Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sản phẩm thủy sản của tỉnh khánh hòa sang thị trường mỹ - Pdf 22

MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết của đề tài:
Nước ta nằm trong khu vực Đông Nam Á với chiều dài bờ biển 3260 km trải
suốt 13 độ theo hướng Bắc Nam. Vùng lãnh hải hơn một triệu km2 mặt nước biển
bao gồm nhiều sông ngòi, đầm, vịnh… với nguồn lợi hải sản rất phong phú tạo điều
kiện thuận lợi cho ngành thủy sản phát triển mạnh cả ba mặt: khai thác , nuôi trồng
và chế biến. Thêm vào đó là hàng trăm cửa sông đổ ra biển tạo nhiều vùng với hàng
triệu ha mặt nước có khả năng nuôi trồng và khai thác các loài đặc sản có giá trị
kinh tế cao tạo ra nhiều vùng công nghiệp nghề cá trải dài từ Bắc tới Nam. Với
nguồn lợi vốn có đó đã tạo cho ngành thủy sản một tiềm năng to lớn trong định
hướng phát triển kinh tế của đất nước. Nền kinh tế Việt Nam đang trong tiến trình
hội nhập với khu vực và thế giới, với phương châm “đa dạng hóa thị trường, đa
dạng hóa mối quan hệ kinh tế” thông qua con đường xuất khẩu để nâng cao tính
cạnh tranh và hiệu quả của sự phát triển.Trong những năm gần đây ngành thủy sản
đã vươn lên thành một trong những ngành đi đầu cả nước về kim ngạch xuất khẩu.
Được sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi của các cấp lãnh đạo cùng vớI sự nỗ lực
của các doanh nghiệp mà hiện nay sản phẩm thủy sản đã có mặt trên nhiều quốc gia,
đặc biệt là có mặt trên các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản…tạo điều kiện
thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
. Cùng với xu hướng phát triển kinh tế xuất khẩu của cả nước, xu hướng hội nhập
kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp thủy sản của tỉnh nhà đã và đang nổ lực hơn nữa
để sản phẩm thủy sản được bán trên thị trường quốc tế. Một trong những thị trường
có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam nói chung và của tỉnh
Khánh Hòa nói riêng đó là Mỹ. Đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm thủy sản sang thị
trường này chẳng những tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế Việt Nam đẩy nhanh tiến
trình hội nhập, mà còn gia tăng sự phát triển và nâng cao tính cạnh tranh của hàng
hóa Việt Nam. Hiện nay các doanh nghiệp đang phấn đấu xuất sang thị trường Mỹ,
một thị trường khó tính nhưng có triển vọng vơí tiềm năng cao và đã có bước đầu
thâm nhập thị trường này. Nhìn lại xuất khẩu thủy sản của tỉnh Khánh Hòa ta thấy
trong 5 qua từ 2001-2005, ngành thủy sản Khánh Hòa luôn phát triển toàn diện trên
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
- Phạm vi nghiên cứu: Vì vấn đề mà em đang nghiên cứu rất rộng, vì điều
kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế nên đồ án chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu
thực trạng xuất khẩu sản phẩm thủy sản của tỉnh Khánh Hòa trong ba năm
2003,2004,2005 để từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần làm hoàn thiện hoạt
động xuất khẩu sản phẩm thủy sản của tỉnh sang thị trường Mỹ thời gian tới. Với
giả định rằng vấn đề nuôi trồng, khai thác đáp ứng đầy đủ nguyên liệu cho vấn đề
xuất khẩu, khâu sản xuất được xem như là tốt. Tuy nhiên trong thực tế còn nhiều
vấn đề về vốn kinh doanh, cơ chế quản lý nhà nước, nên đồ án không tránh được
những thiếu sót
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp điều tra.
6. Những đóng góp của đồ án :
Về mặt lý thuyết, đồ án đã hệ thống hóa được những vấn đề cơ bản về hoạt động
xuất khẩu. về mặt thực tiễn, đồ án đã đề ra một số giải pháp nhằm góp phần đẩy
mạnh hoạt động xuất khẩu sản phẩm thủy của tỉnh Khánh Hòa sang thị trường Mỹ
trong thời gian tới và đồng thời cũng là tài liệu để các sinh viên khóa sau tham
khảo.
5. Bố cục của đồ án:
- Tên đề tài: “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu sản phẩm thủy sản của tỉnh Khánh Hòa sang thị trường Mỹ”.
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đồ án gồm
3 chương:
Chương1: Một số lý luận cơ bản về xuất khẩu.
Chương2: Thực trạng tình hình xuất khẩu sản phẩm thủy sản của tỉnh Khánh
Hòa sang thị trường Mỹ trong những năm gần đây(2003-2005).
Chương3: Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sản
phẩm thủy sản của tỉnh Khánh Hòa sang thị trường Mỹ trong thời gian tới. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com


