Tiểu luận những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin - Pdf 22

Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
TIỂU LUẬN
MÔN: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
Đề tài: “Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất và vận dụng trong quá trình phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam”.
GV hướng dẫn : Thạc sĩ Nguyễn Vân Hà
Sinh viên : Lê Quang Minh
Lớp : H17 - Khoá 45
- Hà Nội, tháng 5/2004 -
A - Đặt vấn đề
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội là lịch sử phát triển của những phương
thức sản xuất kế tiếp nhau từ thấp đến cao. Mà lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất la
hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn
nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - quy luật cơ bản nhất của sự vận động phát
triển của xã hội.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là
quy luật phổ biến, tác động trong toàn tiến trình lịch sử của nhân loại.
Sự vận động, phát triển cùa lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ
sản xuất cho phù hợp với nó. Ngược lại, quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương và
tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nó là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển. Ngược lại, khi quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo
so với trình độ phát triển củ lực lượng sản xuất sẽ lại kìm hãm sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Do đó, việc giải quyết mâu thẫu giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất
không phải là đơn giản.

xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm xã hội (sản xuất và tái sản xuất xã hội).
Trong quá trình sản xuất, con người không chỉ có quan hệ với tự nhiên, tác động
vào giới tự nhiên, mà còn có quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau. Hơn nữa, chỉ có trong
quan hệ tác động lẫn nhau thì con người mới có sự tác động vào tự nhiên và mới có sản
xuất.
Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan hệ giữa con
người với con người trên ba mặt chủ yếu sau:
- Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan hệ giữa con người với con
người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội.
- Quan hệ trong tổ chức và quản lý là quan hệ giữa con người với con người trong
việc tổ chức quản lý sản xuất xã hội và trong trao đổi hoạt động cho nhau.
- Quan hệ phân phối lưu thông là quan hệ giữa con người với con người trong phân
phối và lưu thông sản phẩm xã hội.
Trang 3
Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại
lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định. Trong xã
hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất thì giai cấp đó là giai cấp thống
trị; giai cấp ấy đứng ra tổ chức, quản lý sản xuất và sẽ quyết định tính chất, hình thức
phân phối, cũng như quy mô thu nhập. Ngược lại, giai cấp, tầng lớp nào không có tư liệu
sản xuất thì sẽ là giai cấp, tầng lớp bị thống trị, bị bóc lột vì buộc phải làm thuê và bị bóc
lột dưới nhiều hình thức khác nhau.
Tuy vậy, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối lưu thông cũng có tác động
trở lại quan hệ sản xuất.
Quan hệ sản xuất trong tính hiện thực của nó không phải là những quan hệ ý chí,
pháp lý mà là quan hệ kinh tế được biểu diễn thành các phạm trù, quy luật kinh tế.
Quan hệ sản xuất mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của
con người. Sự thay đổi của các kiểu quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất.
c) Phương thức sản xuất
Phương thức sản xuất là cách thức con người khai thác những của cải vật chất (tư

dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát
triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Thay
thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là phương thức sản xuất
cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế.
b) Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của
lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất không
hoàn toàn thụ động mà tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản
xuất có thể tác động đến lực lượng sản xuất vì nó quy định mục đích của sản xuất, tác
động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động
xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ và do đó tác động đến sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại quan hệ sản
xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất
Trang 5
kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất
cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là
quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự thay thế, phát
triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thuỷ, qua chế độ chiếm hữu nô lệ,
chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác
động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất.
II/ Vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào quá trình phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta là nền kinh tế đang thực hiện những
cuộc cải biến cách mạng toàn diện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá,

nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề, những tàn dư thực
dân, phong kiến còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ
xã hội chủ nghĩa và nền độc lập dân tộc của nhân dân ta”.
Thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ nghĩa xã
hội cũng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nước đã có nền kinh tế rất phát triển,
bởi lẽ, ở các nước này, tuy lực lượng sản xuất đã phát triển cao nhưng vẫn còn cần phải
cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất mới, xây dựng nền văn hoá mới. Dĩ nhiên, đối với
những nước thuộc loại này, về khách quan có nhiều thuận lợi hơn, thời kỳ quá độ có thể
diễn ra ngắn hơn. Đối với nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thì lại càng phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài.
Theo Củ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một
thời lỳ lịch sử mà: “nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật
chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,…tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và
nông nghiệp hiện đại, có văn hoá, khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội
chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà trong đó
xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”.
Trang 7
Tuy vậy, sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, bằng sự nỗ lực
sáng tạo của quần chúng, các ngành, các cấp, chúng ta đã vượt qua được khủng hoảng, đạt
được những thành tựu to lớn và rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn trên nhiều lĩnh
vực của đời sống xã hội: kinh tế tăng trưởng nhanh, chính trị ổn định, mở rộng quan hệ
kinh tế đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng nguồn vốn và công nghệ,
phát huy nội lực đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bộ mặt kinh tế - xã
hội thay da đổi thịt hàng ngày, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Trong quá trình đổi mới, một trong những vấn đề tư duy lý luận cốt lõi thuộc về
đường lối là sự chuyển đổi từ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đảng và nhà nước ta đã chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách: phát
triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, định hướng xã
hội chủ nghĩa có sự quản lý điều tiết của nhà nước.
Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới

tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hoá, du lịch, thể dục thể thao… đều được tăng
cường đáng kể.
- Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển. Nước ta đã xây dựng quan hệ thương mại
với trên 140 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được nhiều
nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm trên
21%, gấp 3 lần mức tăng GDP. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục gia tăng, đóng góp
tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội. Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tiếp tục
tăng, góp phần quan trọng phát triển kết cấu hạ tầng.
Hai là văn hoá, xã hội có những tiến bộ, đời sống nhân dân tiếp tục được cải
thiện.
- Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới cả về quy mô, chất lượng,
hình thức đào tạo và cơ sở vật chất. Năm học 1999 - 2000 so với 1994 -1995 số học sinh
các cấp học, bậc học đều tăng đáng kể, mẫu giáo tăng 1,2 lần, trung học cơ sở 1,6 lần,
trung học phổ thông 2,3 lần, đại học 3 lần, học nghề 1,8 lần. Đến hết năm 2000, cả 61
(nay là 64) tỉnh, thành phố đều đã đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù
chữ; một số tỉnh, thành phố đã bắt đầu phổ cập trung học cơ sở. Phong trào học tập phát
triển nhanh, chất lượng giáo dục - đào tạo đã có chuyển biến bước đầu. Việc xã hội hoá
giáo dục - đào tạo đã bước đầu được triển khai và phát triển.
Trang 9
- Việc làm và đời sống của nhân dân được giải quyết có nhiều kết quả. Công tác
xoá đói giảm nghèo được triển khai mạnh mẽ, rộng khắp, nhất là ở các vùng nghèo, xã
nghèo, đạt kết quả tốt, được đánh giá là một trong những nước giảm tỷ lệ đói nghèo tốt
nhất. Đời sống dân cư nhiều vùng được cải thiện rõ rệt.
- Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình; bảo vệ chăm sóc trẻ em, chăm sóc sức
khoẻ nhân dân; chăm sóc người có công, đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn; thể
dục thể thao… đã đạt nhiều kết quả tốt.
Những thành tựu đạt đạt được trong những năm qua đã tăng cường sức mạnh tổng
hợp, làm thay đổi bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân, củng cố vững chắc độc
lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường
quốc tế.

