i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Đồ án này :
Trước hết tôi xin gửi tới Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban
Chủ nhiệm khoa Chế biến, Phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học niềm kính trọng,
sự tự hào được học tập tại trường trong những năm qua.
Sự biết ơn sâu sắc nhất tôi xin được giành cho thầy: TS. Vũ Ngọc Bội - Phó
Giám đốc Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường - Trường Đại học Nha Trang đã tận
tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp này.
Xin cám ơn: TS. Nguyễn Anh Tuấn - Chủ nhiệm khoa Chế biến và các thầy
cô phản biện đã cho tôi những lời khuyên quí báu để công trình nghiên cứu được
hoàn thành có chất lượng.
Đặc biệt xin được ghi nhớ tình cảm, sự giúp đỡ của: các thầy cô giáo trong
Bộ môn Công nghệ Thực phẩm - khoa Chế biến, Bộ môn Công nghệ Sinh học -
Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường đã giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện đồ án này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và các bạn bè đã tạo điều kiện,
động viên khích lệ để tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập vừa qua.
Nha trang, tháng 07 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Ngọc
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
iii
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.2.1. Phương pháp phân tích hóa học 29
2.2.2. Phương pháp đánh giá chất lượng sản phẩm: 30
2.2.3. Phương pháp phân tích vi sinh vật 33
2.2.4. PHƯƠNG PHÁP BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 34
2.2.4.1. Quy trình sản xuất dự kiến 34
2.2.4.2. Bố trí thí nghiệm xác định các thông số của quy trình 36
2.3. Hóa chất và thiết bị chủ yếu sử dụng trong đồ án 43
2.4. Phương pháp xử lý số liệu 43
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1. XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CỦA QUY TRÌNH 44
3.1.1. Xác định tỷ lệ cao lá vằng sử dụng 44
3.1.2. Xác định thời gian và nhiệt độ nấu cao lá vằng 45
3.1.3. Xác định lượng đường bổ sung 46
3.1.3.2. Xác định tỷ lệ pectin bổ sung 50
3.1.3.3. Xác định tỉ lệ acid ascorbic bổ sung 52
3.1.3.4. Xác định thời gian thanh trùng 53
3.2. Đề xuất quy trình sản xuất nước giải khát cao trà lá vằng 56
3.3. Sản xuất thử nghiệm và đánh giá chất lượng cảm quan sản phẩm 57
3.4. Sơ bộ tính giá chi phí nguyên vật liệu cho sản phẩm 58
3.4.1.Tính tiêu hao nguyên vật liệu chính 58
3.4.2. Tính tiêu hao nguyên liệu phụ 59
KẾT KUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Hình 2.1. Quy trình dự kiến sản suất nước cao lá vằng đóng chai. 34
Hình 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm chung 36
Hình 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định tỷ lệ cao lá vằng sử dụng 37
Hình 2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định nhiệt độ và thời gian nấu cao lá vằng 38
Hình 2.5. Sơ đồ bố trí xác định tỷ lệ đường bổ sung 39
Hình 2.7. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định tỉ lệ pectin bổ sung 40
Hình 2.8. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định tỉ lệ acid ascorbic bổ sung 41
Hình 2.9. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định thời gian thanh trùng 42
Hình 3.1. Ảnh hưởng của tỷ lệ cao lá vằng đến tổng điểm cảm quan của dịch cao
trà lá vằng 44
Hình 3.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian nấu cao đến tổng điểm cảm quan
dịch cao trà lá vằng 45
Hình 3.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung đường saccarose đến tổng điểm cảm
quan của sản phẩm 47
Hình 3.4. Ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung đường Aspartam OPC đến tổng điểm cảm
quan của sản phẩm 49
Hình 3.5. Ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung pectin đến sự thay đổi tổng trung bình
điểm cảm quan. 51
Hình 3.6. Ảnh hưởng của tỉ lệ acid ascorbic đến sự thay đổi tổng điểm trung bình
cảm quan của sản phẩm 52
vi
Hình 3.7. Ảnh hưởng của thời gian thanh trùng đến sự thay đổi tổng điểm cảm
quan của sản phẩm 53
Hình 3.8. Sơ đồ quy trình sản xuất “nước giải khát cao lá vằng đóng chai” hoàn
thiện 56
Hình 3.9. Hình ảnh về sản phẩm nước giải khát cao lá vằng 61
vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MS Màu sắc
TT Trạng thái
làm tăng thêm tính đa dạng cho sản phẩm trà thảo mộc ở nước ta.
