NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Nha trang, Ngày…., tháng… , năm 2009
Lời cảm ơn!
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, trước hết tôi xin chân thành cảm
ơn thầy: PGS.TS Ngô Đăng Nghĩa đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và truyền
đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Quý công ty- Nhà máy đường Cam Ranh đã tạo điều kiện cho tôi thực
tập tại nhà máy, giúp đỡ và tận tình truyền đạt những kiến thức cho tôi.
Đặc biệt là người thân và bạn bè đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian qua.
Do những hạn chế về kiến thứccủa bản thân và điều kiện khách quan
nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được những
2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 15
3.Phương pháp đánh giá 18
Chương 5. Kết Quả Khảo Sát Quy Trình Và Dây Chuyền Công Nghệ 20
I.Sơ lược về nhà máy 20
1. Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy. 20
2. Vị trí, vai trò nhà máy đường Cam Ranh đối với địa phương và đối với nền
kinh tế 22
3.Cơ cấu tổ chức của nhà máy đường Cam Ranh: 24
4. Tình hình hoạt động của nhà máy trong thời gian qua: 28
II.Công nghệ dây chuyền sản xuất đường tại nhà máy. 33
II.1. Nguyên liệu mía và thu hoạch mía 33
II.2.Vận chuyển mía, xử lý sơ bộ và lấy nước mía. 33
II.3. Làm sạch nước mía 45
1. Nhiệm vụ của làm sạch nước mía 49
2. Cơ sở lý thuyết của làm sạch nước mía 50
3. Làm sạch nước mía 60
4. Hiệu suất làm sạch 66
5. Thiết bị của giai đoạn làm sạch nước mía 67
II.4. Cô đặc nước mía. 77
1. Cơ sở lý thuyết 77
2. Hóa học của quá trình cô đặc 81
2
3. Cấu tạo của thiết bị cô đặc 83
II.5 Nấu đường và kết tinh 84
1. Động học của quá trình kết tinh đường 84
2. Cơ sở lý thuyết của quá trình kết tinh và các yếu tố ảnh hưởng đến quá
trình kết tinh. 86
3 .Quá trình nấu đường 88
Glu : Glucose
4
Lời Mở Đầu
Ngành công nghệ sản xuất đường mía đã có từ lâu (cuối thế kỷ thứ IV)
nhưng gần đây mới cơ khí hoá toàn bộ cả dây chuyền và việc tự động hoá đã được
áp dụng ở nhiều khâu. Ở Viết Nam, giữa thế kỷ thứ 19 mới xuất hiện các nhà máy
Đường ở Miền Bắc, sau năm 1975 mở rộng thêm các nhà máy Đường ở Miền Nam.
Cây mía có nguồn gốc từ Ấn Độ, đầu tiên người ta biết đến như là 1 loại lau
sậy hoang dại, nay trở thành một cây công nghiệp quan trọng cho ngành sản xuất
đường. Mía là một cây thân trụ đứng, hơi cong, thân chia thành nhiều dóng cao
khoảng 2-3,50m. Mía là một cây thích hợp với nhiều vùng đất: Ở Việt Nam mía
được trồng khắp các miền từ Bắc vào Nam. Theo hiệp hội mía đường Việt Nam cho
biết; niên vụ 2009-2010, tổng diện tích trồng mía của nước ta vào khoảng
290.000ha, với năng suất bình quân là 55tấn/ha.
Mía không những là cây giúp ta giải khát vào những mùa hè nóng lực, mà nó
còn là cây sản xuất ra loại đường kính trắng phục vụ cho việc sinh hoạt của bà con
nông dân và các ngành công nghiệp nhẹ khác: Ngành sản xuất bánh kẹo, ngành sản
xuất rượi bia.
Ngoài những đặc tính trên, người ta còn sản xuất mì chính từ phế liệu mía.
Như vậy cây mía là một cây công nghiệp có vài trò rất quan trọng, không những
cung cấp năng lượng cho con người mà nó còn góp phần làm tăng trưởng kinh tế
nước nhà, mà còn tạo công ăn việc làm cho người dân, tạo lợi nhuận cho nhà máy.
Đường kính là loại sản phẩm chính của ngành công nghiệp sản xuất Đường
mía. Để sản xuất ra một kg đường kính trắng người ta phải đầu tư cả công nghệ sản
xuất và một dây truyền sản xuất với máy móc thiết bị hiện đại. Như vậy để sản xuất
được hiệu quả và có lợi nhuận cho nhà máy thì nhà máy phải thường xuyên cải tiến
công nghệ và dây truyền sản xuất, đồng thời hạn chế những nguyên nhân làm ảnh
hưởng hiệu xuất thu hồi đường và chất lượng đường thành phẩm.
