THỊ TRƯỜNG TIẾN TỆ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VIỆT NAM - Pdf 12

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VN
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

BÀI THẢO LUẬN
Chủ đề 2:
THỊ TRƯỜNG TIẾN TỆ MỘT
SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
VÀ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
VN
(Lớp thứ 3 ca 3 H507)
Hà Nội 2012
DANH SÁCH NHÓM THỰC HIỆN:
1. Thân Thị Hồng Nhung (Nhóm trưởng)
2. Lưu Khánh Vân
3. Kiều Anh
4. Đặng Thị Hương Ly
5. Chu Văn Trường
6. Lê Thị Huế
7. Nguyễn Quốc Huấn
8. Trần Hữu Thiện
KẾT CẤU:
I/ Thị trường tiền tệ VN
1/ Khái quát quá trình hình thành và phát triển của thị trường tiền tệ VN
2/ Tình hình giao dịch trên thị trường tiền tệ VN
3/ Một số hạn chế, bất cập của thị trường tiền tệ.
II/ Thị trường tiền tệ một số nước trên thế giới
1/ Thị trường tiền tệ Mỹ
2/ Thị trường tiền tệ Trung Quốc
3/ Thị trường tiền tệ Nhật Bản
4/ Thị trường tiền tệ châu Âu
5/ Thị trường tiền tệ Hàn Quốc

tệ và các chứng khoán ghi bằng ngoại tệ. Thành lập từ năm 1991, trải qua nhiều giai đoạn
phát triển với nhiều thăng trầm, thị trường ngoại hối Việt Nam đã có một bước phát triển
đáng kể về quy mô cũng như loại nghiệp vụ giao dịch. Từ năm 1994 đến nay, thông qua
thị trường, NHNN đã theo dõi được các giao dịch về ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng,
nắm bắt diễn biến cung cầu và tham gia thị trường với vai trò người mua bán cuối cùng.
NHNN thực hiện can thiệp thị trường khi cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu chính sách
tiền tệ trong từng thời kỳ: điều hành linh hoạt tỷ giá, hỗ trợ cho các ngân hàng cân đối
ngoại tệ và đặc biệt là góp phần ổn định tỷ giá, tăng dự trữ ngoại hối của Nhà nước.
Về thị trường tín phiếu kho bạc: từ năm 1995, việc đấu thầu tín phiếu Kho bạc
qua NHNN đã mở ra một kênh huy động vốn với chi phí thấp cho Ngân sách Nhà nước và
đã trở thành nguồn cung cấp hàng hóa chủ yếu cho các giao dịch nghiệp vụ tiền tệ giữa
NHNN với các ngân hàng thương mại (NHTM) nhất là nghiệp vụ thị trường mở để thực
thi chính sách tiền tệ quốc gia. Kỳ hạn tín phiếu Kho bạc đến nay đã đa dạng hơn trước,
gồm 364 ngày, 273 ngày và 182 ngày. Bên cạnh các NHTM Nhà nước, các NHTM cổ
phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng đã từng bước trở
thành thành viên tham gia thị trường.
Về các hoạt động nghiệp vụ tiền tệ của NHNN: Từ tháng 7/2000, NHNN chính
thức khai trương nghiệp vụ thị trường mở, đánh dấu một bước đổi mới mạnh mẽ trong
việc điều tiết tiền tệ gián tiếp theo các nguyên tắc thị trường. Tổng doanh số giao dịch
nghiệp vụ thị trường mở theo cả 2 chiều mua và bán tăng mạnh qua các năm; kỳ hạn giao
dịch cũng được đa dạng hóa từ 7-182 ngày; khối lượng giao dịch qua từng phiên, định kỳ
giao dịch cũng ngày càng tăng thêm. Việc điều hành nghiệp vụ thị trường mở giúp tăng
cường khả năng điều tiết của công cụ này đến vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng và
các điều kiện trên thị trường tiền tệ.
Bên cạnh nghiệp vụ thị trường mở, nghiệp vụ tái cấp vốn của NHNN cũng được
từng bước đổi mới, hoàn thiện theo hướng nâng cao hiệu quả điều tiết tiền tệ gián tiếp của
NHNN. Đến nay tái cấp vốn của NHNN cho các NHTM chủ yếu được thực hiện dưới các
hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay có đảm bảo bằng cầm cố giấy tờ có giá. Thủ
tục, quy trình xử lý đề nghị vay tái cấp vốn từng bước được tinh giản, tạo thuận lợi cho
các ngân hàng. Cơ chế tái cấp vốn được áp dụng bình đẳng cho tất cả các ngân hàng,

