LUẬN VĂN: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG SẢN SANG THỊ TRƯỜNG MỸ - Pdf 22

TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
SẢN PHẨM NÔNG SẢN VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ
1
MỤC LỤC.
Tra
ng
LỜI NÓI ĐẦU 1
1
CHƯƠNG I
THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ CƠ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT
KHẨU NÔNG SẢN VIỆT NAM
I. Khái quát về nước Mỹ và thị trường nông sản Mỹ 3
33
II. Nhu cầu nhập hàng nông sản vào thị trường Mỹ và định hướng chiến lược
của các doanh nghiệp Việt Nam 4


TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập với kinh tế khu vực và
thế giới, với phương châm “ Đa dạng hoá quan hệ, đa phương hoá thị trường”
thông qua con đường xuất khẩu để nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả của sự
phát triển. Mỹ là một thị trường có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển kinh tế thế
giới và kinh tế khu vực. Đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này chẳng những tạo
điều kiện thuận lợi để kinh tế Việt Nam phát triển đẩy nhanh tiến trình hội nhập,
mà còn gia tăng sự phát triển và nâng cao dần tính cạnh tranh của hàng hoá Việt
Nam.
Mỹ là một thị trường lớn nhất thế giới, Mỹ là thị trường với dung lượng
hàng nhập khẩu rất đa dạng và phong phú về mẫu mã, chủng loại và chất lượng.
Tuy nhiên, cạnh tranh trên thị trường Mỹ rất quyết liệt. Hàng hoá của Mỹ tự do
nhập khẩu từ 150 nước.
Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ có tốc độ tăng khá nhanh
về kim ngạch cũng như chủng loại sản phẩm. Hiện Việt Nam đứng hàng thứ 72
trong số các nước có doanh số xuất khẩu sang Mỹ. Sau khi Hiệp định Thương mại
Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết vào ngày 13/07/2000 và được Quốc hội hai nước
phê chuẩn ngày 11/12/2001, doanh số xuất khẩu sang Mỹ đều tăng nhanh ở các
mặt hàng như giày dép, thuỷ sản, hàng may mặc, hàng nông sản, thủ công mỹ
nghệ… Tuy nhiên, sức cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu Việt Nam còn thấp
hơn so với hàng hoá của các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc, Thái Lan,
Mêxicô, Philippines… Muốn đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Mỹ, trong điều
kiện nền kinh tế của Việt Nam đang ở mức phát triển thấp, cần phải nghiên cứu kỹ
thị trường này để nâng cao sức cạnh tranh.
Để xuất khẩu sang thị trường Mỹ phát triển bền chắc và lâu dài. Các doanh
nghiệp không chỉ trông chờ vào qui chế tối huệ quốc khi hiệp định Thương mại
4
Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực, mà còn phải nghiên cứu kinh nghiệm thâm nhập