2
Nội dung của đề tài gồm:
1) Xác định các thông số thích hợp cho quy trình sản xuất: tỉ lệ cao lá vằng sử
dụng, chế độ nấu cao lá vằng với nước, tỷ lệ đường, tỷ lệ acid ascosbic, tỷ lệ pectin
bổ sung.
2) Xác định chế độ thanh trùng cho sản phẩm.
3) Đề xuất quy trình sản xuất nước giải khát cao lá vằng đóng chai.
4) Sản xuất thử sản phẩm và đánh giá chất lượng sản phẩm.
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức có hạn nên đồ án tốt nghiệp của em sẽ
không tránh khỏi những hạn chế. Em kính mong nhận được các ý kiến góp ý của
Qúy thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài thêm hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, tháng 07 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Ngọc
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. GIỚI THIỆU VỀ TRÀ THẢO DƯỢC
Hình 1.1. Các loại thảo dược được dùng làm trà
Trà thảo mộc là các loại trà được chế biến từ các loại thảo dược có khả năng
chữa bệnh và tăng cường sức khỏe.
Ngày nay do đời sống con người ngày càng được cải thiện nên con người
ngày càng quan tâm đến việc sử dụng các loại chất tự nhiên nguồn gốc thảo dược có
- Công dụng: Bổ máu, tăng bài tiết thận, ngăn hiện tượng tóc bạc sớm hay hói
đầu, giảm căng thẳng thần kinh, giảm mất ngủ, ngừa thiếu hồng cầu, bệnh máu trắng…
+ Trà linh chi
- Tên tiếng Anh: Lingzhi tea
- Thành phần: Trà linh chi được sản xuất từ Linhzhi, cây thuốc họ chùm bao
dùng trong thảo dược học…
- Công dụng: Tốt cho hoạt động tim mạch, giảm cholesterol làm đẹp, tăng
khả năng miễn dịch của cơ thể, tốt cho trí não, an thần, ngủ ngon…
+ Trà rong biển
- Tên tiếng Anh: Seaweed tea
- Thành phần: Rong biển, chè đen
- Công dụng: Đây là loại trà thảo dược có tác dụng làm mát cơ thể, loại trừ
nhiệt dư thừa, giải nhiệt, giải cảm, trị bệnh bướu cổ…
5
+ Trà cỏ ngọt
- Tên tiếng Anh: Sweet grass tea
- Thành phần: Cỏ ngọt, chè xanh
- Công dụng: Lợi tiểu (thuốc kích niệu), hạ cholesterol, hạ huyết áp, đặc biệt
tốt cho chứng béo phì và tiểu đường.
+ Trà tim sen
- Tên tiếng Anh: Totus tea bag
- Công dụng: Tim sen là loại thảo mộc thanh nhiệt, an thần, mát gan, sáng mắt.
Dùng trà tim sen thường xuyên giúp dễ ngủ, da mịn màng, tinh thần sảng khoái.
+ Trà trái nhàu
- Tên tiếng Anh: Noni tea bag (morinda tea)
- Thành phần: Được chế biến từ trái nhàu và cỏ ngọt
- Công dụng: Dùng cho người bị sỏi thận, cao huyết áp, tiểu đường, ho cảm.
- Đặc biệt trị đau lưng, thấp khớp nhuận tràng.
+ Trà gừng
+ Trà xanh không độ
- Tên tiếng Anh: green tea
- Thành phần: nước, trà xanh, hương vị tự nhiên.