giao dịch
Đặc điểm
của lãi suất
1 Nghiệp vụ thị
trường mở
(OMO)
7/2000 Là một công cụ được
NHNN sử dụng để thực thi
CSTT quốc gia.
NHNN chủ
động đề
xuất theo
yêu cầu
điều hành
CSTT
Do thị trường
quyết định
2 Nghiệp vụ đấu
thầu TPCP
6/1994 NHNN làm đại lý cho
BTC trong việc phát hành
và thanh toán trái phiếu
(tín phiếu Kho bạc và trái
phiếu ngoại tệ) theo
phương thức bán buôn với
các thành viên trên thị
trường sơ cấp (thông qua
đấu thầu)
NHNN chủ
động đề

NN chủ
động thực
hiện
Do NHNN ấn
định
5 Nghiệp vụ
cầm cố và
chiết khấu
2003 Tái cấp vốn cho TCTD
trên cơ sở cầm cố hoặc
chiết khấu GTCG
TCTD đề
xuất khi có
nhu cầu
Do NHNN ấn
định
GTCG
* Nghiên cứu về Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM)
Phiên giao dịch đầu tiên được thực hiện vào tháng 7/2000. Việc triển khai NVTTM
cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới của nền kinh tế, chuyển dần từ sử dụng các công
cụ tiền tệ trực tiếp sang sử dụng công cụ gián tiếp, giúp các tổ chức tín dụng đảm bảo khả
năng thanh toán nhanh chóng, kịp thời. NVTTM đang dần trở thành kênh chủ đạo để
NHNN bơm tiền ra nền kinh tế và thu tiền về từ lưu thông, góp phần quan trọng điều hoà
vốn khả dụng của các NHTM.
• Về thành viên: Từ 2007 đến tháng 9/2011, tổng số lượt thành viên tham gia
các phiên NVTTM đạt 16.924 lượt và số thành viên tham gia tăng mạnh qua từng năm
(năm 2008 là 3.208; năm 2009 là 3.121; năm 2010 là 6.106; 9 tháng đầu năm 2011 là
3.906). Trong các phiên giao dịch, bên cạnh các thành viên là NHTM Nhà nước thì số
thành viên là các NHTM cổ phần và ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài tăng
mạnh. Từ năm 2010 đến nay, còn có sự tham gia của các thành viên thuộc khối ngân hàng