để trung hòa lượng vôi dư và tẩy màu
nước mía. Nhờ sự phát hiện đó công nghệ sản xuất đường đã tiến một bước dài đưa
phương pháp CO
2
đến hoàn chỉnh.
Ngành công nghiệp đường đã có từ Tk 16 nhưng gần đây mới được cơ khí
hóa, nhiều thiết bị quan trọng được pháp minh vào thế kỷ 19. Năm 1813 Howad
phát minh ra nồi bốc hơi chân không, nhưng mới chỉ dùng một nồi nên hiệu quả bốc
hơi còn thấp. Đến năm 1943 Rillicux phát minh ra hệ bốc hơi nhiều nồi, hiệu quả
bốc hơi cao, tiết kiệm hơn. Năm 1837 Ponzolat phát minh ra máy ly tâm chuyển
động ở đáy, lấy đường ở trên, kiểu kết cấu này không thuận lợi. Sau đó Bossener
phát minh ra máy ly tâm kiểu thùng quay. Năm 1867 Weston đã cải tiến truyền
động ở trên lấy đường ở dưới, nguyên lý này đang được dùng phổ biến ở các nhà
máy đường hiện nay. Năm 1892 máy ép 3 trục hiện đại được dùng ở Mỹ ; năm 1820
máy lọc ép khung bản ra đời; năm 1884 – thiết bị kết tinh làm lạnh; năm 1878 –
máy sấy thùng quay. Những thiết bị đó ngày càng được dùng trong các nhà máy
thực phẩm và hóa học
Công nghiệp đường mấy chục năm gần đây phát triển rất nhanh, đã cơ khí
hóa toàn bộ dây chuyền và việc tự động hóa đã được áp dụng khá rộng rãi ở nhiều
khâu ví dụ như cơ khí hóa việc chặt mía, dùng thiết bị khuếch tán liên tục, phương
pháp trao đổi ion, nấu đường liên tục và tự động, máy tính được sử dụng nhiều
trong các nhà máy đường.
6
Chương 2: Tổng Quan Về Công Nghệ Sản Xuất Đường Tại Việt Nam
Cùng với sự phát triển của ngành đường trên thế giới vào những năm 1958-
1960 ở miền Bắc đã xây dựng 3 nhà máy đường hiện đại: Sông Lam, Việt Trì có
công suất 350 tấn mía/ngày, nhà máy đường Vạn Điểm có công suất 1000 tấn mía/
ngày , đồng thời xây dựng nhiều nhà máy đường thủ công, nhờ thế lượng đường
tiêu, cơ giới hóa canh tác. Nhiều chương trình dự án khoa học nhằm nâng cao năng
suất mía. Song đến năm 2008 năng suất bình quân chỉ đạt 58 tấn/ha, tăng 6 tấn/ha
so với năm 1999
Năng suất mía của nước ta không chỉ thấp hơn so với mặt bằng chung thế
giới mà còn kém xa so với các nước trong khu vực. Theo số liệu của Viện quy
hoạch và thiết kế nông nghiệp được tính toán và báo cáo vào tháng 11/2008 (đầu vụ
thu hoạch mía) sản lượng bình quân năm 2009 sẽ đạt 59 tấn/ha. Nhưng tổng kết vụ
mía vừa qua cho thấy năng suất bình quân chỉ đạt 50tấn/ha thấp hơn cả trước đó 10
năm( năm 1999 đạt 51,6 tấn/ha)
Rất nhiều dự án đề tài giống mía cấp Nhà nước, cấp Bộ đã được triển khai
trong những năm vừa qua, kết quả là những giống mía mới có năng suất cao đã
được nghiệm thu và nhân rộng ra sản xuất. Song đến nay 60% diện tích đất canh tác
vẫn trồng những giống mía cũ năng suất thấp đã được trồng từ những năm 1980. Lý
giải nguyên nhân trên, trung tâm nghiên cứu và phát triển mía đường cho biết trong
số 39 giống mía mới đã được công nhận ở nước ta hầu hết khi đã trồng đại trà đựợc
1 thời gian đã xảy ra hiện tượng thoái hóa, năng suất và chất lượng đều giảm. Nhiều
nhà trồng mía đã nhập giống mía cao sản từ nước ngoài về cung cấp cho bà con
nông dân nhưng khi trồng lại phát sinh nhiều bệnh mới: bệnh trắng lá, trổ cờ sớm,
bệnh than, rệp hại và đặc biệt trồi cỏ mía.