phía Nam giáp Mêhicô, phía đông giáp Đại Tây Dương và phía Tây giáp Thái Bình
Dương.
Mỹ là quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới. Với dân số vào khoảng
284,5 triệu người (cuối năm 2001) sức mua khoảng 7000 tỷ USD/ năm, GDP năm
1999 vào khoảng 9256 tỷ USD . Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của Mỹ vào
khoảng 781 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu khoảng 1258 tỷ USD. Sản xuất công
nghiệp Mỹ chiếm khoảng 20 % sản lượng công nghiệp toàn thế giới. Lao động
nông nghiệp chiếm 2 % dân số nhưng nó đáp ứng nhu cầu trong nước, đồng thời
xuất khẩu mỗi năm khoảng 50 tỷ USD. Với thu nhập GDP bình quân đầu người
ước khoảng 32.000 USD, dân Mỹ được xem là dân có sức tiêu dùng lớn nhất trong
các nước có nền công nghiệp phát triển. Theo nghiên cứu của một nhóm chuyên
gia Liên Hợp Quốc thì nếu sức tiêu dùng của các gia đình Nhật, EU là 1, thì của
các gia đình Mỹ là 1,7.
Về chất lượng hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ rất linh hoạt, vì phương châm
kinh doanh thương mại của Mỹ là “ tiền nào của nấy”. Dân Mỹ có mức sống rất đa
loại, nên có hệ thống cửa hàng cho người có thu nhập cao, cửa hàng cho người có
thu nhập thấp. Chính vì vậy, hàng nhập khẩu vào Mỹ rất đa dạng, đa loại từ nhiều
nước khác nhau phục vụ cho các phân khúc thị trường khác nhau.
Nước Mỹ cũng có nền nông nghiệp rất phát triển. Nhờ có diện tích lãnh thổ
rộng lớn, có nhiều miền khí hậu thuận lợi, công nghệ sinh học phát triển khả năng
ứng dụng cao. Chính phủ Mỹ giàu có hàng năm giành trên 10 tỷ USD tài trợ cho
phát triển nông nghiệp. Chính vì vậy tất cả các ngành nông nghiệp của Mỹ về
trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, chế biến nông sản đều rất phát triển. Xuất khẩu
nông sản năm 2001 mang về cho nước Mỹ trên 46 tỷ USD, Mỹ đứng đầu thế giới
về xuất khẩu lúa mỳ, bắp, thịt các loại, đậu tương…,đứng thứ ba thế giới về xuất
khẩu gạo, thuỷ sản, nước trái cây…
6
Mỹ cũng là nước nhập khẩu nhiều nông sản nhất thế giới, hàng năm Mỹ
nhập khẩu trên dưới 10 tỷ USD rau, củ, quả; nhập khẩu khoảng 3,5 tỷ USD cà phê;
nhập khẩu trên 9 tỷ USD cao su; thịt các loại khoảng trên 2,5 tỷ USD; nhập khẩu

7
chiều sâu. Đặc biệt những vùng đất còn hoang hoá ở các vùng khác cũng cần tích
cực đầu tư tạo tiềm lực cho sản xuất nông nghiệp.
Về khí hậu.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa do ảnh hưởng sâu sắc của chế độ gió
mùa Châu Á. Khí hậu Việt Nam rất đa dạng, phân biệt rõ rệt từ miền Bắc vào miền
Nam. Miền Bắc có mùa đông lạnh. Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng
Sông Cửu Long có khí hậu kiểu Nam Á. Đây là điều kiện khí hậu thuận lợi để đa
dạng hoá các loại cây trồng. Ngoài ra tiềm năng nhiệt độ, độ ẩm và gió dồi dào
phân bổ khá đồng đều trên phạm vi cả nước. Tiềm năng nhiệt của nước ta được
xếp vào dạng giàu có với số giờ nắng cao, cường độ bức xạ lớn, độ ẩm tương đối
trong năm lớn hơn 80%, lượng mưa khoảng 1800 - 2000 mm/năm là điều kiện lý
tưởng cho nhiều loại cây trồng sinh trưởng và phát triển.
Vị trí địa lý và các cảng khẩu.
Từ trước đến nay, một khối lượng lớn hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
được vận chuyển bằng đường biển. So với các phương thức vận tải quốc tế bằng
đường sắt, đường ống và đường hàng không thì phương thức vận tải này có nhiều
thuận lợi hơn, thông dụng hơn và có mức cước phí rẻ hơn.
Trong thực tiễn chuyên chở bằng đường biển, các doanh nghiệp Việt Nam có
nhiều thuận lợi nổi bật. Đường biển Việt Nam có hình chữ “S”, hệ thống cảng biển
nói chung đều nằm sát đường hàng hải quốc tế trải dọc từ Bắc, Trung, Nam, có thể
hành trình theo tất cả các chuyến đi Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Thái Bình Dương,
Trung cận Đông, Châu Phi, Châu Mỹ. Một số cảng có khả năng bốc xếp hàng
xuống tàu lớn, có hệ thống kho bảo quản tốt, lại gần đường hàng hải quốc tế.
Về nguồn nhân lực.
Dân số nước ta là gần 80 triệu người, cơ cấu dân số trẻ với trên 80% sống
bằng nghề nông. Đây là một lực lượng lao động hùng hậu cung cấp cho khu vực
nông nghiệp. Mặc dù chất lượng lao động của Việt Nam còn thấp hơn so với nhiều
quốc gia khác trên thế giới nhưng con người Việt Nam với bản chất cần cù sáng
tạo, ham học hỏi là tiềm năng lớn góp phần vào chất lượng lao động ngành nông