trong nền kinh tế (M2)
• Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở
Lãi suất trên thị trường mở cũng có nhiều biến động: nếu năm 2008,mua có kỳ
hạn 7 ngày lãi suất bình quân là 12,82%/năm, 14 ngày là 13,12%/năm, thì năm 2009,
đã giảm xuống tương ứng là 7,23%/năm và 7,51%/năm và năm 2010 tương ứng
8,35%/năm và 7,69%/năm. Trong tháng 1/2011, lãi suất mua có kỳ hạn 7 ngày đã tăng
lên 10%/năm, từ ngày 22/2, tăng lên 12%, 1/4 là 13%, ngày 4/5, đã được đẩy lên mức
14%/năm, không dừng ở đó, ngày 17/5, NHNN đã nâng lãi suất trên thị trường mở lên
15%. Đây là lần thứ 8, NHNN điều chỉnh mức lãi suất trên thị trường mở kể từ tháng
1/2010. Từ ngày 4/7/2011, lãi suất trên nghiệp vụ thị trường mở đã giảm nhẹ xuống
14%/năm. Điều này cho thấy năm 2008 và 2011 nền kinh tế có lạm phát cao, NHNN thực
hiện chính sách tiền tệ thắt chặt dẫn đến tình hình thanh khoản của các NHTM khó khăn,
đặc biệt là các NHTM cổ phần quy mô nhỏ. Trước diễn biến đó, NHNN sử dụng linh
hoạt thị trường mở, kết hợp với cho vay tái cấp vốn để hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM
có khó khăn về thanh khoản. Như vậy, tất cả những sự điều chỉnh trên đều cho thấy quyết
tâm kiềm chế lạm phát mà hiện nay đang được Chính phủ đang ưu tiên hàng đầu
Hiện nay,cùng với việc hạ trần lãi suất về 12%/năm và giảm 1% các lãi suất điều hành,
sáng 11/4/2012, Ngân hàng Nhà nước cũng đã giảm lãi suất OMO từ 13% về 12%/năm.
Kết quả đấu thầu sang 11/4/2012, theo dữ liệu của Reuters, cho thấy Ngân hàng Nhà nước
đã bơm ra 319 tỷ đồng trên OMO, kỳ hạn 7 ngày.
b/ Thị trường tiền tệ liên ngân hàng
Năm 1992, NHNN ban hành chỉ thị số 07/CT-NH1 ngày 7/10/1992, đây là văn bản
pháp lý đầu tiên quy định về quan hệ tín dụng giữa các TCTD. Tháng 6/1993, NHNN
đứng ra tổ chức TTTT liên ngân hàng tập trung với nghiệp vụ chủ yếu là cho vay, gửi
tiền. Tháng 10/1993, NHNN cho phép các TCTD giao dịch trực tiếp với nhau. Đến năm
1995, NHNN tổ chức thị trường mua bán giáy tờ có giá giữa các TCTD và từ năm 2001
đến nay, NHNN chủ trương đẩy mạnh việc phát triển TTTT, theo đó ban hành đồng bộ
hơn các văn bản thể chế đối với hoạt động TTTT, từng bước tiến gần hơn tới thông lệ
quốc tế.
- Về doanh số

hiệu về chính sách của NHNN đến thị trường.Có thể lấy ví dụ:
Từ đầu năm 2008 đến khoảng tháng 9/2008, lãi suất bình quân trên thị trường liên
ngân hàng ở tất cả các kỳ hạn có sự biến động tăng đột biến và đứng ở mức cao,bình quân
gần 18% /năm, cá biệt vào thời điểm căng thẳng thanh khoản lên đến đỉnh điểm,có TCTD
phải chấp nhận giao dịch VNĐ tại kỳ hạn qua đêm với mức lãi suất lên đến 43%/năm. Để
đối phó với tình trạng căng thẳng về vốn và ổn định TTTT,NHNN đã đẩy mạnh các giải
pháp điều hành chính sách như liên tục điều chỉnh lãi suất và mức dự trữ bắt buộc, điều
chỉnh giảm các loại lãi suất, đẩy mạnh hoạt động cung ứng vốn thông qua nghiệp vụ tái
cấp vốn,OMO… Do vậy, từ tháng 9/2008, lãi suất các kỳ hạn trên thị trường tiền tệ liên
ngân hàng đã giảm mạnh dưới tác động chính sách của NHNN và dần đi vào ổn định.
Năm 2011
Tháng LSHĐ LSCV LS
LNH
(qua đêm)
LS
TTM
LS
TCK
LS
TCV
1 14 15.74 10- 11 11 7 9
2-3 15 18- 20 20- 21 12 12 13
4 16- 20 23 23 13 13 14
5 16- 17 18.3 13 15 13 14
6 15- 15.5 17.3- 17.8 12.8 14 13 14
7 13.5- 17 18.64 12-12.7 14 13 14
8 13.5- 17 18.73 13.5- 14 14 13 14
9 14 18.5 12.34 14 13 14
Nm 2011,lói sut liờn ngõn hng cú nhiu bin ng. Tuy nhiờn,tớnh n gia
thỏng 12 lói sut liờn ngõn hng khụng bin ng so vi cui thỏng 11, lói sut VND qua