- Do giao thông vận tải kém phát triển nên chưa lôi cuốn được tất cả các vùng
trong nước vào một mạng lưới lưu thông hàng hoá thống nhất.
- Thị trường hàng hoá - dịch vụ đã hình thành nhưng còn hạn hẹp và còn nhiều
hiện tượng tiêu cực (hàng giả, hàng lậu, hàng nhái vẫn làm rối loạn thị trường).
- Thị trường hàng hoá sức lao động mới manh nha, một số trung tâm giới thiệu
việc làm và xuất khẩu lao động mới xuất hiện nhưng đã nảy sinh hiện tượng khủng
hoảng. Nét nổi bật của thị trường này là sức cung về lao động lành nghề nhỏ hơn cầu rất
nhiều, trong khi đó cung về sức lao động giản đơn lại vượt quá xa cầu, nhiều người có sức
lao động không tìm được việc làm.
- Thị trường tiền tệ, thị trường vốn đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều trắc
trở, như nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân thiếu vốn nhưng không vay
được vì vướng mắc thủ tục, trong khi đó nhiều ngân hàng thương mại huy động được tiền
gửi mà không thể cho vay để ứ đọng trong két, dư nợ quá hạn trong nhiều ngân hàng
thương mại đã đến mức báo động. Thị trường chứng khoán ra đời nhưng chưa có nhiều
“hàng hoá” để mua - bán và mới có rất ít doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia thị trường
này.
Ba là, có nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường, do vậy nền kinh tế ở nước
ta có nhiều loại hình sản xuất hàng hoá cùng tồn tại, đan xen nhau, trong đó sản xuất hàng
hoá nhỏ phân tán còn phổ biến.
Trang 11
Bốn là, sự hình thành thị trường trong nước gắn với mở rộng kinh tế đối ngoại, hội
nhập vào thị trường khu vực và thế giới, trong hoàn cảnh trình độ phát triển kinh tế - kỹ
thuật của nước ta thấp xa so với hầu hết các nước khác.
- Toàn cầu hoá và khu vực hoá về kinh tế đang đặt ra chung cho các nước cũng
như nước ta nói riêng những thách thức hết sức gay gắt. Nhưng nó là xu thế tất yếu khách
quan, nên không đặt vấn đề tham gia hay không tham gia mà chỉ có thể đặt vấn đề: tìm
cách sử xự với xu hướng đó như thế nào? Phải chủ động hội nhập, chuẩn bị tốt để tham
gia vào khu vực hoá và toàn cầu hoá, tìm ra “cái mạnh tương đối” của ta, thực hiện đa
phương hóa, đa dạng hóa kinh tế đối ngoại để tận dụng ngoại lực để phát huy nội lực,
nhằm thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, định hướng đi lên chủ

cần tập trung nguồn lực phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước trong những lĩnh vực
trọng yếu của nền kinh tế, sắp xếp lại khu vực kinh tế nhà nước, thực hiện tốt chủ trương
cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu đối với những doanh nghiệp nhà nước không cần nắm
100% vốn. Xây dựng và củng cố một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công
ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Đẩy mạnh việc đổi mới kỹ thuật,
công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện chế độ quản lý công ty đối với tất
cả các doanh nghiệp kinh doanh có vốn của nhà nước, doanh nghiệp thực sự cạnh tranh
bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh.
Phát triển kinh tế tập thể dưới nhiều hình thức đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng
cốt. Nhà nước cần giúp đỡ hợp tác xã và đào tạo cán bộ, xây dựng phương án sản xuất
kinh doanh, mở rộng thị trường. Thực hiện tốt việc chuyển đổi hợp tác xã theo luật hợp
tác xã.
Khuyến khích kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển ở cả thành thị và nông thôn. Nhà
nước tạo điều kiện và giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển có hiệu quả. Khuyến
khích kinh tế tư bản tư nhân phát triển trong những ngành nghề sản xuất kinh doanh mà
pháp luật không cấm. Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh,
liên kết giữa kinh tế tư nhân trong và ngoài nước; tạo điều kiện kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài hướng vào mục tiêu phát triển các sản phẩm xuất khẩu, tăng khả năng cạnh
tranh, gắn thu hút vốn với thu hút công nghệ hiện đại.
b) Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học -
công nghệ, trên cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội.
Trang 13
Phân công lao động xã hội là cơ sở chung của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Vì
vậy, để phát triển kinh tế hàng hoá, phải đẩy mạnh phân công lao động xã hội. Nhưng sự
phát triển của phân công lao động do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết
định, cho nên muốn mở rộng phân công lao động xã hội, cần đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại.
Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời
gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt,
gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến,