của doanh nghiệp là sự trao đổi hàng hóa trên thị trường thông qua mua bán.
Hoạt động của ngoại thương nói chung có hai chức năng cơ bản:
- Là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, có chức năng tạo vốn cho
quá trình mở rộng vốn đầu tư trong nước, chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi
cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc nội, thích ứng với nhu
cầu tiêu dùng và tích lũy góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo
ra môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Là một ngành kinh tế đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa giữa trong và
ngoài nước thì chức năng cơ bản của ngoại thương là: xuất khẩu hàng hóa trong
nước ra nước ngoài và nhập khẩu hàng hóa ở nước ngoài vào nước mình, nối liền
một cách hữu cơ thị trường trong và nhoài nước, thỏa mãn nhu cầu của sản phẩm
với người tiêu dùng trong và ngoài nước.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
I.1.2. Đặc điểm của hoạt động ngoại thương:
Hoạt động ngoại thương có một số đặc điểm sau:
- Thị trường là nước ngoài và chủ thể mua bán là khách hàng, bạn hàng và
các tổ chức kinh tế nước ngoài. Khi đóng vai trò là người bán donh nghiệp có quan
hệ giao dịch bán hàng cho cá nhân, hãng thương mại hoặc hãng xuất khẩu, hãng
môi giới.
- Các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu phải cạnh tranh gay gắt
với các đối thủ về chất lượng, giá cả và phương thức mua bán. Để đảm bảo hiệu quả
đòi hỏi phải nâng cao cạnh tranh.
- Việc thanh toán giữa các tổ chức kinh tế của các nước phải dùng bằng
ngoại tệ có giá trị chuyển đổi. Chính vì vậy sự thay đổi giữa trị giá hối đoái, sự biến
động của thị trườngtiền tệ quốc tế có ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động xuất nhập
khẩu.
- Hoạt động thương mại quốc tế không chỉ ảnh hưởng của các quan hệ
kinh tế mà còn chịu ảnh hưởng rất mạnh của các quan hệ chính trị- xã hội quốc tế.
Chính sách khuyến khích xuất khẩu và các chính sách bảo hộ sản xuất trong nước là
các chính sách tác động đến hoạt động thương mạI quốc tế của doanh nghiệp.

xuất kinh doanh mở rộng.
Góp phần phát triển quan hệ kinh tế quốc dân của đất nước và thực hiện chiến
lược hướng về xuất khẩu.
Là phương hướng cơ bản để tăng cường và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Hoạt động thương mại quốc tế giúp các doanh nghiệp
vươn ra thị trường thế giới, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Hoạt động ngoại thương đóng vai trò vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc
đẩy sản xuất phát triển, tạo điều kiện cho ngành kinh tế khác phát triển.
Tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản xuất phát triển
ổn định. Thúc đẩy các doanh ngiệp xuất nhập khẩu phải luôn tự đổi mới, hoàn thiện
công việc quản trị sản xuất và kinh doanh.
I.2.2 Nhiệm vụ của hoạt động ngoại thương:
Dựa trên cơ sở chức năng của ngoại thương và đặc điểm của hoạt động thương
mại quốc tế, và cũng xuất phát từ những nhiệm vụ mục tiêu phát triển kinh tế trong
thời kì này mà hoạt động thương mại quốc tế của doanh nghiệp có nhiệm vụ cơ bản
sau:
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp
hóa đất nước.
- Góp phần giải quyết những vấn đề quan trọng như vốn, việc làm, công
nghệ, sử dụng tài nguyên có hiệu quả…
- Đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động thương mại quốc tế
của doanh nghiệp.
- Thực hiện theo đúng luật và các chinh sách của nhà nước về hoạt động
xuất nhập khẩu.
I.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU:

I.3.1. Khái niệm về xuất khẩu:
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu là chìa khóa mở ra cánh cửa giao dịch quốc tế
cho một quốc gia. Hoạt động xuất khẩu được thừa nhận là một hoạt động rất cơ bản