của nhân dân, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo nền tảng đến
năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Để thực hiện được mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong giai
đoạn từ 2001-2010, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX cũng nêu rõ định hướng
phát triển kinh tế đối ngoại trong đó có định hướng phát triển hoạt động xuất khẩu
của Việt Nam. Cụ thể về xuất khẩu:
9
- Tăng tổng kim ngạch xuất khẩu. Tạo thị trường ổn định cho một số mặt hàng
nông sản- thực phẩm và công nghiệp có khả năng cạnh tranh, tìm kiếm các
thị trường cho mặt hàng xuất khẩu mới, nâng cao chất lượng cho các mặt
hàng xuất khẩu.
- Phấn đấu đạt tổng kim ngạnh xuất khẩu 5 năm tới đạt 114 tỷ USD, trong đó
nhóm hàng nông lâm thuỷ sản chiếm 30 % tổng kim ngạch XK, tăng bình
quân hàng năm 16,2 %.
+ Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2010-2020.
Để thực hiện chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội nói chung và
định hướng phát triển kinh tế đối ngoại nói riêng của Đại hội Đảng IX, ngày 27
tháng 10 năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số 22/2000/CT-TTg về
chiến lược phát triển xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001-2010. Chỉ
thị khẳng định: “ Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ thời
kỳ 2001-2010, nhất là xuất khẩu phải là chiến lược tăng tốc toàn diện, phải có
những khâu đột phá với bước đi vững chắc… tiếp tục chủ trương dành ưu tiên cao
nhất cho xuất khẩu” Chỉ thị nêu rõ:
- Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001-2010 phải đạt mức tăng trưởng
bình quân từ 15%/năm trở lên… phấn đấu cân bằng cán cân thương mại vào
những năm 2009-2010 và xuất siêu vào thời kỳ sau 2010.
- Giảm xuất khẩu hàng chế biến thô, tăng tỷ trọng hàng chế biến sâu bằng
công nghệ mới…
- Đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu trực tiếp vào các thị trường có sức mua lớn
như Mỹ, EU…

những năm tiếp theo. Hàng năm Mỹ chỉ sản xuất được khoảng 250000 bao
tức 15000 tấn/năm. Nếu giá cả và chất lượng cạnh tranh tốt các doanh
nghiệp Việt Nam có thể tăng xuất khẩu vào Mỹ theo nhu cầu của thị trường,
ít nhất với mức tăng bình quân (10-15%/năm), đạt khoảng 350 triệu USD
vào năm 2010.
- Hạt tiêu: Hàng năm Mỹ nhập khẩu số lượng khá lớn hạt tiêu chưa xay và đã
xay. Trên thế giới nhập khẩu 202 ngàn tấn, trị giá khoảng 931 triệu USD,
trong đó Mỹ nhập khẩu 43,3 ngàn tấn (22% thị phần) khoảng 198 triệu USD.
Mặt hàng này Việt Nam thâm nhập vào Mỹ chậm hơn cà phê, nhưng từ
những năm tới, khả năng tăng xuất khẩu mặt hàng này sẽ cao vì Trung Quốc
và Tây Ban Nha, những nước hiện đang đứng trên Việt Nam về XK mặt
hàng này lại không có nhiều hạt tiêu như Việt Nam.
- Hạt điều: Thị trường Mỹ cũng tiêu thụ mạnh loại mặt hàng này dưới dạng
thô và chế biến. Từ năm 1996, Việt Nam có điều xuất khẩu sang thị trường
Mỹ. Năm 2001 đạt 32,48 triệu USD ở mặt hàng điều, đứng thứ ba sau Ấn độ
và Brazil trên thị trường Mỹ.
- Chè các loại: Hàng năm Mỹ nhập khẩu các loại chè xanh và đen, trung bình
130 triệu USD/ năm. Giai đoạn 2000-2010, Việt Nam có thể tăng đều đặn
20%/năm nếu tăng được xuất khẩu trực tiếp và có thể đạt 3 triệu USD vào
năm 2010.
11
- Các mặt hàng gia vị khác: Mỹ là thị trường có nhiều người gốc Châu Á và
có nhiều doanh nghiệp nhỏ của Việt kiều nhập khẩu vào Mỹ, trong những
năm sau này có thể tăng nhanh mặt hàng này, tới năm 2010 có thể đạt giá trị
xuất khẩu 1 triệu USD.
- Cao su: Việt Nam đứng thứ năm trên thế giới về sản xuất và xuất khẩu cao
su thiên nhiên. Mỹ hàng năm nhập khẩu trên dưới 1 tỷ USD cao su thiên
nhiên và trên 9 tỷ sản phẩm cao su.
- Mặt hàng rau quả tươi và chế biến: là nước có nền nông nghiệp lớn nhất
thế giới và có nhiều loại rau quả với số lượng lớn, nhưng hàng năm Mỹ cũng

