra được những tính quy định xã hội thực sự làm nên
bản chất con người. Ông đề cao tình yêu phổ quát, cổ suý cho huyền thoại về tình yêu,
Ldthieu sưu tầm 10
và cung chỉ dừng lại ở huyền thoại ở Phoiơbắc, chủ nghĩa duy tâm xã hội đan xen với
chủ nghĩa không tưởng chính trị về một Nhà nước "của tất cả và dành cho tất cả", thể
hiện sự trọn vẹn, hiện thực, phát triển, trực tiếp của bản chất con người. Ông phê phán
một ảo tưởng để hướng đến thứ ảo tưởng khác - "tôn giáo của Tình yêu’ phi lịch sử.
Như thế, sự tiến bộ xã hội được nhà tư tưởng nhân bản xem xét qua lăng kính của sự
thay thế các hình thức sinh hoạt tinh thần, chứ không phải hoạt động thực tiễn - vật chất
của con người.
Đạo đức học của Phoiơbắc, theo Ph.Ăngghen, tỏ ra nghèo nàn hơn Hêgen do tính dung
tục hoá, tính đơn giản và tính ảo tưởng của nó. Phoiơbắc lấy con người làm điểm xuất
phát, nhưng đó không phải là con người sống trong một thế giới hiện thực với những
quan hệ phức tạp, mà là con người trừu tượng, phi lịch sự mặc dù đôi khi ông cũng đưa
ra hình ảnh tương phản: "trong một cung điện người ta suy nghĩ khác trong một túp lều
tranh". Ph.Ăngghen chỉ rõ rằng, tư tưởng đạo đức của Phoiơbắc đầy ắp những giấc mơ
đẹp, nhưng ông lại không vạch ra từ đâu và bằng cách nào đề biến chúng thành hiện
thực. "Đối với Phoiơbắc, Ph.Ăngghen viết, thì tình yêu ở đâu và bao giờ cũng là một
ông thần lắm phép lạ có thể giúp vượt mọi khó khăn của đời sống thực tiễn và điều đó
diễn ra trong một xã hội chia thành những giai cấp có những lợi ích đối lập hắn với
nhau!(...) hãy yêu nhau đi, hãy ôm hôn nhau đi, không cần phân biệt nam nữ và đẳng
cấp, thật là giấc mơ thiên hạ thuận hoài". Quan niệm thiện - ác, hạnh phúc - đau khổ,
tình yêu - thù địch ở Phoiơbắc bị chia cắt một cách siêu hình, thiếu hẳn yếu tố tác động
và chuyển hoá. Đây là bước thụt lùi so với Hêgen. Ngay cả đem so sánh với Cantơ,
Phoiơbắc vẫn quá đơn điệu. Ph.Ăngghen viết: "Học thuyết của Phoiơbắc về đạo đức...

người đối với tự nhiên và cuộc sống. Từ những thập niên đầu thế kỷ, những đổi mới tư
duy trong vật lý học và khoa học tự nhiên đã đưa đến những thành tựu kỳ diệu trong
phát triển khoa học và công nghệ: và rồi đến những thập niên trong nửa sau thế kỷ,
song song với sự phát triển mạnh mẽ và những chuyển biến to lớn trong các nền kinh tế
và trên thị trường thế giới, nhiều lý thuyết khoa học mới về thông tin, về hệ thống, tổ
chức, điều khiển và quản lý ra đời, làm cơ sở cho những đổi mới tư duy và nhận thức về
bản thân sự phát triển kinh tế - xã hội, cùng với những đổi mới tư duy về các vấn đề tổ
chức và quản lý trong môi trưởng mới của sự phát triển. Đến thập niên cuối cùng của
thế kỷ, những tiến bộ và đổi thay dồn dập đã xác định rõ diện mạo của bước chuyển
biến có tính chất toàn cầu: chuyển biến sang một nền kinh tế dựa chủ yếu trên các
nguồn lực thông tin và tri thức. một xã hội thông tin và tri thức. Và yêu cầu đổi mới tư
duy, đổi mới nhận thức để thích nghi và phát triển trong môi trường mới đó của một
nền kinh tế thị trường "toàn cầu hoá" đã trở nên cần thiết và cấp bách đối với mọi quốc
gia, và tất nhiên lại càng cần thiết và cấp bách đối với những nước còn chậm phát triển
như nước ta.