thế mạnh của đất nước nhằm phát triển kinh tế.
Khi mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải quán triệt nguyên tắc bình đẳng, cùng
có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Mở rộng kinh tế đối ngoại theo
hướng đa phương hoá và đa dạng hoá các hình thức kinh tế đối ngoại.
Hiện nay, cần đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là trọng điểm của kinh tế đối
ngoại. Giảm dần nhập siêu, ưu tiên nhập khẩu tư liệu sản xuất để phục vụ sản xuất. Tranh
thủ mọi khả năng và bằng nhiều hình thức thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, việc
thu hút đầu tư nước ngoài cần hướng vào những lĩnh vực, những sản phẩm có công nghệ
tiên tiến, có tỷ trọng xuất khẩu cao. Việc sử dụng vốn vay phải có hiệu quả để trả được
nợ, cải thiện được cán cân thanh toán. Chủ động tham gia tổ chức thương mại quốc tế, các
diễn đàn, các định chế quốc tế một cách có chọn lọc với bước đi thích hợp.
e) Giữ vững sự ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống luật pháp.
Sự ổn định chính trị bao giờ cũng là nhân tố quan trọng đầu tiên để phát triển. Nó
là điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh trong nước và ngoài nước yên tâm đầu tư.
Muốn giữ vững sự ổn định chính trị ở nước ta hiện nay cần phải giữ và tăng cường vai trò
lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân.
Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần. Nó tạo ra hành lang luật pháp cho hoạt động kinh tế, buộc các
doanh nghiệp chấp nhận sự điều tiết của nhà nước.
f) Xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hoàn thiện cơ chế quản lý
kinh tế của nhà nước.
Trang 15
Việc xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành đồng bộ và
vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước có ý nghĩa hết sức
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế hàng hoá ở nước ta.
Để nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của nhà nước, cần nâng cao năng lực
của các cơ quan lập pháp, hành pháp cà tư pháp, thực hiện cải cách nền hành chính quốc
gia. Nhà nước thực hiện định hướng sự phát triển kinh tế, có hệ thống chính sách nhất
quán để tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho hoạt động kinh tế, hạn chế, khắc phục

Đại hội Đảng VIII của Đảng ta (tháng 6/1996) ra nghị quyết tiếp tục nắm vững hai
nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là biến nước ta
thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,
quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống
vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
Đại hội VIII cũng xác định rõ, nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực
lượng, tranh thủ thời cơ, đối mặt với thách thức, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách
toàn diện và đồng bộ; tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng trưởng
kinh tế mạnh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã
hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải
thiện đời sống của nhân dân.
3 - Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và nhà nước ta từ nay đến năm
2010
Mục tiêu tổng quát là: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao
rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần cuả nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con
người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an
ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình
thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”.
Mục tiêu cụ thể là:
Trang 17
- Năm 2010, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng ít nhất gấp đôi so với năm
2000. ổn định kinh tế vĩ mô. Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm,
của doanh nghiệp và nền kinh tế. Cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh. Tích luỹ từ nội
bộ nền kinh tế đạt trên 30% GDP. Nhịp độ tăng trường xuất khẩu gấp hơn 2 lần nhịp độ
tăng GDP. Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp 16 - 17%, công nghiệp 40 - 41%, dịch vụ
42 - 43%. Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 50%.

những nỗ lực và quyết tâm đúng hướng của mình, Đảng ta sẽ sớm đưa được con tàu đất
nước đến cái đích “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà Đại
hội VIII đã đề ra.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Triết học Mác-Lênin. (NXB Chính trị quốc gia)
2. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin. (NXB Chính trị quốc gia)
3. Kinh tế chính trị Mác-Lênin. (NXB Giáo dục)
4. Tài liệu học tập Văn kiện đại hội IX của Đảng. (NXB Chính trị quốc gia)
5. Tạp chí Triết học. (số tháng 1 & tháng 6/2002; tháng 3/2003)
6. Tạp chí Cộng sản. (số tháng 9/2003)
Trang 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status