xuất khẩu sang Mỹ bị hạn chế do Mỹ cũng là nước sản xuất nông sản lớn của thế
giới về các loại này.
Cà phê Việt nam xuất khẩu sang Mỹ hiện nay đã đạt khoảng 40.000 tấn /năm,
chủ yếu là cà phê hạt. Các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình giao lưu buôn
bán với Mỹ sẽ phải học hỏi kỹ thuật công nghệ chế biến cà phê để có thể xuất khẩu
được cà phê đã qua chế biến.
Theo như định hướng, trong giai đoạn tiếp theo các doanh nghiệp Việt Nam
sẽ phát triển xuất khẩu sang thị trường Mỹ những mặt hàng nông sản chế biến sâu
và có hàm lượng công nghệ cao.
III. Những thời cơ và thách thức đối với xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam
vào thị trường Mỹ.
+ Những thời cơ:
Mỹ là thị trường rộng lớn với số dân 284,5 triệu người và là một trong
những nước có mức thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới.
Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ có hiệu lực, các doanh nghiệp
xuất khẩu Việt Nam sẽ thuận lợi trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng nông
sản, đặc biệt một số hàng nông sản chủ lực của Việt Nam góp phần nâng kim
ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân xuất nhập khẩu trong quan hệ thương mại với
Mỹ. Mặt hàng rau tươi xuất sang Mỹ chênh lệch giữa MFN và không có MFN là
10-50%, nên khi có MFN, doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu hàng chục
triệu USD rau quả tươi sang Mỹ, nếu đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, an toàn vệ
sinh thực phẩm nghiêm ngặt của Mỹ. Hiện nay mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu sang
Mỹ khoảng 30 triệu USD hạt điều, kim ngạch này có thể tăng lên gấp đôi, nếu các
doanh nghiệp sản xuất và chế biến mặt hàng này đáp ứng đòi hỏi của chất lượng.
13
Chính phủ Việt Nam đang có nhiều chính sách và biện pháp hỗ trợ cho mặt
hàng nông sản xuất khẩu: Hỗ trợ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, hỗ trợ xây
dựng qui hoạch, hỗ trợ đầu tư, hỗ trợ xúc tiến thương mại…Những hỗ trợ này góp
phần tăng tiềm lực cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu vào thị
trường Mỹ.