Từ giữa những năm 80, khi bắt đầu công cuộc đổi mới, nước ta thực sự đã bước vào
một giai đoạn tự chuyển biến đầy khích lệ và cũng đầy khó khăn, phức tạp. Nhiều chính
sách mới mở đường cho việc giải phóng và phát huy những nhân tố tích cực trong kinh
tế và xã hội, đã tạo nên những nét khởi sắc trong đời sống của đất nước là điều mà ai
cũng thấy rõ. Nhưng, đang trong giai đoạn chuyển biến sang một trật tự mới có khả
năng đáp ứng tốt hơn mục tiêu "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh", quá
trình lớn mạnh của những nhân tố mới, tích cực, có khả năng vượt trội và thay thế dần
sự níu kéo của các yếu tố cũ cỏ sức ỳ lớn và uy quyền không nhỏ: đã và còn diễn ra
không đơn giản. Sự biến đổi đó xảy ra thường xuyên trong mỗi con người, trong các tổ
chức và trong toàn xã hội. Và vì thế ta không lấy làm lạ là trong mọi lĩnh vực, từ kinh tế
đến văn hoá, xã hội, giáo dục... bên cạnh những thành quả tích cực mà khó khăn lắm
mới đạt được vẫn còn đầy những tiêu cực phi lý làm nhức nhối lòng người. Trong lĩnh
vực kinh tế, sự giằng co giữa cái mới và cái cũ diễn ra một cách phức tạp. Cuộc cải
cách cơ cấu, yếu tố then chốt để xoay chuyển cơ bản tình hình vẫn diễn ra chậm chạp.
Từ đầu công cuộc đổi mới ta đã xem rất đúng rằng đổi mới tư duy trước hết là tư duy

thường xuyên bồi dưỡng một tư duy mới để vững bước tiếp tục con đường cải cách,
trước mắt xoá bỏ mọi rào cản để mọi yếu tố tích cực, năng động được tự do phát triển
trong một nền kinh tế thị trường lành mạnh và rồi sau đó tiếp tục chăm lo tạo môi
trường thuận lợi cho mọi nhân tố mới, mọi tài năng mới được tự do nảy nở và đua
tranh, làm cho đất nước ta dân giàu mạnh trong một nền kinh tế tri thức, vững vàng với
tư thế bình đẳng tiến vào con đường hội nhập chung với thế giới.
Khoa học hiện đại và triết học
Nguyễn Văn Dũng
Tạp chí Triết học
Trong bài "văn hoá khoa học và văn hoá nhân văn" trên Tạp chí Văn học, số 2 năm
1994, tác giả Hoàng Đình Phu đã viết như sau: "Khoa học chỉ là một kiểu nhận thức,
chứ không phải là kiểu nhận thức duy nhất... còn có những kiểu nhận thức... dựa vào
trực giác, vào suy tư, vào các hoạt động nội tâm". Paul Feyer, nhà triết học Mỹ cũng
Ldthieu sưu tầm 13
đưa ra một luận đề: đường vào khoa học không chỉ là một tuyến tính mà là "hỗn loạn"
(anarchiste), là "đa nguyên".
Trong lịch sử khoa học, người ta coi phát minh về lý thuyết tương đối của A.Einstein là
sự mở đầu cho khoa học hiện đại, bởi vì từ đây con người khám phá ra một thế giới mới
và gắn liền với nó là một phương pháp khoa học hoàn toàn khác về chất so với khoa
học cổ điển. Trong cuốn Cơ cấu cách mạng khoa học, nhà triết học người Mỹ Thomas
Kuhn cho rằng mỗi thời kỳ phát triển bình thường của khoa học đều có một hệ thống
chuẩn tương ứng: hiện nay là hệ chuẩn kiểu Einstein, trước đó là hệ chuẩn kiểu
Newton. Nhà triết học người Pháp G.Bachelar lại cho rằng mỗi giai đoạn phát triển của
khoa học là một sự gần đúng: lý thuyết về vạn vật hấp dẫn của Newton là sự gần đúng
thứ nhất, còn lý thuyết tương đối của Einstein là sự gần đúng thứ hai.