- Công dụng: giải nhiệt, chống oxy hóa, giảm stress, tăng cường sức đề
kháng, làm đẹp da…
+ Trà thảo mộc Dr. Thanh
- Tên tiếng Anh: Herbal tea.
- Thành phần: Gồm kim ngân hoa, hoa cúc, cam thảo, đảo hoa, hoa môc
niên, tiên thảo.
- Công dụng: thanh nhiệt, giải độc cơ thể.
- Lợi ích của việc uống trà thảo mộc [11],[19]:
Nghiên cứu dựa trên 4400 phụ nữ trong vòng 6 năm cho thấy uống trà thảo
mộc thường xuyên làm giảm nguy cơ ung thứ vú đến một nửa. Những người thường
xuyên uống trà thảo mộc nguy cơ mắc các bệnh giảm 57% so với những người ít
7
khi dùng trà thảo mộc. Sở dĩ như vậy là do trong các loại trà thảo mộc có chứa
nhóm chất flavonoid, các nhóm chất có tác dụng chống oxy hóa, kháng viêm và
trung hòa các gốc tự do (là những chất theo thời gian sẽ gây tổn thương cho cơ thể).
Theo nghiên cứu này, uống trà thông thường, cafe, nước hoa quả hay rượu không có
mối liên hệ tích cực nào với điều trị bệnh tật ở con người. Tại Anh, cứ 9 phụ nữ thì
1 người mắc bệnh ung thư vú. Qua cuộc điều tra này, các nhà khoa học khuyên phụ
nữ nên uống trà thảo mộc hàng ngày như trà xanh, trà artiso, trà gừng, trà bạc hà, trà
hoa cúc, [Theo VTV]. Một nghiên cứu khác cho thấy, phụ nữ mang thai nên sử
dụng một lượng trà lá mâm xôi đỏ trong thời gian mang thai có tác dụng ngăn ngừa
chuyển dạ sớm và giảm thiểu những cơn đau trong quá trình chuyển dạ.
- Cách uống trà thảo mộc [11, 18, 19, 4]:
Trà thảo mộc giúp bạn tìm lại sự quân bình của cơ thể, sức khoẻ và vẻ đẹp
nhờ hương vị nguyên chất rất đặc trưng của nó. Tuy nhiên khi dùng không nên vượt
quá liều lượng. Nhiều người cho rằng uống trà là thuốc chữa bệnh, hoặc thì ít
“không bổ dọc thì cũng bổ ngang” mà không biết rằng trà thảo mộc sẽ biến thành
Hình 1.2. Một số loại trà thảo mộc trên thị trường 9
1.2. TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LIỆU
1.2.1. Giới thiệu về trà vằng và tình hình nghiên cứu về cây trà vằng
Trà Vằng có tên khoa học: Jasminum subtriplinerve Blume (thuộc họ Ô liu).
Tên thường gọi: trà vằng, trà cước man, cẩm văn, cẩm vân, dây vắng, mỏ sẻ,
mỏ quạ, râm trắng, râm ri, lài ba gân.
Trà vằng là một loại cây bụi nhỏ mọc hoang, được người dân Việt Nam tại
nhiều vùng miền sử dụng dưới dạng sắc thuốc hay pha nước uống, đặc biệt tốt khi
dành cho các sản phụ [13].
Hình 1.3. Cây trà vằng
Đặc điểm: Cây trà vằng mọc hoang ở khắp nơi, là loại cây bụi nhỏ, đường
kính thân không quá 6mm. Thân cứng, từng đốt vươn dài hàng chục mét, phân
nhánh nhiều. Vỏ thân nhẵn màu xanh lục. Lá mọc đối hơi hình mác, phía cuống
tròn, mũi nhọn, có ba gân chính nổi rõ ở mặt trên, mép nguyên, càng lên ngọn, cành
lá càng nhỏ. Hoa màu trắng mọc thành xim ở đầu cành, quả hình cầu [15].