trng cũn thp,NHNN m rng biờn giao dch t 1% lờn mc 5% lm th trng hot
ng cú phn sụi ng hn.Bc sang u nm 1999 ,NHNN tip tc ban hnh quyt
nh 64/1999/Q-NH v ngy 25/2/1999 v vic cụng b t giỏ ca ng VN vi cỏc
ngoi t ó lm thay i cn bn c ch iu hnh t giỏ,t c ch t giỏ chớnh thc
sang c ch t giỏ giao dch bỡnh quõn trờn Interbank lm cho th trng hot ng tht
s sụi ng.
Cho n nay, th trng ngoi hi VN ó cú mt bc phỏt trin ỏng k v quy
mụ cng nh loi nghip v giao dch, thu hỳt c s tham gia ca nhiu doanh nghip
v NHTM trong v ngoi nc. NHTM úng vai trũ nũng ct trờn th trng ngoi hi v
úng vai trũ trung gian trong cỏc giao dch kinh doanh ngoi t nhm ỏp ng nhu cu
ngoi t cho khỏch hng l cỏc doanh nghip, c bit l cỏc cụng ty xut nhp khu.
Ngoi ra, cỏc NHTM cũn mua bỏn ngoi t vi nhau trờn th trng nhm mc tiờu thu li
nhun v m bo cõn bng trng thỏi ngoi t khi cn gim thiu ri ro.
Din bin nhng nm gn õy
Nm 2009, t giỏ USD/VND tip tc tng trong 4 thỏng u nm, c bit sau
khi NHNN thc hin ni rng biờn t giỏ lờn 5% khin cho t giỏ ngoi t liờn NH ó
cú t tng t bin.
Năm 2010, giá USD đã tăng khá mạnh trong năm 2009, sang đến tháng 1/2010 lại
giảm nhẹ và tiếp tục dao động quanh mức 18.479đồng/USD cho đến giữa tháng 2/2010.
Nguyên nhân là do: Nguồn cung USD có thể tăng từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp; từ vốn
hỗ trợ phát triển chính thức; từ vốn đầu tư gián tiếp; từ nguồn kiều hối từ Việt kiều và từ
lao động làm việc ở nước ngoài gia tăng; nguồn thu từ khách quốc tế đến VN gia tăng trở
lại; kim ngạch xuất khẩu chuyển từ tăng trưởng âm (-) sang tăng trưởng dương (+)… Bên
cạnh đó, các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng, sức ép
tâm lý găm giữ USD do lo sợ rủi ro tỉ giá giảm, chênh lệch giữa giá thị trường tự do với
giá niêm yết trên thị trường chính thức đã giảm đáng kể.
Đến cuối năm 2010, thị trường ngoại hối VN rơi vào tình trạng căng thẳng khi cầu
ngoại tệ quá lớn, trong khi nguồn cung lại khan hiếm. Điều này khiến cho giá USD/VND
tăng mạnh, làm ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô.
d/ Diễn biến trên thị trường tiền tệ VN nói chung và thị trường ngoại hối nói

vàng miếng trên thị trường. Những động thái có tính quyết liệt của SBV đưa ra là nhằm
giảm thiểu những giao dịch đầu cơ tích trữ ngoại tệ và vàng để đảm bảo ổn định tiền đồng
VND.
Trên thị trường ngoại hối, năm 2011 chứng kiến lần đầu tiên trong lịch sử Ngân
hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá mạnh nhất từ 18.932 đồng đổi 1 USD lên 20.693 đồng
(tăng 9.3%) và thu hẹp biên độ giao dịch từ 3% xuống còn 1% vào ngày 11/02/2011. Việc
tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã giúp thu hẹp tỷ giá chính thức so với tỷ giá trên
thị trường chợ đen vốn đã duy trì khoảng cách từ 7%-8% trong vòng hai tháng trước đó.
Để đảm bảo ổn định tỷ giá, Chính phủ ban hành nghị định 95, phạt hành chính tới 500
triệu đồng cho vi phạm trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Nhiều đơn vị, tổ chức cá nhân
đã bị bắt vi phạm, thu giữ và phạt hành chính.
Tháng 10 ghi nhận tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng mạnh nhất kể từ khi
NHNN điều chỉnh tỷ giá hôm 11/2. Trong tháng có tới 14 lần NHNN nâng tỷ giá với mức
tăng tổng cộng 175 đồng. Nguyên nhân là do nhu cầu mua ngoại tệ của DN để trả các
khoản vay từ 2 qúy đầu năm 2011, nhu cầu nhập khẩu tăng cao vào cuối năm cộng thêm
nhu cầu nhập khẩu vàng nhằm kiếm lời từ sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá
vàng quốc tế. Thêm vào đó cung ngoại tệ cũng giảm sút do nhiều DN không muốn bán
ngoại tệ cho ngân hàng khi niềm tin về đồng nội tệ chưa cao. Sau loạt tăng 14 lần liên tiếp
đầu tháng 10, tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD với VND đã kéo dài 5 tuần cố
định.
Trong tháng 12 NHNN bất ngờ điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng lên mức cao
nhất 20.828 đồng. Đây là mức điều chỉnh thứ hai trong tháng này và tính từ thời điểm
NHNN đưa ra cam kết không tăng tỷ giá quá 1% thì tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã
tăng 0,97%, khá sát với chỉ tiêu. Như vậy, khả năng sẽ không còn lần điều chỉnh tỷ giá
trong tuần cuối cùng của năm, do dự địa còn lại khá thấp (khoảng 0,03%). Mặc dù vậy,
nhu cầu ngoại tệ cuối năm vẫn còn khá cao, bên cạnh đó do chênh lệch giữa giá vàng
trong nước và giá vàng thế giới vẫn ở mức hấp dẫn (xoay quanh 2 triệu đồng/lượng) có
thể làm tăng nhu cầu gom USD để nhập lậu vàng, vì vậy khả năng điều chỉnh tỷ giá
USD/VND vào đầu năm 2012 hoàn toàn có thể xảy ra.
Bên cạnh đó, trong vòng 1 năm qua, để ổn định tỷ giá, CP đã áp dụng nhiều biện