Ngoài ra còn bất cập từ sản xuất đến thu hoạch. Nhằm thúc đẩy cơ giới hóa
trồng mía, các nhà khoa học nước ta đã nghiên cứu thành công nhiều loại máy móc
phục vụ nghề này: các loại máy làm đất, máy làm cỏ, máy bón phân, máy chặt mía
rải hàng, máy liên hợp thu hoạch mía. Mặc dù vậy do các doanh nghiệp chế biến ít
đầu tư vào lĩnh vực cơ giới, nông dân trồng mía thì thiếu vốn mua máy móc thiết bị,
nên cơ giới hóa nghề trồng mía mới chỉ là khâu làm đất. Diện tích mía được đầu tư
đầy đủ và áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật còn rất thấp, đây chính là nguyên
nhân kiến năng suất mía của nước ta chỉ mới đạt 69- 80% so với trung bình Thế
giới.
8
Phi, Iđônêxia, Đôminica.
Ở nước ta mía được trồng từ miền Nam đến miền Bắc. Vùng trồng chủ yếu
hiện nay của miền Bắc: Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh, Hải Hưng, một phần Hà Bắc
và Vĩnh Phú. Mía được trồng tập trung ven
các con sông chính như hạ lưu sông Hồng,
sông Châu Giang, sông Đáy, sông Thái
Bình, Ở miền Trung mía được trồng nhiều
ở các tỉnh Nghĩa Bình, Phú Khánh, Tây
Nguyên. Ở miền Nam mía tập trung chủ yếu
ở các tỉnh Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai,
Bến Tre, Long An, Hậu Giang, Cửu Long,
An Giang
Cây mía thuộc họ hòa thảo( Graminée) giống
Sacarum(Sacharum)
Theo Denhin giống Sacarum ó thể chia làm 3 nhó chính:
Nhóm Sacharum officinarum là giống thường gặp và bao gồm phần lớn các
chủng đang trồng phổ biến trên thế giới.
Nhóm Sacharum violaceum : lá màu tím, cây ngắn cứng và không trổ cờ.
Nhóm Sacharum simense: cây nhỏ, cứng thân màu vàng pha nâu nhạt trồng từ lâu ở
Trung Quốc.
*Đặc tính các giống mía ở nước ta
1. Giống POJ 3016
Mọc thẳng thân to, khi non có màu xanh nhạt, khi chín có màu vàng lục, có
lớp phấn dày, mầm không nhiều. Đặc điểm là kém thích nghi với hoàn cảnh thiên
nhiên, kém chịu hạn, chỉ thích nghi với những vùng đất tốt, nhiều nước, chịu sâu
10
bệnh kém hay bị sâu. Giống mía này thuộc loại chín sớm, khi chín sớm hàm lượng
đường 10
16%. Sản lượng trên đơn vị
diện tích rất cao khoảng 65
70
tấn/ha nhưng xơ giòn khó ép. Được trồng phổ biến ở nước ta
4. Giống Việt đường 54/143.
Mọc thẳng, cây to. Phấn non có màu xanh, phấn già có màu đỏ nến hoặc đỏ
lẫn xanh vàng; thích nghi với điều kiện thâm canh, đề kháng tốt, năng suất cao. Là
loại giống chín sớm, hàm lượng đường cao 13
15%. Nhược điểm là tỷ lệ trổ cờ
cao và hơi rỗng ruột.
* Thu hoạch và bảo quản mía
Mía chín là lúc lượng đường trong thân mía đạt tối đa và lượng đường khử
còn lại ít nhất.
Các biểu hiện đặc trưng thời kỳ mía chín:
Hình 2: Giống mía Việt đường 54/143
11
- Hàm lượng đường giữa ngọn và gốc xấp xỉ nhau.
- Hàm lượng đường khử dưới 1% có khi chỉ còn 0,3%.
- Lá chuyển vàng, độ dài của lá giảm, các lá xít vào nhau, dóng ngắn dần
- Hàm lượng đường đạt cao nhất khi thu hoạch đúng thời vụ của giống mía
đó.