Theo nhân dân, có 3 loại vằng, vằng lá nhỏ (vằng sẻ) dùng tốt hơn cả, vằng
lá to (vằng trâu) cũng được dùng, còn vằng núi không dùng làm thuốc [15].
Bộ phận dùng: Lá, thân sau khi đã thu hái và phơi khô, thu hái quanh năm [15].
Thành phần hóa học: Nghiên cứu dược lý chứng minh lá trà vằng có chứa
alcaloid, nhựa, flavonoid, terpenoit, glycosid đắng [14], [15].
). Các hợp chất này đều được
tìm thấy lần đầu tiên từ cây trà vằng trồng tại Hà Tĩnh và Nghệ An. Hợp chất F2 đã
phân lập và một số flavonoid glycosid khác đang được tiếp tục nghiên cứu (Đề tài
do các tác giả Nguyễn Thị Hồng Hương, Nguyễn Khắc Quỳnh Cứ (khoa Dược, ĐH
Y Dược TP.HCM), Trịnh Văn Quỳ (Hội đồng Dược điển Việt Nam), Markus
Ganzera, Hermann Stuppner (viện Dược học, ĐH Innsbruck, Austria) thực hiện
nghiên cứu phân lập và xác định cấu trúc của 3 chất flavonol glycosid có trong
cành, lá trà vằng dựa trên dữ liệu phổ MS và phổ NMR của từng hợp chất) [15].
+ Tính vị: Ban đầu có vị đắng, sau đó có thấm ngọt (hậu ngọt).
+ Tác dụng của trà vằng:
Cây Trà vằng có công dụng chữa thông huyết, điều kinh, đau bụng, hay điều
trị đau khớp xương. Trà vằng còn có thể dùng cho chị em phụ nữ sau khi sinh bị
nhiễm trùng, sốt cao, viêm hạch bạch huyết, viêm tử cung và tuyến vú. Để chữa
thông huyết, điều kinh, đau bụng hay khớp xương, mọi người có thế sắc uống một
liều 20-30g khô/ngày. Với các bệnh như thiếu máu, mệt mỏi, kém ăn, cảm, đau
bụng hay vàng da, mỗi ngày ta có thể uống 8 - 16g. Ở một số vùng như Quảng
Nam, Đà Nẵng, hay Bình Trị Thiên, phụ nữ sau khi sinh đem trà Vằng khô sắc uống
11
cả ngày để kích thích ăn ngon miệng, tăng tiết sữa. Nước trà vằng còn dùng đế tắm
trị ghẻ ngứa [14].
Theo một nghiên cứu của bệnh viện Thái Bình, cây trà vằng với một liều
lượng nhất định có tác dụng kháng khuẩn mạnh hơn một số kháng sinh đối với tụ
cầu khuẩn. Hay theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền, trà vằng còn có tác dụng
chuyển dạng tế bào lympho. Nó còn có tác dụng chống viêm cấp tính, viêm mãn
tính, làm teo tuyến ức trên chuột (Nguyễn Thị Ninh Hải) [14].
Đặc biệt, Trường Đại học Dược Hà nội cũng có đề tài nghiên cứu về tác
dụng chống nhiễm khuẩn của cây trà vằng mọc ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Nghiên
cứu này được áp dụng điều trị ở 254 sản phụ và cho nhiều kết quả đáng chú ý như
có thể dùng trà Vằng thay thế thuốc kháng sinh trong trường hợp đẻ thường, còn
trong trường hợp đẻ khó nếu sử dụng trà vằng thì tỷ lệ sử dụng thuốc kháng sinh
Cao lá vằng là sản phẩm từ cây trà vằng được chiết xuất và cô đặc dưới dạng
cao nên vẫn giữ được các chất có trong lá trà vằng.
Hiện nay, tại Định Sơn có cao hơn 80 hộ dân theo nghề nấu cao vằng, mỗi
ngày sản xuất hàng trăm ký cao vằng, nhà ít thì 3kg, nhiều có khi đến cả chục kg.