nay danh mục giấy tờ có giá có thể giao dịch trong các nghiệp vụ thị trường tiền tệ đã
được tăng cường bao gồm cả các giấy tờ có giá dài hạn như các loại trái phiếu Chính phủ.
Tuy nhiên, các giấy tờ có giá có thể sử dụng trong các giao dịch trên thị trường tiền tệ vẫn
tập trung chủ yếu ở các NHTM Nhà nước. Một số công cụ đã được sử dụng khá phổ biến
trên thị trường tiền tệ các nước như thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi nhưng hầu như
vẫn chưa được hình thành, hoặc còn ít sử dụng ở VN. Vừa qua, Luật công cụ chuyển
nhượng đã được Quốc hội chính thức thông qua, song NHNN hiện đang trong quá trình
phối hợp với các cơ quan hữu quan để triển khai soạn thảo các văn bản hướng dẫn.
Kỳ hạn của các trái phiếu Chính phủ – công cụ chủ yếu sử dụng trong nghiệp vụ
thị trường tiền tệ vẫn chưa thực sự đa dạng hóa, nhất là tín phiếu Kho bạc với thời hạn
ngắn dưới 364 ngày ít được phát hành. Thậm chí, đến nay chưa có tín phiếu Kho bạc với
kỳ hạn ngắn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng …Điều này cũng làm cho nhiều NHTM khó có điều
kiện đầu tư vào giấy tờ có giá, tạo công cụ tham gia các nghiệp vụ thị trường tiền tệ.
Các giao dịch giữa các ngân hàng trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng chủ yếu
được thực hiện dưới hình thức giao ngay. Các công cụ mang tính phòng ngừa rủi ro, công
cụ phái sinh còn ít được áp dụng hoặc mới bước đầu triển khai, nhất là giao dịch kỳ hạn,
quyền chọn và giao dịch hoán đổi với các hình thức hoán đổi lãi suất, hoán đổi tiền tệ.
Về thành viên tham gia thị trường: Cho đến nay lượng thành viên tham gia các
nghiệp vụ thị trường tiền tệ vẫn còn hạn hẹp. Chẳng hạn, trên thị trường đấu thầu tín
phiếu Kho bạc, thành viên chủ yếu vẫn là các NHTM Nhà nước. Ngoài ra, có khoảng 10
NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã bước đầu
tham gia nghiệp vụ này. Trong các giao dịch nghiệp vụ thị trường tiền tệ giữa NHNN và
các ngân hàng, ngoài các NHTM Nhà nước, cũng chỉ có khoảng 12-14 NHTM cổ phần,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài là thành viên thường xuyên tham gia.
Đặc biệt, trên thị trường nội tệ liên ngân hàng đã hình thành nhóm các ngân hàng
thường cung ứng nguồn tiền VND chủ yếu là các NHTM Nhà nước và ngược lại nhóm
các NHTM cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh là các
ngân hàng thường có nhu cầu vay tiền VND. Việc điều chuyển vốn thường chỉ diễn ra
một chiều giữa nhóm các ngân hàng thường cho vay và nhóm ngân hàng thường đi vay.
Trên thực tế thị trường hầu như chưa hình thành các thành viên có tính chuyên