Là hình thức xuất khẩu qua trung gian thương mại. Các trung gian này trực tiếp
đàm phán kí kết hợp đồng thực hiên giao nhận hàng với các bên đối tác nước ngoài.
Bên tổ chức kinh doanh nhận xuất nhập khẩu ủy thác được nhận một khoản thù
lao gọi là phí ủy thác xuất khẩu.
Việc ủy thác xuất khẩu thông qua hợp đồng xuất khẩu ủy thác. Đó là loại hợp
đồng mà các chủ thể hợp đồng trong cùng một nước, đối tượng hợp đồng là hàng
hóa, dịch vụ sẽ xuất hoặc nhập qua biên giới quốc gia. Hợp đồng ủy thác xuất khẩu
là hợp đồng nhờ người khác bán hộ, còn hợp đồng nhập khẩu ủy thác là hợp đồng
nhờ người khác mua hộ.
I.3.2.3. Phương thức mua hàng đối ứng (đối lưu)
Là phương thức giao dịch xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu. Đây là
quan hệ đặc trưng cho quan hệ trực tiếp đổi hàng của nhiều đơn vị xuất khẩu nước
ta hiện nay. Vì vậy người ta còn gọi là phương thức đổi hàng hay xuất nhập khẩu
liên kết. Phương thức này yêu cầu:
- Cân bằng về tổng giá trị hàng hóa.
- Cân bằng về chủng loại hàng quý hiếm này với chủng loại hàng quý
hiếm khác.
NGƯỜI BÁN

BÁN BUÔN
BÁN LẺ
NGƯỜI MUA


sản xuất luôn thích nghi được với thị trường.
Việc đẩy mạnh xuất khẩu làm cho sản lượng sản xuất của quốc gia tăng nhanh,
từ đó đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của xã hội.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất. Thị
trường thế giới luôn đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao, vệ sinh an toàn tốt. Do đó
doanh nghiệp phải đổi mới trang thiết bị, công nghệ dây chuyền, mặt khác phải
nâng cao tay nghề cho công nhân sản xuất, học hỏi những kinh nghiệm trong quản
lý.
Đẩy mạnh xuất khẩu có tác động tích cực và có hiệu quả đến nâng cao mức
sống của người dân. Vì mở rộng xuất khẩu mà một bộ phận người lao động có công
ăn việc làm và có thu nhập, ngoài ra một phần kim ngạch xuất khẩu còn dùng để
nhập khẩu những hàng tiêu dùng thiết yếu góp phần cải thiện đời sống nhân dân.
Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước,
nâng cao địa vị và vai trò của quốc gia trên trường quốc tế. Xuất khẩu thúc đẩy và
mở rộng quan kinh tế đối ngoại của nước ta.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi.
Chẳng hạn khi phát triển ngành thủy sản xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủ cho việc
phát triển ngành nuôi trồng, khai thác thủy sản phát triển, ngành sản xuất bao bì
đựng thủy sản…
Tóm lại: việc đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu là vấn đề
có ý nghĩa phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hóa đất nước. I.3.4. Những mặt lợi và hạn chế trong xuất khẩu:
I.3.4.1. Những mặt lợi trong xuất khẩu:
- Nó sẽ phát huy cao độ tính năng động và sáng tạo của mọi người, mọi
đơn vị, mọi tổ chức, mọi địa phương trong xã hội. Cho phép tận dụng mọi nguồn
lực của đất nước đưa vào sản xuất. Khả năng phát hiện chính xác mặt hàng xuất
khẩu có hiệu quả cao sẽ có ý nghĩa to lớn.