nhập khẩu: Nhãn hiệu và nhãn thương mại, hạn ngạch nhập khẩu, làm thủ tục hải
quan. Luật chống bán phá giá, vấn đề gian lận thương mại…
- Tại thị trường Mỹ, yếu tố giá cả đôi khi có sức cạnh tranh hơn chất lượng
sản phẩm. Người tiêu dùng Mỹ thường không muốn trả tiền theo giá niêm yết.
Hàng hoá bán tại Mỹ thường phải kèm theo dịch vụ sau bán. Số lượng và chất
lượng dịch vụ này là điểm mấu chốt cho sự tín nhiệm đối với người bán. Các nhà
kinh doanh tại thị trường Mỹ phải chấp nhận cạnh tranh gay gắt. Người tiêu dùng
Mỹ thường nôn nóng, nhưng lại mau chán, vì thế nhà sản xuất phải sáng tạo và
thay đổi nhanh chóng đổi mới cải tiến đối với sản phẩm của mình.
Như vậy, những qui định ngặt nghèo của Mỹ về hàng nhập khẩu là những
rào cản phi thuế đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Nếu chất lượng hàng hoá
không tăng và giá cả không hạ thì việc tăng kim ngạch và cơ cấu hàng hoá xuất
khẩu của Việt Nam tại thị trường Mỹ là một vấn đề nan giải.
15
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG SẢN
VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ
I. Tình hình hoạt động kinh doanh nông sản Việt Nam vào thị trường Mỹ
1. Kim ngạch một số mặt hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu vào thị
trường Mỹ.
Một số mặt hàng nông sản của Việt Nam như cà phê, hạt tiêu, chè, quế, hạt
điều… đã có mặt trên thị trường Mỹ, đứng hàng thứ 3 đến thứ 9 trong số các nước
có hàng nhập khẩu vào thị trường Mỹ. Xét về cơ cấu xuất khẩu, hàng nông sản
chiếm phần chủ yếu và thường tập trung vào một số mặt hàng ở bảng 2.
Bảng 2: Kim ngạch một số mặt hàng nông sản của Việt Nam vào thị
trường Mỹ
Đơn vị tính: 1000 USD
Nhóm hàng 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
1. Quả và
hạt

số các nước xuất khẩu chè vào thị trường Mỹ. Năm 2001 xuất khẩu chè đã đạt kim
ngạch trên 1 triệu USD. Do thuế nhập khẩu chè đen là 0% cho cả MFN và non-
MFN nên chè đen của ta có khả năng tăng kim ngạch trung bình 20% năm trên thị
trường Mỹ trong thời gian tới.
Hạt tiêu:
Mặt hàng này có mặt tại thị trường Mỹ sau mặt hàng cà phê, năm 2000 đạt
kim ngạch 3,8 triệu USD. Năm 2002 tăng lên 4,2 triệu USD đứng thứ 7 trong số
các nước xuất khẩu hạt tiêu vào Mỹ. Hạt tiêu Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chủ
yếu là loại hạt tiêu đen, loại chưa xay chưa nghiền. Trong thời gian tới, Việt Nam
sẽ tăng kim ngạch, vượt qua Trung Quốc và Tây Ban Nha để trở thành 1 trong 5
nước xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất vào thị trường Mỹ.
Quế:
Đây là sản phẩm có mức thuế non-MFN là 0% nên mặt hàng này năm 1996
xuất khẩu sang Mỹ đã đạt 878 ngàn USD. Năm 1998 giảm xuống còn 596 ngàn
USD nhưng vẫn đứng hàng thứ 3 trong số các nước xuất khẩu quế vào Mỹ. Năm
2002 kim ngạch đã lên tới 984 ngàn USD. Dự kiến đến năm 2005 Việt Nam sẽ
xuất khẩu sang Mỹ khoảng 2 triệu USD chiếm 40% kim ngạch xuất khẩu quế của
Việt Nam.
Cao su:
Doanh số xuất khẩu ở mặt hàng cao su còn nhỏ. Năm 1998 cả hai nhóm mặt
hàng cao su thiên nhiên và sản phẩm cao su Việt Nam đưa vào thị trường Mỹ đạt
giá trị kim ngạch 3 triệu USD. Tuy có giá trị kim ngạch tăng trong những năm tiếp
theo đến năm 2002 đạt 4,781 triệu USD nhưng so với kim ngạch của các nước
Đông Nam á
17
như Malaysia, Indonesia, Thái Lan thì còn rất nhỏ. Năm 2001, kim ngạch xuất
khẩu cao su thiên nhiên của Thái Lan là 247 triệu USD, sản phẩm cao su là 546
triệu USD.
Rau và chế phẩm từ rau:
Một số mặt hàng như quả hạt ăn được, rau quả chế biến và thực phẩm chế