Vào đầu thế kỷ XX, Einstein cùng với Planck đã làm một cuộc “cách mạng khoa học",
đưa đến một hệ thống giá trị mới chi phối cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Sự khám
phá một quy mô lượng tử không thể nhận biết được bằng giác quan với những định luật
hoàn toàn khác với những định luật có thể nhận biết được trong đời sống hàng ngày. Đó
là đóng góp quan trọng nhất của khoa học hiện đại vào tri thức nhân loại. Tư tưởng này

nhiên nhưng vẫn chừa nơi vùng vẫy cho cái ngẫu nhiên. Sự tiến hoá của sinh quyển của
chúng ta phải chăng là kết quả của một dự án phức tạp diễn ra theo một kịch bản đã
được thiết kế chặt chẽ từ trước, cho nên ta chỉ còn nhiệm vụ mô tả và phân tích nó.
Hoặc không phải thế, mà đó là kết quả của một chuỗi sự kiện ngẫu nhiên, giờ đây vật lý
học cổ điển không còn khả năng cho ta một lời giải đáp.
Vì sức sống của cái ngẫu nhiên nằm trong thực tại, cho nên thực tại bao chứa cái không
thể tiên đoán, cái bấp bênh. Và đó chính là nền tảng của lý thuyết hỗn.độn. Như vậy,
bản thân thực tại là hỗn độn, chứ không do sự bất cập của hệ thống tri thức của chúng
ta, hay không do sự không hoàn hảo của thiết bị kỹ thuật của chúng ta. Trong thế giới
hỗn độn, đầy ngẫu nhiên, nhiều dự đoán gần như không sao thực hiện được bởi vì một
nguyên nhân bé có thể dẫn đến những hiệu quả to , cực to mà con người dường như
không tưởng tượng nổi. Nhà khí tượng học người Mỹ Edward Lorenz đã đưa ra một
hình ảnh nổi tiếng để nói về cáải không thể dự đoán được của con người. Đó là cái đập
cánh của một con bướm ở vùng Amazone có thể gây nên một trận cuồng phong ở bờ
biển Bretagne.
Cùng với lý thuyết về hỗn độn, lý thuyết về phức hợp cũng không kém phần bí ẩn. Nhà
triết học người Pháp Edgar Morin cho rằng "Tín điều của một thứ chủ nghĩa quyết định
đã sụp đổ bởi vì vũ trụ không bị chi phối bởi chủ nghĩa quyền tuyệt đối của trật tự mà
còn bởi mối quan hệ dialogique giữa trật tự, rối loạn và tổ chức". Phức hợp như vậy,
một mặt, là sự liên kết, và mặt khác, là sự chấp nhận thách thức của sự không chắc
chắn. Nguyên lý dialogique đã nối hai nguyên lý hay hai khái niệm đối kháng nhau,
nhưng không tách rời nhau và đều cần thiết để hiểu rõ thực tại. Niels Bohr cho rằng hạt
vật lý vừa là hạt, vừa là sóng. Pascal viết: "Đối nghịch với sự thục không phải là sai
lệch mà là một sự thực đối nghịch”. Bohr nói rõ hơn: “Sự ngược lại của sự thực thông
thường là một sai lệch vô lý, nhưng sự trái ngược của một sự thực sâu sắc thì bao giờ
cũng là một sự thật sâu sắc .
Rõ ràng, khoa học hiện đại đã tạo dựng một quang cảnh mới và đã đóng lại thời kỳ tôn
thờ cái châm ngôn khoa học “càng đơn giản thì càng đẹp, càng đúng", đã mở màn cho
một châm ngôn khoa học mới "càng phức hợp, càng hỗn độn thì càng hiện thức". Càng
hiện thực bởi vì cái bị quy định theo tinh thần nhân quả máy móc đã nhường bước cho

những miền mà vật lý học hầu như hoà lẫn vào siêu hình học.