đa dạng hóa hàng xuất khẩu với những chi phí thấp nhất, tạo điều kiện cho người
xuất khẩu tự do cạnh tranh trên thương trường thế giới.
I.3.5.1. Các biện pháp về thể chế tổ chức:
Thông qua các cơ chế chính sách và chiến lược phát triển kinh tế của đất nước.
Nhà nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ hàng hóa ở nước ngoài, thể
hiện như sau:
- Thành lập các viện nghiên cứu cung cấp thông tincho xuất khẩu.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
- Đào tạo cán bộ, chuyên gia giúp các nhà xuất khẩu.
- Lập cơ quan nhà nước ở nước ngoài để nghiên cứu tại chỗ tình hình thị
trường hàng hóa, thương nhân và chính sách của chính phủ nước sở tại.
- Nhà nước đứng ra ký kết các hiệp định thương mại, hiệp định hợp tác kỹ
thuật, vay nợ viện trợ….Trên cơ sở đó thúc đẩy xuất khẩu phát triển.
I.3.5.2.Các biện pháp tài chính - tín dụng nhằm khuyến khích đẩy
mạnh xuất khẩu:
Để khuyến khích xuất khẩu, nhà nước đã sử dụng nhiều biện pháp nhằm mở
rộng xuất khẩu,chiếm lĩnh thị trường. Những biện pháp chủ yếu là:
- Nhà nước bảo đảm tín dụng xuất khẩu.
- Miễn thuế, giảm thuế và hoàn thuế.
- Nhà nước thực hiện cấp tín dụng xuất khẩu.
- Trong tương lai để cho xuất khẩu ngày càng phát triển hơn xứng đáng
vai trò quan trọng của mình chắc chắn chính sách khuyến khích xuất khẩu ngày
càng thông thoáng hơn.
I.3.5.3. Các biện pháp tạo nguồn hàng và cải tiến cơ cấu xuất khẩu:
- Xây dựng các mặt hàng chủ lực:
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp cần xây
dựng cho mình những chiến lược hợp lý. Nhưng mặc dù đã thực hiện chính sách đa
dạng hóa mặt hàng xuất khẩu nghĩa là một doanh nghiệp không chỉ chuyên vào xuất
khẩu một vài sản phẩm mà còn xây dựng những mặt hàng chủ lực hay những con ác
chủ bài cho mình trong hoạt động ngoại thương.

và vùng biển đặc quyền kinh tế trên 1 triệu km
2
, rộng gấp 3
lần diện tích đất liền.
Trong vùng biển việt nam có trên 4000 hòn đảo, trong đó có nhiều đảo lớn như
Cô Tô, Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Hòn Mê, Phú Quốc ….có cư dân sinh sống, là nơi có
tiềm năng để phát triển du lịch, đồng thời đã, đang và sẽ được xây dựng thành một
tuyến căn cứ cung cấp các dịch vụ hậu cần, trung chuyển sản phẩm cho đội tàu khai
thác hải sản, đồng thời làm nơi cư trú đậu cho tàu thuyền trog mùa bão gió. Đảo tập
trung nhiều nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Đồ Sơn (có trên 3000 hòn đảo lớn,
nhỏ, góp phần làm cho Vịnh Hạ Long trở thành một danh thắng trên thế giới).
Trong vùng biển có nhiều vịnh, vùng, đầm , phá, cửa sông, chẳng hạn vịnh Hạ
Long, vịnh Bái Tử Long, vịnh Cam Ranh, phá Tam Giang,… và trên 400 nghìn ha
rừng ngập mặn, là những khu vực đầy tiềm năng cho phát triển giao thông, du lịch,
đồng thời cũng rất thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản và tạo nơi cư trú đậu
cho tàu thuyền đánh cá.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Biển Việt Nam có trên 2000 loài cá, trong đó khoảng 130 loài cá có giá trị kinh
tế. Theo những đánh giá mới nhất, trữ lượng cá biển trong toàn vùng biển là 4,2
triệu tấn, trong đó sản lượng cho phép khai thác là 1,7 triệu tấn/năm, bao gồm 850
nghìn cá đáy, 700 nghìn tấn cá nổi nhỏ, 120 nghìn tấn cá nổi đại dương.
Bên cạnh cá biển còn nhiều nguồn lợi tự nhiên như trên 1600 loài giáp xác, sản
lượng cho phép khai thác 50- 60 nghìn tấn /năm, có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm
và tôm mũ ni,cua, ghẹ; khoảng 2500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý nghĩa
kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc(cho phép khai thác 60-70 nghìn tấn/năm);
hằng năm có thể khai thác từ 45-50 nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế như rong
câu, rong mơ….Bên cạnh đó, còn rất nhiều loài đặc sản quí như bào ngư, đồI mồI,
chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai…
I.4.2.Sản lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu:
Trong xu thế phát triển chung của nền kinh tế sau hơn một thập kỷ theo đường