Khi hàm lượng đường đạt tối đa, tùy giống mía và điều kiện thời tiết, lượng
đường này duy trì khoảng từ 15 ngày cho đến 2 tháng. Sau đó lượng đường bắt đầu
giảm, thường gọi mía quá lứa hoặc quá chín. Ở nước ta, mía chín khi thời tiết bắt
đầu lạnh và khô, nơi nào có mùa khô rõ rệt nhất thì dễ dàng đạt được hàm lượng
Chặt mía cho ngả theo chiều luống mía, các cây mía gối lên nhau, ngọn cây này phủ
lên gốc cây mía kia nhằm giảm lượng nước bốc hơi và để chóng rét.
- Chất mía thành đống có thể giảm sự phân giải đường.
- Dùng lá mía thấm nước để che cho mía lúc vận chuyển và có thể dùng nước
phun vào mía. Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những trọng điểm sản xuất mía
đường của cả nước. Toàn vùng có khoảng 70 nghìn ha với tổng lượng lớn hơn 3
triệu tấn mía/năm chiếm 36% sản lượng mía toàn quốc. Trong đó Hậu Giang có
15.471 ha, Sóc Trăng gần 12 nghìn ha, diện tích còn lại thuộc các tỉnh Trà Vinh, Cà
Mau, Kiên Giang, Bến Tre, Long An Điều kiện tự nhiên vùng đất này thường bị
nước mặn xâm nhập thiếu nguồn nước ngọt cho các cây trồng khác nên mía trở
thành cây trồng phù hợp nhất.
Tây Ninh cũng là một vùng được coi là trồng với lượng mía lớn: niên vụ 2009 –
2010 diện tích trồng mía 17.200 ha
Miền Nam Trung bộ cũng là địa bàn trồng nhiều mía, diện tích trồng mía tập
trung chủ yếu ở các nhà máy lớn như: nhà máy đường Quảng Ngãi, Ninh Hòa, Cam
Ranh. Ở Quảng Ngãi niên vụ 2008-2009 toàn tỉnh đạt 8.200 ha, sản lượng 495.300 tấn.
Còn ở phía Bắc mía được trồng tập trung ở các nhà máy như nhà máy đường Lam
Sơn, nhà máy đường Việt Đài, Nhà máy đường Nông Cống với tổng diện tích là
hơn 30.000 ha. Trong đó Thanh Hóa sẽ ổn định ở 32.464 ha trồng mía vào niên vụ
2007-2008
Hình 3 :Vận chuyển mía
13
Chương 4. Phương Pháp Nghiên Cứu.
I. Khảo sát thực tế quy trình dây chuyền sản xuất tại nhà máy
* Thuyết minh quy trình.
7,15. Sau
đó đưa vào thiết bị tản hơi và đem đi lắng trong. Sau khi lắng trong ta thu được
nước mía trong và nước bùn.Trong nước bùn còn chứa nhiều đường ta đem đi lọc
chân không và thu được nước lọc trong và bùn. Nước lọc trong lại gia vôi đưa về
pH= 7,05
7,10 sau đó gia nhiệt đến t = 104
0
C và cho vào thiết bị tản nhiệt để đem
đi lắng( sử dụng keo trợ lắng).Sau khi lắng xong thu được nước trong và được đưa
về thùng chứa nước lắng trong. Tất cả nước mía lắng trong được đưa đi hấp thụ CO
2
lần 3 và đưa qua thiết bị điều chỉnh pH (sử dụng sữa vôi 8
0
Bé). Sau đó đem đi lọc
tấm thu được nước lọc trong và đem đi gia nhiệt 4 ở t
0
= 114
117
0
C. Cho vào nồi
bốc hơi hệ 1,2 để cô đặc đến 48
52
0
Bx thì kết thúc. Sau đó chuyển sang thùng để
đem đi xử lý sơ bộ pH= 6,3
, ly tâm thu được
đuờng R
1
và mật R
1
. Đường R
1
đem đi sấy, sàng làm nguội t< 37
0
C và đóng bao
tinh luyện.Mật R
1
đem đi xử lý màu và lọc rồi đem đi nấu đường R
2
thu được
14
đường non R
2
, đem đi ly tâm ta được đường R
2
và mật R
2
, đường R
2
nhập chung
đường R
1
để đi sấy, sàng, làm nguội rùi đóng bao tinh luyện. Mật R
A được đem đi nấu đường B thu được đường non B, ly tâm B thu được đường B và
mật B. Mật B nấu đường C thu được đường non C, ly tâm được đường C
1
và mật rỉ.