Hiện cao vằng bán với giá 60.000đ/kg, có lúc giá lên 70.000- 90.000đ/kg. Ông
Nguyễn Văn Hiển - trưởng thôn Định Sơn cho biết: “Ở làng, đêm cũng như ngày
nhà nhà bếp đỏ lửa. Nghề nấu cao vằng đã cho thu nhập khá. Nguồn nguyên liệu
ngoài tự nhiên, chỉ mất công đi lấy, còn kỹ thuật người đi trước bày lớp theo sau.
Nay cả làng xây lò để nấu. Sản phẩm cao lá vằng của làng Định Sơn là những gói
cao vuông vức nhỏ bằng bàn tay, gọn nhẹ, cất trữ được dài ngày dùng pha vào nước
sôi để uống, thơm mùi dễ chịu, thị trường rất ưa chuộng. Người Định Sơn xem cao
lá vằng như một thứ “vàng đen” quý giá. Nhờ loại “vàng đen” này mà bà con Định
Sơn sắm được xe máy, mua được ti vi, đầu máy, xây được nhà khang trang hơn, có
tiền cho con trẻ đi học… Nó như là phương tiện cứu cánh của miền quê nghèo Định
Sơn. Nay dân làng đều có việc làm, cho thu nhập ổn định. Để có cao vằng là một
quá trình lâu dài. Đang chăm sóc nồi cao, bà Võ Thị Hòe – một lão làng trong nghề
13
bật mí: “Nấu không vất vả nhưng mất nhiều công. Cô đặc thành cao từ lá tươi phải
mất 18 tiếng túc trực. Lửa đỏ không đều, cao mất chất lượng. Sản lượng ít, nhiều
tùy mùa nhưng mùa hè là cao nhất, đạt năng suất nhất. Còn độ ngon, chất lượng tùy
từng nhà, tùy từng gia đình mà có bí quyết riêng”. Cần mẫn với cao lá vằng đã gần
chục năm nay, người Định Sơn đã làm ra một loại sản phẩm hàng hóa thay đổi cuộc
sống nơi miền quê nghèo này. Hiện nghề nấu cao lá vằng còn phát triển sang làng
lân cận Nghĩa Phong với hơn 20 hộ theo nghề. Được sự bày vẽ tận tình của bà con
Định Sơn, Nghĩa Phong đang dần dần trở thành làng cao vằng thứ 2 vượt nghèo ở
xã Cam Nghĩa. Có nhiều nơi cũng nấu cao lá vằng bán. Nhưng để phân biệt cao
Định Sơn thì chỉ cần chế nước uống: khi pha với nước lạnh không bao giờ tan như
cao vằng nơi khác, chỉ pha với nước sôi nóng mới tan. Và uống quen, mùi cũng
thơm mùi riêng. Nấu cao mà trộn lá khác vào thì không bao giờ cô được thành cao.
Hiện nay, để việc sản xuất cao lá vằng được liên tục với sản lượng ổn định,
thời gian dài mà không bị biến đổi chất lượng.
Ngành công nghiệp đồ hộp thực phẩm phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên
thế giới vì nó đã đáp ứng được các mục tiêu sau đây:
15
- Phục vụ tốt cho việc cải thiện đời sống của con người.
- Cung cấp tốt thực phẩm cho các vùng công nghiệp, các thành phố và các
vùng dân cư đông đúc.
- Góp phần điều hoà thực phẩm trong các mùa vì nguyên liệu sản xuất thực
phẩm mang tính mùa vụ cao.
- Đồ hộp là nguồn thực phẩm rất tiện dụng và để được lâu nên nó là nguồn
cung cấp và dự trữ thực phẩm cho quốc phòng.
- Ngành đồ hộp phát triển sẽ thúc đẩy các ngành khác phát triển như: Trồng
trọt, chăn nuôi, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản,…
- Góp phần tăng cường trao đổi hàng hóa trong và ngoài nước, phát triển du lịch.