2003 458.662 2.217,105 4 0,001

194.284 9,60
2004 518.747 2.359,000 60.085 13,10

141.895 6,40
2005 612.323 2.650,000 93.576 18,80

291.000 12,34

Qua bảng số liệu trên ta thấy, ngày nay con người không chỉ ăn no mặc ấm, mà
là ăn ngon mặc đẹp, nhu cầu của họ ngày một cao. mặt khác thực phẩm về thủy sản
là loại giàu chất dinh dưỡng ít béo….Vì vậy họ ngày một có nhu cầu chuyển sang
các mặt hàng thủy sản hơn cụ thể là năm 2002 sản lượng thủy sản xuất khẩu tăng
458.658 tấn nghĩa là tăng 83.167 tấn tương đương tăng 22,15% so với năm 2001,
làm cho tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 245.335 triệu USD tương đương tăng
13,8% so vớI năm 2001.
Nhưng đến năm 2003 do ảnh hưởng của vụ bán phá giá tôm ở Mỹ liên tục xảy
ra, do vẫn còn một số hàm lượng chất kháng sinh trong sản phẩm. Vì vậy mà người
tiêu dùng đã tiêu thụ chậm lại sản lượng xuất khẩu thủy sản tăng không đáng kể cụ
thể tăng 4 tấn. Bên cạnh đó đơn giá xuất vẫn ổn định vì vậy làm cho giá trị kim
ngạch xuất khẩu trong năm tăng 194.284 tấn (9,6%) so với năm 2002.
Năm 2004 các doanh nghiệp đã chú ý nhiều hơn đến khâu tìm hiểu thị trường và
tiếp cận đến người tiêu dùng, bên cạnh đó cũng chú ý đến khâu sản xuất không
ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, và đa dạng hóa sản phẩm, vì vậy mà sản
lượng xuất khẩu tiếp tục tăng trở lại .Năm 2004 sản lượng xuất khẩu là 518.747 tấn
tức là tăng 60.085 tấn (13,1%) so với năm 2003. để cạnh tranh với các đối thủ mà
trong năm các doanh nghiệp không ngừng giảm đơn giá bình quân xuống làm cho
giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 141.895 tấn(6,4%) nhưng tăng không cao so với
các năm khác. Năm 2005 sản lượng xuất khẩu thủy sản tăng 612.323 tấn tức là tăng

- Ngày càng khẳng định vai trò của ngành kinh tế mũi nhọn trong công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. bên cạnh đó, xuất khẩu thủy sản trong những
năm qua cũng còn bộc lộ những yếu kém và tồn tại như sau.
I.5.2. Những tồn tại
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
I.5.2.1. Về cơ chế thị trường:
- Chưa nhận thức đầy đủ khả năng to lớn trong việc phát triển công
nghiệp nuôi trồng thủy sản, tạo ra nguyên liệu làm cơ sở cho tăng trưởng xuất khẩu
thủy sản.
- Tổ chức thực hiện chưa có sự phân công rõ ràng về trách nhiệm giữa
các cấp quản lý nhà nước nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản.
- Cơ cấu quản lý các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực chế biến
xuất khẩu chưa phát huy được năng lực và trí tuệ của đội ngũ cán bộ quản lý công
nhân lành nghề, tạo ra động lực phát triển bảo đảm có hiệu quả và khả năng tái sản
xuất đầu tư theo chiều sâu.
- Mức đầu tư cho ngành nuôi trồng thủy sản và chế biến còn quá nhỏ bé
so với nhu cầu và so với ngành kinh tế khác. đầu tư còn dàn trải, chưa tập trung vào
vùng sản xuất nguyên liệu quy mô lớn, công nghệ cao, chưa quan tâm đầy đủ
nghiên cứu thị trường hỗ trợ các doanh nghiệp xúc tiến thương mạI, ứng dụng công
nghệ tiên tiến.
- Một số thủ tục hành chính còn rườm rà, chưa nhất quán, gây ách tắc
cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
I.5.2.2. Tổ chức và quản lý doanh nghiệp còn yếu kém
Hiện nay hầu như các doanh nghiệp thủy sản nhà nước đã dần chuyển đổi sang
công ty cổ phần hoặc công ty TNHH, nhưng các công ty này vẫn ảnh hưởng cách
quản lỹ cũ, ít năng động về thị trường, chậm đổi mới về công nghệ và quản lý, đặc
biệt là quản lý về chất lượng….Nên hiệu quả kinh doanh còn chưa cao.
I.5.2.3. Cung cấp nguyên liệu bấp bênh, chất lượng nguyên liệu kém:
Đến nay chế biến thủy sản xuất khẩu chủ yếu dựa vào nguồn khai thác tự nhiên,
lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, vào tính chất manh mún, vào thời vụ của nguồn