Nấu tiếp C
1
thu được Magma C
1
, ly tâm được mật C
2
và đường C. Mật C
2
được
đưa về mật B để nấu đường C. Đường B và đường C được hồi dung về thùng chứa
syrup đường B và C có Bx = 62
65%. Sau đó được đem đi lọc màu nhựa. Sau khi
lọc sạch được bơm về thùng chứa nấu đường thượng hạng và thu được đường non
thượng hạng ,ly tâm được đường thượng hạng(đường R
4
) và mật đường thượng
hạng. Đường này đem đi sấy, sàng, làm nguội rồi đem đóng bao thượng hạng. Mật
đường thượng hạng được bơm về thùng chứa syrup để nấu A.
II. Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của nguyên liệu đến hiệu suất và chất
lượng đường thành phẩm
1. Đặt vấn đề.
Trong sản xuất đường mía có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất thu hồi
đường và chất lượng đường thành phẩm. Nhưng có thể nói nguyên liệu là yếu tố có
ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng và chất lượng đường thành phẩm. Qua nhiều năm
các nhà chuyên môn đã nghiên cứu và cũng tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao
2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm
a. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định ảnh hưởng của hàm lượng đường trong mía đến
hiệu: 16
Nguyên liệu mía
Xử lý sơ
b
ộ
Lấy nước mía bằng
phương pháp khuếch tán
Làm sạch nước
mía
Cô đặc
Nấu
đư
Cách tiến hành.
Chuẩn bị: giả sử ta lấy các mẫu mía qua các năm
Mẫu 1: năm 2004 – 2005 tương ứng với chữ đường: 9.0%
Mẫu 2: 2005 – 2006 9,5%
Mẫu 3 2006 – 2007 10.0%
Mẫu 4 2007 – 2008 10,5%
Mẫu 5 2008 – 2009 11,0%
Tiến hành: các mẫu được xử lý sơ bộ, lấy nước mía bằng phương pháp
khuếch tán, làm sạch nước mía bằng phương pháp cacbonat hóa, cô đặc, nấu đường
tương tự nhau trên một dây chuyền công nghệ.
Hiệu suất tổng thu hồi được tính như sau(%):
E = E
ép
. E
THCL.
(%)
Hay E = (khối lượng đường thành phẩm/ khối lượng đường trong mía). 100 (%)
17
Nguyên li
ệu mía
X
ử lý s
ơ b
đường
9,0 9,5 10,0 10,5 11,0
Hiệu suất thu hồi là đại lượng xác định bằng tỷ số giữa khối lượng đường thành
phẩm bao gồm cả bán chế phẩm có thể sản xuất ra đường thành phẩm so với khối
lượng đường thành phẩm trong mía tính theo (%).
E
THCL
là tỷ số giữa khối lượng đường thành phẩm bao gồm cả bán chế phẩm
có thể sản xuất ra đường thành phẩm so với lượng đường có trong nước mía hỗn
hợp tính theo %
E
ép
= ( lượng đường có trong nước mía hỗn hợp/ lượng đường có trong mía). 100
(%)
b. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của chữ đường trong nguyên liệu đến chất
lượn đường thành phẩm:
đem đi xử lý để đưa ra kết luận một giá trị nào đó đạt tiêu chuẩn cao nhất…
- Phương pháp đánh giá chất lượng đường thành phẩm bằng cảm quan.
Kiểm nghiệm bằng phương pháp cảm quan đã có từ lâu. Nó được xây dựng trên cơ
sở sử dụng các cơ quan để đo giá giá trị cảm quan( mùi vị, màu sắc, trạng thái)của
đối tượng cần đo. Các kết quả thu được sẽ được xử lý để kết luận một giá trị cao
nhất hoặc so sánh hiệu quả với giá trị chuẩn. 19
Để đánh giá chất lượng đường thành phẩm ta tiến hành theo phương pháp
cho điểm theo bảng điểm được mô tả sau:
Tên chỉ tiêu
Cơ sở đánh giá Điểm
Màu sắc,
độ sạch
Màu trắng,sáng, không đục,không lẫn tạp chất
Màu trắng,sáng,không đục, lẫn ít tạp chất.
Màu trắng, hơi đục, lẫn ít tạp chất.
7.4
7,4
104,9
Tốt
8,3
7,4
3,95,8
Khá
8,3
8,2
4,86,6
Đạt tiêu chuẩn
8,2
Nhà máy đường Cam Ranh là một đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộc
Công ty Đường Khánh Hoà. Nhà máy được thành lập theo quyết định số 904/QĐ-
KSH ngày 23/7/2000 của Giám đốc Công ty đường Khánh Hoà.