Ở phương Tây, cho đến nay người vẫn trung thành với định nghĩa của nhà khoa học,
nhà triết học lớn Descartes về siêu hình học. Trong nhưng nguyên lý của triết học
Descartes viết: "Toàn thể triết học như một cái cây mà rễ là siêu hình học, thân là hình
nhi hạ học". Trước hết, đó là những sự vật như bản thể nói chung, nhất là Thượng đế, là
những bản thể tinh thần được làm ra từ hình ảnh của Người (Bossuet), đó là toàn thể
những tri thức do năng lực nhận thức a priori đưa lại (Kant), đó là tri thức trực giác của
cái tuyệt đối và một cách ưu tiên của cái tinh thần (Bergson). Còn có thể kể tiếp nhiều ý
tưởng tương tự. Tất cả các chân lý của siêu.hình họe, nói như Husserl, đều là cái bất
biến, nói như J.P. Sartre, là cái vô bằng, nó là nguyên nhân của chính nó.
Einstein đã nói một câu nổi tiếng về sự bất cập của chủ nghĩa duy lý: Điều khó hiểu
nhất của thế giới là có thể hiểu được thế giới, có nghĩa là mặt phi lý nhất của thế giới là
ở tính duy lý của nó. Cho nên, để thực hiện khoa học trong quan hệ con người - tự
nhiên, không chỉ có sự tương hợp giữa tư duy, tức lý trí và tự nhiên, mà còn cần một
nhân tố thứ ba - Einstein gọi đó là trực giác - với chức năng là hình thức nhận thức tức
thời của con người trong sự hình thành những phát minh khoa học lớn.
Người ta cho rằng chủ nghĩa quy giản ca tụng một thứ chủ nghĩa nhị nguyên tầm
thường, sai lầm và tĩnh tại đã không biết, đã quên lãng nhân tố thứ ba này của sự nhận
Ldthieu sưu tầm 16
thức. Trực giác mà Einstein nói ở đây chính là sự tưởng tượng của con người vượt ra
ngoài vòng cương tỏa của lý trí. Vậy, tính ưu tiên dành cho năng lực nào của nhận
thức? Einstein khẳng định: "tưởng tượng quan trọng hơn tri thức". Nhà bác học về sinh
học phân tử Fracois Jacob cho rằng trong công việc của nhà khoa học cũng như trong
công việc của nhà nghệ sĩ, yếu tố tưởng tượng ít nhất lúc bắt đầu, rất giống nhau. Ông
nói: "Co ngựa phi, con chim bay, con bọ chét nhảy. Còn chúng ta thì hoạt động với sức
tưởng tượng của mình". I.Prigorine (giải thưởng Nobel về hoá học) cũng đề xướng chủ
đề về “sự liên minh” giữa con người và vũ trụ. J.Monod (giải thưởng Nobel về y học)
cũng góp phần vào vấn đề lớn chung đó. Xem xét lịch sử khoa học thì đặc trưng về tư
duy nói trên ở nhà khoa học cũng không hoàn toàn là bất ngờ. Từ thời cổ đại, Aristote
chả đã nói rằng “khoa học bắt đầu từ sự ngạc nhiên” hay sao?

Ldthieu sưu tầm 17
Khoa học thực hiện thí nghiệm. Thí nghiệm đó được truyền đạt và được lặp lại, được
xác định một cách khách quan và ở mức tối đa. Thí nghiệm là quan toà tối cao của khoa
học. Trái lại, trong rất nhiều trưởng hợp, truyền thống không thể truyền đạt bằng ngôn
ngữ tự nhiên, nó là “vô ngôn". Thí nghiệm của truyền thống là duy nhất, là triệt để vượt
qua những phạm trù logic thông thường.
Khoa học quan tâm chủ yếu đến hiệu quả ở mức cao nhất, trên phương diện tính vật
chất trực tiếp, nhằm dẫn tới những phát minh. Trái lại, truyền thống có quyền không
tính tới hiệu quả đối với tính vật chất không gian - thời gian, tính vật chất trực tiếp của
quan sát.
Tóm lại, khoa học hiện đại vẫn khác với truyền thống về bản chất, cả về phương điện
huy động và về mục đích. Chúng như hai cực của một mâu thuẫn, hai cái nan hoa của
một bánh xe. Tuy khác nhau, nhưng chúng luôn luôn hướng về một tâm: đó là con
người và sự tiến hóa của con người. Đây là nguyên lý về sự cần thiết đối với truyền
thống của khoa học hiện đại.