phẩm.
Tóm lại: với những phân tích về khả năng phát triển và các hạn chế đã nêu trên
cần thiết phải có chương trình phát triển xuất khẩu ở tầm chính phủ quản lý, để
thống nhất mục tiêu biện pháp và tổ chức chỉ đạo thực hiện nhằm đưa xuất khẩu
thủy sản tăng trưởng và phát triển nhanh hơn nữa, đáp ứng được nhu cầu phát triển
kinh tế của đất nước và cải thiện đời sống của nông dân và ngư dân vùng nông thôn
và ven biển.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU SẢN PHẨM THỦY SẢN CỦA
TỈNH KHÁNH HÒA SANG THỊ
TRƯỜNG MỸ TRONG 3 NĂM
2003-2005 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
II.1. KHÁI QUÁT VẾ SỞ THỦY SẢN KHÁNH HÒA:
II.1.1.Quá trình hình thành vá phát triển của cơ sở từ ngày thành lập

Thủy Sản vẫn là đơn vị cân đối theo kế hoạch.
Năm 1991 Sở tiếp tục giao quyền cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh và thực
hiện giảm biên chế nên lúc này Sở Thủy sản còn 18 người và 5 phòng ban. Ở các
huyện không còn phòng Thủy sản mà nhập vào phòng nông nghiệp. Năm 1993 các
công ty Thủy sản huyện được giao cho tỉnh quản lý, đến lúc này cơ quan Sở còn 4
phòng ban với biên chế là 17 người. Các đơn vị sản xuất kinh doanh có:
+ Công ty Thủy sản Khánh Hòa.
+ Xí nghiệp đông lạnh Nha Trang.
+ Xí nghiệp khai thác dịch vụ Nha Trang.
+ Công ty Thủy Sản Cam Ranh.
+ Công ty Thiết bị Vật tư Thủy sản Khánh Hòa.
+ Công ty Thủy Sản Ninh Hòa.
Với 2 đơn vị sự nghiệp:
+ Chi cục bảo vệ nguồn lợi Thủy sản
+ Trung tâm khuyến ngư Khánh Hòa
Ở giai đoạn này Sở chuyển dần sang quản lý Nhà nước và giao quyền tự chủ cho
các đơn vị. Trong 2 năm 1996 và 1997 do làm ăn kém hiệu quả 4 đơn vị phải giải
thể:
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
+ Xí nghiệp nuôi trồng Thủy sản.
+ Công ty Thủy sản Khánh Hòa.
+ Công ty Thủy sản Ninh Hòa.
+ Công ty thiết bị vật tư Thủy sản.
Từ năm 1999- 2001 cơ quan Sở còn 4 phòng ban với biên chế là 10 người làm
nhiệm vụ quản lý nhà nước, kiểm tra, kiểm soát, định hướng hành vi và xây dựng
chiến lược phát triển ngành. Đến năm 2001 Sở chỉ còn 4 phòng ban với biên chế là
15 người. Sở quản lý 2 đơn vị hành chính sự nghiệp là chi cục bảo vệ Nguồn lợi
Thủy sản , trung tâm Khuyến Ngư và 2 doanh nghiệp Nhà nước:
+ Xí nghiệp khai thác và dịch vụ Thủy Sản Khánh Hòa.
+ Công ty quản lý Cảng cá Khánh Hòa.

nguồn lợi Thủy sản, khai thác chế biến nuôi trồng và tiêu thụ sản phẩm, quản lý
giống nuôi, cấp các loại giấy phép hoạt động, các loại tàu thuyền đánh cá, giấy phép
di chuyển ngư trường đăng kiểm tàu cá … theo sự phân cấp của Bộ Thủy sản.
- Được UBND tỉnh ủy quyền quản lý một số doanh nghiệp nhà nước, Sở
có trách nhiệm đôn đốc kiển tra theo dõi thực thi và tổng hợp báo cáo UBND tỉnh
và Bộ Thủy sản theo dõi định kỳ và kết quả thực hiện kế hoạch của các đơn vị sản
xuất kinh doanh thuộc phạm vi quyền quản lý .
- Nghiên cứu tổng hợp các kiến nghị của cơ sở đề xuất với Chính phủ, Bộ
Thủy sản; sữa chữa bổ sung các chính sách về kinh doanh Thủy sản trên địa bàn
tỉnh hoặc kiến nghị với UBND tỉnh bổ sung sửa đổi theo thẩm quyền.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com

Trích đoạn M? Nh?t III.2.NHỮNG GIẢI PHÁP Ở TẦM VI MÔ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status