- Góp phần giảm nhẹ việc chế biến, nấu nướng trong các bữa ăn của cá nhân,
gia đình và các bếp tập thể.
- Góp phần phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Hiện nay trên thế giới đã sản xuất được hơn 1000 mặt hàng các loại đồ hộp khác
nhau, có đầy đủ về dinh dưỡng, đa dạng về kiểu dáng và phong phú về phẩm cấp.
Ngành đồ hộp của Việt Nam mới phát triển từ thập niên 60 trở lại đây, sau
ngày thống nhất đất nước (1975) đã có bước tiến rõ rệt, đặc biệt là trong giai đoạn
đổi mới và phát triển kinh tế gần đây đã có sự chuyển biến mạnh mẽ. Năm 1960 nhà
máy đồ hộp Hạ Long Hải Phòng ra đời, sản xuất chủ yếu là các mặt hàng thuỷ sản
nhưng có kết hợp sản xuất một số loại đồ hộp thịt gia súc gia cầm và cả đồ hộp rau
quả. Năm 1962 nhà máy đồ hộp Sông Hồng Hà Nội khánh thành, triển khai sản xuất
các mặt hàng đồ hộp rau quả. Trong những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước,
nhiều nhà máy thực phẩm ra đời như: Nhà máy đồ hộp hoa quả Nam Định, nhà máy
hoa quả Vĩnh Phú, nhà máy hoa quả Sơn Tây, nhà máy sữa hộp Đồng Giao Thanh
Hoá,… Sau ngày thống nhất đất nước, ta đã khôi phục và phát triển một số nhà máy
đồ hộp ở TP. Hồ Chí Minh như nhà máy đồ hộp Mỹ Châu, chuyên sản xuất đồ hộp
theo tính chất của quả, nếu chua thì khi uống phải pha thêm đường.
Nước quả hỗn hợp: Chế biến bằng cách pha hỗn hợp nhiều loại nước quả
khác nhau.
Nước quả pha đường: Để tăng vị ngọt, một số nước quả như chanh, cam,
quýt, phải pha thêm đường.
17
Nước quả cô đặc: Cô đặc nước quả tự nhiên theo các phương pháp khác nhau
như đun nóng hoặc làm lạnh đông.
- Căn cứ theo phương pháp bảo quản chia nước quả thành 5 loại: Nước quả
thanh trùng; nước quả bảo quản lạnh; nước quả nén hơi; nước quả sunfit hóa (bảo
quản bằng SO2); nước quả rượu hóa.
Nước quả thanh trùng: Đóng vào bao bì kín, thanh trùng bằng cách đun nóng
trước hoặc sau khi ghép kín.
Nước quả nạp khí: Nạp CO
2
có tác dụng ức chế hoạt động của vi sinh vật và
làm tăng giá trị cảm quan cho sản phẩm.
Nước quả sunfit hóa: Bảo quản bằng SO
2
.
Nước quả rượu hóa: Pha rượu để ức chế hoạt động của vi sinh vật rồi đựng
trong bao bì đã thanh trùng.
- Căn cứ theo độ trong chia thành:
Nước quả không có thịt quả: Dịch bào được tách khỏi mô quả, chủ yếu bằng
cách ép sau đó đem lắng rồi lọc. Tùy theo mức độ cần thiết mà ta lọc thô (sản xuất
nước quả đục) hay lọc kỹ (sản xuất nước quả trong).
Nước quả có thịt quả: Dịch bào được lẫn với các mô đã nghiền mịn và pha
chế với nước đường và bổ sung thêm các thành phần phụ gia khác.
Nước quả không thịt quả có hình thức hấp dẫn, ít bị biến đổi khi bảo quản hơn
nước quả có thịt quả. Các loại quả chứa nhiều caroten như mơ, cà rốt… hoặc có thịt quả
Dán nhãn
Bao gói
Xuất xưởng
Rót hộp
Ghép kín
Thanh trùng
Làm nguội
Bảo ôn
Dán nhãn
Bao gói
Xuất xưởng