gắn kết chặt chẽ với lãi suất của các công cụ dài hạn trên thị trường tài chính.
II/ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Phần này nhóm chỉ xin tập trung đưa ra thực trạng thị trường tiền tệ ở một số nước hiện
nay do nguồn thông tin có nhiều hạn chế.
1/ Thị trường tiền tệ Mỹ
Các công cụ tài chính được giao dịch trên thị trường tiền tệ Mỹ rất đa dạng chẳng
hạn như: Tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, hối phiếu, chấp phiếu ngân
hàng, trái phiếu chính phủ, quỹ liên bang, thỏa thuận mua lại repo, ký thác dollar ngoại
biên, …
Cục dự trữ liên bang kiểm soát quy mô nguồn cung ứng tiền tệ bằng các hoạt động
thị trường mà qua đó Fed mua hoặc cho mượn các loại trái phiếu, giấy tờ có giá. Những
tổ chức tham gia mua bán với Fed gọi là người giao dịch ưu tiên (primary dealers). Tất cả
hoạt động thị trường của Fed ở Hoa Kỳ đều tiến hành tại bàn giao dịch thị trường của
Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực New York với mục đích là đạt được tỷ lệ lãi suất trái
phiếu liên bang gần mới tỷ lệ mục tiêu.
Một số điểm đáng chú ý ở thị trường tiền tệ Mỹ:
• Chiết khấu Window
Việc vay mượn từ ngân hàng dự trữ liên bang hoặc 1 ngân hàng đại lý là một phương
pháp huy động vốn để điều chỉnh tình hình dự trữ của ngân hàng và kết quả là nâng cao
thanh khoản. Bất cứ tổ chức ký thác nào có các tài khoản giao dịch lệ thuộc vào các nhu
cầu dự trữ có thể vay từ ngân hàng dự trữ liên bang trong khu vực. Thời hạn vay mượn
tùy thuộc vào nhiều yếu tố chẳng hạn như điều kiện của ngân hàng muốn vay và môi
trường kinh tế hiện tại. Các ngân hàng nhỏ dễ nhận chiết khấu Window hơn so với các
ngân hàng lớn do các ngân hàng nhỏ không thể tham gia vào tất cả các thị trường mà các
ngân hàng lớn hiện có, và các ngân hàng nhỏ thường diễn ra những biến động theo thời
vụ về tín dụng và tiền gửi lớn hơn so với các ngân hàng lớn. Các ngân hàng dự trữ liên
bang điều hành một cách chặt chẽ chiết khấu Window để bảo đảm là đặc quyền vay mượn
không bị lạm dụng.
Vốn được các ngân hàng dự trữ liên bang cho phép sử dụng phải được cầm cố bằng
hối phiếu hoặc các giấy tờ thích hợp, các hối phiếu chấp nhận thanh toán, chứng khoán