của Việt Nam đưa vào thị trường Mỹ lại chủ yếu là chè đen và chè xanh. Chất
lượng chè của Việt Nam còn thấp hơn các nước như Băngladet, Srilanca…
Hạt tiêu và quế là hai sản phẩm có kim ngạch lớn xuất khẩu vào Mỹ. Chất
lượng của các mặt hàng này không thua kém nhiều so với các nước sản xuất hạt
tiêu lớn nhất thế giới nhưng khó khăn lớn nhất đối với sự phát triển của cây tiêu là
thị trường tiêu thụ. Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ phần nhiều là loại hạt tiêu thô,
chưa qua chế biến nên giá cả còn thấp.
Xuất khẩu cao su sang Mỹ Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là cao su tự
nhiên giá cả và chất lượng còn thấp so với các nước cạnh tranh là Thái Lan,
Indonexia.
Hạt điều hiện nay Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ
đứng thứ ba sau Ấn Độ và Brazil. Chất lượng điều của Việt Nam không thua kém
so với đối thủ cạnh tranh. Nhưng kim ngạch còn thấp hơn so với các nước trên nên
các doanh nghiệp Việt Nam cần phải mở rộng thị trường tiêu thụ và có những giải
pháp để đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này sang Mỹ.
Về sản phẩm hoa quả tươi hiện các doanh nghiệp Việt Nam chưa đưa được
sản phẩm này sang thị trường Mỹ. Nếu muốn nhập khẩu hoa qua tươi vào Mỹ phải
được sự cho phép của cơ quan Giám định Động Thực vật Hoa Kỳ (APHIS). Hiện
cơ quan này vẫn chưa chính thức cho phép nhập các sản phẩm rau, quả tươi từ Việt
Nam, vì họ vẫn chưa có thông tin và nghiên cứu đầy đủ về các loại sâu bọ có trên
những sản phẩm rau, quả tươi đến từ Việt Nam. Cơ quan APHIS chỉ cho phép
nhập khẩu các sản phẩm rau, quả tươi từ Việt Nam sau khi họ nhận được những
thông tin chính thức từ phía Việt Nam và sau khi nghiên cứu xác định được rằng
các sản phẩm đó có thể được nhập khẩu vào Mỹ mà không du nhập các loại sâu bọ
có hại.
Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sức cạnh tranh một số mặt hàng nông
sản Việt Nam vào thị trường Mỹ còn thấp có thể kể đến một số nguyên nhân chủ
yếu sau đây:
Cà phê, do khoảng cách địa lý giữa Mỹ và Việt Nam khá xa, nên chi phí vận
chuyển từ Việt Nam sang Mỹ còn rất cao. Nước Mỹ lại nằm sát trung tâm cà phê

với thị trường Mỹ. Nguyên nhân này là do thị trường Mỹ quá rộng lớn, hệ thống
luật pháp của Mỹ qúa phức tạp. Các doanh nghiệp Việt Nam mới tiếp cận thị
trường Mỹ, sự hiểu biết về thị trường, kinh nghiệm tiếp cận với thị trường chưa
nhiều.
20
Tính cạnh tranh trên thị trường Mỹ rất cao, nhiều nước trên thế giới có lợi
thế tương tự như Việt Nam đều coi thị trường Mỹ là thị trường chiến lược trong
hoạt động xuất khẩu, cho nên chính phủ và các nhà doanh nghiệp của các nước này
đều quan tâm đề xuất các giải pháp hỗ trợ thâm nhập giành thị phần trên thị trường
Mỹ.
Các doanh nghiệp Việt Nam bước vào thị trường Mỹ chậm hơn các đối tác,
khi mà thị trường đã ổn định về người mua, mối bán, thói quen sở thích sản phẩm
thì đây cũng là một khó khăn đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong việc cạnh
tranh giành thị phần.
Sản phẩm nông sản của Việt Nam đưa vào thị trường Mỹ đa số là những sản
phẩm dưới dạng thô, ít qua chế biến, hiệu quả thấp, giá cả rất bấp bênh, trị giá xuất
khẩu không ổn định.
Qua các nguyên nhân trên ta thấy, tính cạnh tranh sản phẩm nông sản Việt
Nam còn thấp trên cả hai khía cạnh giá cả và chất lượng so với sản phẩm cùng loại
của các nước cạnh tranh.
II. Đánh giá chung thực trạng hoạt động xuất khẩu sản phẩm nông sản Việt
Nam trên thị trường Mỹ.
1.Thành tựu:
Sự biến động về tình hình kinh tế, chính trị, tài chính thế giới trong thời gian
qua đã tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản của
các doanh nghiệp Việt Nam. Vượt lên những khó khăn trong thời gian qua, hoạt
động kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản vào thị trường Mỹ của các doanh nghiệp
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên trong quá trình hoạt
động vẫn còn rất nhiều tồn tại mà các doanh nghiệp cần giải quyết.
Trong những năm gần đây, mặc dù phải chịu sự cạnh tranh gay gắt của các

Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản vào thị trường Mỹ còn bị hạn
chế khả năng cạnh tranh do giá cả còn cao, chất lượng thấp và thiếu ổn định, mẫu
mã bao bì chưa phù hợp và đẹp, công nghệ chế biến còn thấp hơn so với các sản
phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh tranh.
Các sản phẩm nông sản chế biến có hàm lượng kỹ thuật cao đưa vào thị
trường Mỹ kim ngạch thấp về giá trị. Sản phẩm rau quả tươi chưa thâm nhập được
vào thị trường Mỹ.
22
Các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam chưa hiểu biết sâu về thị
trường Mỹ, khả năng tiếp thị yếu làm giảm khả năng thâm nhập với thị trường Mỹ.
Công tác thu thập thông tin, nghiên cứu thâm nhập thị trường của các doanh
nghiệp hoạt động chưa thực sự hiệu quả.
Các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam còn thiếu thương hiệu nổi
tiếng, sự gắn kết giữa các doanh nghiệp với cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ còn
chưa được thiết lập chặt chẽ.
23
CHƯƠNG III
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN
VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
I.Về phía doanh nghiệp.
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực sẽ tạo ra môi trường
kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam trên thị
trường Mỹ, nhưng hạn chế lớn nhất của sản phẩm Việt Nam khi thâm nhập thị
trường Mỹ là tính cạnh tranh còn thấp so với các nước có cùng loại sản phẩm. Để
sản phẩm nông sản Việt Nam có thể nâng cao được sức cạnh tranh, thâm nhập
được sâu hơn vào thị trường Mỹ thì cần phải có các giải pháp đúng đắn từ phía các
doanh nghiệp và cần có cả những biện pháp của nhà nước.
Về mặt chiến lược cạnh tranh:
Để tồn tại và phát triển doanh nghiệp Việt Nam cần có hệ thống chiến lược
kinh doanh tổng hợp thích nghi với điều kiện của doanh nghiệp và với thị trường

bảo đảm tiêu chuẩn lao động, vệ sinh, chế độ làm việc).
C. Cạnh tranh bằng dịch vụ
Thị trường Mỹ là thị trường phát triển dịch vụ nhất trên thế giới. Các dịch vụ
bán hàng qua trung gian, nhờ luật sư “tìm đường” hợp lý, dịch vụ của người Việt
Nam định cư tại Mỹ … đều là cần thiết. Dịch vụ trước và sau bán hàng nông sản
đều cần cho doanh nghiệp xuất khẩu: chi ra ít nhưng thu lợi nhuận nhiều hơn.
D. Cạnh tranh bằng quan hệ với khách hàng và thị trường
Giữ uy tín, tín nhiệm với thị trường và khác hàng, bảo đảm tăng tín nhiệm
lúc khó khăn vẫn bán được hàng.
E. Cạnh tranh bằng xúc tiến thương mại , quảng cáo
Ngày nay, có thể thực hiện qua mạng Internet, vận dụng qua thương mại
điện tử Quảng cáo là hoạt động các doanh nghiệp Việt Nam chua dùng mạnh nên
cần tăng cường khâu này.
Về các mặt hàng cụ thể.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status