Nhà máy đường Cam Ranh được khởi công xây dựng vào tháng 7 năm 1998
với số vốn đầu tư ban đầu là 818 tỉ đồng, nhà máy nằm trên quốc lộ 1A thuộc xã
Cam Thành Bắc, thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà.
Phần lớn máy móc thiết bị của Nhà Máy đường Cam Ranh do Nhà Máy cơ
khí Diên Khánh trực thuộc Công Ty Đường Khánh Hoà thiết kế, chế tạo, lắp đặt
ngoài ra chỉ nhập một số máy móc thiết bị mà Việt Nam chưa có khả năng chế tạo
hoặc chế tạo được nhưng giá thành quá cao như: Máy ép, nồi hơi, turbine phát điện,
máy ly tâm, bơm chân không…
Trong thời gian hai năm xây dựng, đến tháng 01/2000 Nhà Máy chính thức đi
vào sản xuất thử với công suất ban đầu là 3000 tấn mía / ngày.
Với một Nhà Máy hoàn toàn mới về máy móc, thiết bị, đội ngũ cán bộ công nhân
được đào tạo, bộ máy tổ chức sản xuất hợp lý và quản lý lao động rất có hiệu quả
nên công suất của nhà máy không ngừng được nâng lên, sản phẩm đường sản xuất
đạt chất lượng cao so với các loại đường sản xuất trong nước, sản phẩm của nhà
máy đã từng đạt 3 Huy Chương Vàng tại triển lãm Quang Trung - TPHCM và tại
Giảng Võ – Hà Nội.
21
Đi đôi với việc mở rộng sản xuất, Nhà Máy còn đầu tư vùng nguyên liệu mía ở các
khu vực Cam Ranh, Vạn Ninh, Vạn Giã, Khánh Sơn, Khánh Dương…Nhờ đó đã
giúp cho người nông dân yên tâm trồng mía, họ đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
giúp xoá đói giảm nghèo. Đồng thời, đảm bảo được nguồn nguyên liệu mía cho Nhà
Máy hoạt động tốt, góp phần vào việc phát triển kinh tế Khánh Hoà nói riêng và cả
nước nói chung.
Chức năng, nhiệm vụ và tính chất hoạt động của nhà máy đường Cam Ranh:
Chức năng:
và phát triển vốn - hạch toán phụ thuộc theo hình thức báo sổ lên Công Ty.
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ một Thủ Trưởng trong quản lý
điều hành sản xuất kinh doanh trên cơ sở thực hiện quyền làm chủ của cán bộ công
nhân viên trong đơn vị, không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất theo đúng hướng
phát triển của Đảng và Nhà Nước.
- Nhà máy tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở tuân thủ chính sách
pháp luật Việt Nam và Bản Điều Lệ Công Ty.
2. Vị trí, vai trò nhà máy đường Cam Ranh đối với địa phương và đối với nền
kinh tế.
Đối với nền kinh tế:
Vị Trí:
- Hiện nay việc phát triển ngành mía đường của nước ta là một trong những
chương trình KT – XH lớn của Đảng và NHà Nước, vì thế cần phải tập trung các
nguồn lực để xây dựng các vùng nguyên liệu phục vụ cho việc sản xuất mía đường.
Và Chính Phủ cũng xác định ngành mía đường có một vị trí khá quan trọng cho sự
phát triển kinh tế đất nước.
- Trong tương lai không xa, với sự đầu tư đúng đắn của Chính Phủ thì sản
phẩm đường của Việt Nam sẽ đạt chất lượng đến đỉnh cao và hướng đến xuất khẩu
sang các thị trường nước ngoài là đều có khả năng trở thành hiện thực ; bên cạnh đó
Đảng và Nhà Nước cũng nhận định rằng, phát triển ngành chế biến mía đường sẽ
tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, lợi ích mang lại cũng thiết thực.
+ Tạo công ăn việc làm, ổn định về mặt xã hội, góp phần xoá đói giảm
nghèo.
+ Phục vụ cho việc sản xuất của các doanh nghiệp trong nước có sử dụng
hàm lượng đường: nước giải khát, trái cây, bánh kẹo…
+ Đóng góp vào ngân sách Nhà Nước và thúc đẩy các ngành công
nghiệp khác phát triển.
23
càng nhiều….Hiện nay, nhà máy đã đóng góp những lợi ích đáng kể, tạo công ăn