Lịch sử tiền tệ việt nam potx - Pdf 22

Lịch sử tiền tệ Việt Nam
Tiền tệ Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm và biến động lịch sử, theo với bề dày phát triển đất
nước, phát triển kinh tế xã hội Việt Nam và thế giới.
Đầu tiên ta có thể sơ lược qua lịch sử hình thành của tiền tệ Việt Nam, một quá khứ tự hào xứng
đáng với lịch sử dân tộc. Ta có thể chia thành các giai đoạn như sau:
Vào thời Bắc thuộc: thời Bắc thuộc tiền đồng Trung quốc đã được sử dụng ở Việt Nam như tiền Hán
nguyên thông bảo của nhà Hán, đồng Khai nguyên thông bảo của nhà Đường. Bên cạnh đó, những
đĩnh vàng, đĩnh bạc của Trung quốc cũng được lưu hành.
Vào thời phong kiến độc lập:
• Thời Đinh, Lê: tiền đồng hiệu Thái bình thông bảo sau đó đúc tiền đồng Thiên phúc trấn bảo.
• Thời Lý: dưới triều vua Lý Thái Tông, tiền đồng có hiệu Minh đạo thông bảo, sang đến triều Lý
Thần Tông, tiền đồng hiệu là Thuận thiên thông bảo.
• Thời Trần, Hồ: các triều vua cũng cho đúc tiền đồng, tiền kẽm. Bắt đầu cho phát hành tiền giấy gọi
là Thông bảo hội sao.
• Thời Lê, Mạc: tiền đồng trong nước không còn, đúc tiền đồng Thuận thiên thông bảo và tiền đồng
hiệu Thiệu bình. đúc tiền kẽm và cả tiền sắt, sau đó tiền sắt bị cấm sử dụng.
• Thời Nguyễn: Sau mở các sở đúc tiền ở Bắc thành, Gia Định để đúc tiền đồng Gia Long thông
bảo. Song song với tiền đồng, các loại thoi bạc, thoi vàng và tiền bạc, tiền vàng cũng xuất hiện.
Vào thời kỳ Việt Nam là một phần của Đông Dương thuộc Pháp: Trong thời kỳ này, đơn vị tiền tệ của
cả khu vực Đông Dương là piastre, được dịch ra tiếng Việt là "đồng" hay đôi khi là "bạc". Tiền tệ do
chính quyền trong giai đoạn này lấy bạc làm bản vị nhưng những đồng tiền của các triều vua nhà
Nguyễn vẫn được lưu hành chủ yếu ở các vùng nông thôn mặc dù bất hợp pháp. Tiền đúc lúc đầu có
đồng bạc Mexico nặng 27 gam 073 (độ tinh khiết 902 phần nghìn), sau đó là đồng bạc Đông Dương
được đúc ở Pháp nặng 27 gam (độ tinh khiết 900 phần nghìn). Tiền giấy thời kỳ này được Ngân hàng
Đông Dương phát hành và có thể đem đến ngân hàng đổi thành bạc. Một sắc lệnh ngày 16 tháng 5
năm 1900 cho phép Ngân hàng Đông Dương in tiền giấy gấp ba lần số bạc đảm bảo nhưng khi Chiến
tranh thế giới lần thứ nhất xảy ra thì tỷ lệ này không còn giữ được nữa, tiền giấy phát hành gấp nhiều
lần số bạc đảm bảo. Sau một số biện pháp cải cách tiền tệ, ngày 31 tháng 5 năm 1930, Tổng thống
Pháp có sắc lệnh quy định đồng bạc Đông Pháp (Đông Dương) có giá trị là 655 miligam vàng (độ
tinh khiết 900 phần nghìn), từ đó chấm dứt chế độ bản vị bạc mà chuyển sang bản vị vàng.
Vào thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám: Từ 1945-1954: Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra

miền Nam đổi được 3 đồng giải phóng. Vào năm 1978, sau khi thống nhất hai miền về mặt hành
chính, đã có một cuộc đổi tiền nữa. Tỷ giá đổi tiền miền Bắc là 1 đồng cũ thành 1 đồng thống nhất
trong khi tại miền Nam 1 đồng giải phóng thành 8 hào tiền thống nhất. Lần đổi tiền thứ ba xảy ra vào
năm 1985, khi 10 đồng tiền cũ đổi thành 1 đồng tiền mới.
Trong tiếng Việt, "đồng" cũng có thể dùng để chỉ đến những đơn vị tiền tệ nước ngoài, đặc biệt là
những đơn vị ít người biết đến. Trong một số cộng đồng dùng tiếng Việt ở hải ngoại, đồng cũng có
thể dùng để chỉ đến đơn vị tiền tệ địa phương.
Tiền polymer tại Việt Nam là loại tiền bằng polymer được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành
năm 2003, có giá trị lưu hành song song với các đồng tiền cũ với mục tiêu đáp ứng nhu cầu lưu thông
tiền tệ về cơ cấu mệnh giá (thêm loại tiền có mệnh giá lớn), chủng loại, đồng thời nâng cao chất
lượng, nhất là khả năng chống làm giả của đồng tiền, nhưng một số tờ tiền mới in đã gặp vài lỗi kĩ
thuật.
Và hiện nay, thị trường tiền tệ Việt Nam đã đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của nền kinh tế. Thị
trường tiền tệ Việt Nam đã được hình thành và từng bước hoàn thiện gắn liền với tiến trình đổi mới
và phát triển nền kinh tế đất nước. Cho đến nay, mặc dù thị trường tiền tệ Việt Nam chưa thực sự phát
triển, nhưng nó đã đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết cung cầu về nguồn vốn ngắn hạn nhằm
hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống của các chủ thể trong nền kinh tế.
Đặc biệt, thị trường đã thực hiện chức năng cân đối, điều hòa nguồn vốn giữa các ngân hàng, góp
phần hỗ trợ cho các ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán, hoạt động an toàn và hiệu quả. Thông
qua các hoạt động trên thị trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện điều
tiết tiền tệ nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Có thể khẳng định rằng, thị trường tiền tệ Việt
Nam đã góp phần nhất định trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, nhất là quá trình chuyển đổi
sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển thị trường tiền tệ các nước trên thế giới, thị trường tiền tệ Việt
Nam vẫn còn non trẻ và nhiều bất cập, cần đẩy nhanh hoàn thiện để phát triển. Một số bất cập của thị
trường tiền tệ Việt Nam hiện tại:
• NHNN (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) cần thực hiện dứt khoát và rõ ràng chức năng người
cho vay cuối cùng trong mọi thời điểm:Lãi suất chủ đạo phải đủ về “chất”: phải là định hướng
và sát thị trường . Can thiệp điều hành chính sách tiền tệ phải đủ về “lượng”. Lượng tiền cung
hoặc rút qua thị trường mở; Lượng ngoại tệ bán ra để can thiệp vào thị trường ngoại hối. Các

trường; hạn chế can thiệp hành chính vào hoạt động thị trường tiền tệ.
3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status