Thế giới ngày nay hiện ra như một tấm thảm rộng mênh mông làm bằng nhiều mảnh bị
tung toé ra, không sao ghép lại một cách khoa học được,- điều không giống như người
ta nghĩ trước đây. Đầu thế kỷ chúng ta, khoa học đi chậm lại vì đường đi trước mắt
không còn tỏ tường. Triết học đã làm cho con đường đó sáng lên. Khoa học đã nhìn
thấy gốc của mình ở siêu hình học và từ đó nó vươn vai đứng lên mạnh mẽ như ngày
hôm nay. Và bây giờ, đến lượt nó, nó lại chứng minh cho triết học theo nguyên lý của
lý thuyết phức hợp rằng tư duy lý trí và tư duy không lý trí, hoạt động của tư duy khoa
học và của tư duy siêu hình học vừa có sự phân biệt, vừa có sự liên kết không tách rời.
Để làm rõ ý tưởng này, chúng tôi xin đề cập tới phát minh khoa học của Roger Sperry
về chức năng cao cấp của não - phát minh đã đưa lại cho ông giải thưởng Nobel về sinh
lý và y học. Trước khi có phát minh này, nhà thần kinh học người Pháp Pierre Paul
Broca đã chứng minh rằng vùng tiếng nói nằm ở bán cầu trái của não. Còn nhà sinh lý
học người Nga Paplov cho rằng ở nhà nghệ sĩ thì trội ở bán cầu phải - bán cầu mang
tính tổng thể, còn ở nhà tư tưởng thì trội ở bán cẩu trái - bán cầu có tính phân tích.
Roger Sperry đã đề xướng một lý thuyết chặt chẽ về chức năng riêng của từng bán cầu.

của siêu hình học, của triết học là triết học phân tích thực dụng và trường phái lịch sử ở
Mỹ - trường phái gây tiếng vang lớn trong giới khoa học thế giới hiện đại. Điểm nổi bật
của các trường phái triết học khoa học ở Mỹ là từ bỏ cái thế đứng ngoài để mô tả "sự
tăng trưởng của tri thức". Sự tăng trưởng của tri thức đó chỉ có thể có được, nếu nó
không rời bỏ gốc rễ của nó là siêu hình học, nếu những nhân tố giá trị không bao giờ
vắng mặt trong hoạt động khoa học.
Để giải được “vấn đề” đầy ngạc nhiên của khoa học, K.Poppêr đã huy động chú giải
học để khơi dậy sự tưởng tượng, nhằm dẫn tới lý thuyết khoa học. Cũng từ chú giải học
Richard Rorty coi "đàm thoại" (conversation) là hoạt động phổ biến của con người để
tìm chân lý: chân lý không hề có săn bới vì con người không có mục tiêu nào khác
ngoài chính bản thân mình.
Nếu Popper cho chỉ có siêu hình học mới đóng được vai trò phác thảo đầu tiên của lý
thuyết khoa học, thì Lakatos coi siêu hình học là "hạt nhân rắn", tức những nguyên lý
bất biến không thể bị bác bỏ trong khoa học. T.Kuhn đã đưa siêu hình học vào hệ chuẩn
và đã lý giải mối quan hệ "hệ chuẩn - xã hội khoa học" (paradiglne socxiété
scientifique) theo chủ nghĩa phi duy lý và chủ nghĩa chống trí tuệ. ông cho rằng niềm
tin của "xã hội khoa học" là nhân tố quyết định sự chuyến hóa từ hệ chuẩn này sang hệ
chuẩn kia. Peyerabend là người đẩy chủ nghĩa phi duy lý đến đỉnh cao. Ông cho rằng
trong khoa học không thể chỉ có cái lý tính mà còn có cái ',lỏng lẻo", "cái hỗn độn" của
cái phi lý tính theo nguyên tắc "thế nào cũng được", tức chủ nghĩa đa nguyên trong
khoa học.
Trong trường phái lịch sử Mỹ, Wartofski là người tích cực nhất trong việc phục hồi siêu
hình học để phát triển khoa học. Ông đặc biệt kế thừa phạm trù lương tri trong siêu hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status