khấu của Fed. Nhưng đến nay, OMO được coi là công cụ CSTT linh hoạt, có hiệu quả và
quan trọng nhất của Fed vì hoạt động OMO có tính chất quyết định đến sự thay đổi dự trữ
của hệ thống ngân hàng và lãi suất thị trường. Để điều hành OMO, Fed đã thành lập Uỷ
ban nghiệp vụ thị trường mở (FOMC). Theo định kỳ 6 tuần/lần, FOMC họp bàn phân tích
các diễn biến kinh tế - tiền tệ và các yếu tố ảnh hưởng để đưa ra các quyết định về mục
tiêu tăng trưởng M1, M2 và lãi suất liên ngân hàng định hướng, lãi suất chiết khấu từ đó
quyết định khối lượng GTCG giao dịch trên thị trường mở, phương thức giao dịch và thời
hạn giao dịch.
Fed lựa chọn những chứng khoán có tính thanh khoản và độ an toàn cao làm công cụ
thực hiện OMO nhằm đạt được mục tiêu điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng
một cách có hiệu quả nhất. Chứng khoán Chính phủ Mỹ (đặc biệt là tín phiếu kho bạc) là
công cụ chủ yếu được sử dụng trong các giao dịch OMO do có khối lượng giao dịch trên
thị trường lớn, có tính thanh khoản và độ an toàn cao. Thời hạn của các chứng khoán
Chính phủ được giao dịch trên thị trường khá đa dạng, từ dưới 01 năm đến trên 10 năm.
Đối tác giao dịch chủ yếu của Fed là các ngân hàng. Tuy nhiên hầu hết các giao dịch
OMO thực hiện thông qua các nhà giao dịch chứng khoán chính phủ chuyên nghiệp (ngân
hàng). Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà Fed áp dụng hình thức mua bán hẳn hoặc mua
bán có kỳ hạn, thông qua hình thức đấu thầu lãi suất.
2/ Thị trường tiền tệ Trung Quốc
Lãi suất tham chiếu thị trường tiền tệ Trung Quốc tăng mạnh nhất trong hơn 1
tháng trong bối cảnh các ngân hàng cố gắng đẩy tỷ lệ vốn lên đáp ứng yêu cầu của Ngân
hàng Trung ương khi quý I sắp kết thúc.
Theo nguồn tin Bloomberg, thay vì theo dõi nhu cầu bán trái phiếu, Ngân hàng
Trung ương Trung Quốc đã yêu cầu các ngân hàng thương mại nộp lại các hợp đồng mua
lại (repos) kỳ hạn 28 và 91 ngày.
Ngân hàng Trung ương nước này gần đây đã đẩy mạnh tín dụng cho khu vực
nông thôn bằng cách cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với thêm 379 chi nhánh của Ngân
hàng Nông nghiệp Trung Quốc.
Theo số liệu từ Trung tâm Cấp vốn Liên ngân hàng Quốc gia, lãi suất trung bình
của hợp đồng repo thời hạn 7 ngày, thước đo độ sẵn có của nguồn vốn liên ngân hàng, đã

với USD đã vọt lên mức cao nhất kể từ sau Thế chiến thứ hai và tăng mạnh so với đồng
euro, giữa lúc giới đầu tư coi đồng nội tệ của Nhật Bản như một nơi trú ẩn an toàn trong
bối cảnh cuộc khủng hoảng nợ công của khu vực đồng euro (Eurozone) đã và đang gây lo
ngại trên các thị trường.
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) ngày 30/3/2012 thông báo đã rót thêm 2.600
tỷ yên vào thị trường tiền tệ ngắn hạn, nơi các ngân hàng và công ty chứng khoán tiến
hành các giao dịch vốn cần thiết.Đây là ngày giao dịch thứ 12 liên tiếp BOJ "bơm" tiền
vào thị trường tài chính kể từ sau khi xảy ra thảm họa động đất gây sóng thần tại Nhật
Bản ngày 11/3 vừa qua. Từ thời điểm đó đến nay, tổng số tiền thể chế này rót cho thị
trường tiền tệ Nhật Bản hiện đã lên đến 120.900 tỷ yên.
4/ Thị trường tiền tệ châu Âu
Thị trường tiền tệ châu Âu thực chất là thị trường ngoại hối song bao gồm cả hoạt
động tiền gửi và cho vay, do vậy hình thành cơ chế tạo tiền.
Cơ sở hình thành và phát triển: sự hình thành các ngân hàng Eurobanks và European
Dollars.
Những đặc trưng cơ bản:
• Luôn gắn với các trung tâm tài chính lớn.
• Lãi suất thả nổi và cơ sở quan trọng nhất là lãi suất LIBOR.
• Hoạt động với những lợi thế đặc biệt của các Eurobanks.
Theo Fitch Ratings, các quỹ thị trường tiền tệ của Mỹ đã tăng mạnh lượng trái phiếu
của các ngân hàng châu Âu mà họ nắm giữ trong tháng 2/2012, một dấu hiệu cho thấy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status