MÔN HỌC TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
Mô tả môn học
Môn học này trang bị cho người học những kiến thức lý luận chuyên sâu về tài chính – tiền tệ, làm nền tảng
để nghiên cứu các môn nghiệp vụ thuộc khối ngành Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh. Cụ thể học phần này
tập trung vào nghiên cứu: hệ thống tài chính; lý thuyết danh mục đầu tư, lý thuyết cấu trúc lãi suất và lý
thuyết định giá tài sản; thông tin bất cân xứng và cấu trúc tài chính; quy định/ điều tiết khu vực tài chính; tự
do hóa tài chính và khủng hoảng tài chính; chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Mục tiêu môn học
Sau khi học xong học phần này, học viên nâng cao kỹ năng nghiên cứu và phân tích sâu những vấn đề quan
trọng thuộc lĩnh vực tài chính, tiền tệ, ngân hàng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Nội dung chi tiết môn học:
Chuyên 1: Hệ thống tài chính
1. Hệ thống tài chính và nền kinh tế thực
2. Các định chế tài chính
3. Các thị trường tài chính
4. Đổi mới tài chính
Chuyên 2: Điều tiết/quy định và giám sát hệ thống tài chính
1. Thất bại thị trường tài chính và sự quy định/điều tiết khu vực tài chính
2. Những hạn chế của điều tiết/quy định khu vực tài chính
3. Tác động của toàn cầu hóa đối với sự điều tiết của khu vực tài chính - Basel
Chuyên 3: Thông tin bất cân xứng và cấu trúc tài chính
1. Cấu trúc tài chính ở một số quốc gia trên thế giới
2. Chi phí giao dịch và cấu trúc tài chính
3. Lựa chọn nghịch và cấu trúc tài chính
4. Rủi ro đạo đức và sự lựa chọn giữa nợ và vốn
Chuyên 4: Khủng hoảng tài chính
1. Các mô hình khủng hoảng tài chính
2. Khủng hoảng tài chính năm 2008
4. Cách tiếp cận mới về sự điều tiết/quy định khu vực tài chính – Basel III
Chuyên 5: Lý thuyết cấu trúc lãi suất
1. Lãi suất và đường cong lãi suất
Chuyên đề 9: Toàn cầu hóa tài chính
68
Câu hỏi thi: 75
2
Chuyên đề 1: Hệ thống tài chính - Phần1: Vai trò của hệ thống tài chính
I. Giới thiệu
Định nghĩa hệ thống tài chính: Hệ thống thị trường cho các công cụ tài chính, các cá nhân và định chế tài
chính giao dịch với nhau thông qua sự điều tiết và sự quản lý của hệ thống.
Đối tượng tham gia của hệ thống là người dân, các doanh nghiệp và các tổ chức khác muốn sử dụng công cụ
trong hệ thống tài chính. Các công cụ tài chính có thể được tóm tắt:
- Trung gian của các đơn vị thặng dư (dư thừa) và thiếu hụt.
- Cung cấp dịch vụ tài chính như bảo hiểm, quỹ tương hỗ.
- Phương tiện thanh toán.
- Cung cấp danh mục đầu tư.
Các bộ phận khác nhau thì đóng một vai trò nhất định nhưng tất cả đều có chung một đặc điểm là kênh điều
chuyển từ người thừa vốn (từ kế hoạch chi tiêu) đến những người thiếu hụt, ví dụ như:
- Ngân hàng
- Công ty bảo hiểm và các quỹ hỗ tương.
Các nhà kinh tế thường quan tâm đến cách mà một hệ thống tài chính điều quỹ giữa đơn vị sử dụng cuối
cùng của hệ thống, đó là đối tượng cho vay và đi vay hơn là các trung gian vay và đi vay – Các trung gian tài
chính không chỉ là vay mà còn đi vay, nó ám chỉ là việc chuyển vốn đến những người sử dụng cuối cùng.
Khi đối mặt với nhu cầu vay hoặc cho vay, đối tượng sử dụng cuối cùng của hệ thống tài chính có một lựa
chọn giữa ba cách:
- Thứ nhất, họ tham gia vào lĩnh vực thường được gọi là cho vay trực tiếp. Có thể nói rằng đây là cách
họ giao dịch trực tiếp với nhau. Nhưng ở đây, chúng ta sẽ thấy là tốn chi phí, kém hiệu quả, cự kỳ rủi
ro và trong thực tế khó có khả năng.
- Thứ hai, họ có thể quyết định tham gia thị trường có tổ chức. Ở những thị trường này, người cho vay
mua những giấy nợ của người đi vay.
o Thị trường có tổ chức làm giảm chi phí có thể kết hợp với việc cho vay trực tiếp vì thị trường
có tổ chức được phổ biến bởi những người kinh doanh.
Lưu ý rằng hai điều kiện trên quan tâm tới tốc độ và giá trị.
4
2. Borrowing:
Một số người có thu nhập dôi ra so với mức chi tiêu hiện tại cần, và cũng sẽ có một số doanh nghiệp, tổ
chức, hộ gia đình có mức thu nhập thấp hơn so với mức kế họach chi tiêu. Tức là, họ có một sự thâm hụt tài
chính, hịo phải bán những tài khỏan họ nắm giữ trước đây (trái phiếu) hoặc tạo ra những khỏan nợ bằng cách
đi vay.
Người đi vay quan tâm đến:
- Chi phí thấp nhất
- Thời gian vay càng dài càng tốt
Mục tiêu của người cho vay và người đi vay luôn đối lập nhau. Chính sự đối lập này dẫn đến sự xuất hiện
trung gian tài chính.
Một nền kinh tế phát triển đòi hỏi sự cân đối tài chính. Khỏan dư thừa phải tương ứng với những khỏan thiếu
hụt
3. Người cho vay, người đi vay và khoản thu được ròng của các tài sản tài chính (NAFA)
- Người cho vay thì có những khỏan thặng dư tài chính
- Người đi vay có những khỏan thâm hụt tài chính. Thâm hụt tài chính làm cho họ không có
NAFA.
- Một nền kinh tế đóng được phân ra làm 3 đối tượng: hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ.
Họ có thể đóng vai trò như những người đi vay và người cho vay. Tổng khỏan dư thừa phải bằng tổng khỏan
thiếu hụt.
4. Cho vay, đi vay và sự giàu có
Kinh tế tài chính để phân biệt giữa dự trữ và dòng di chuyển
- Một cá nhân với một khỏan thặng dư tài chính, làm tăng dự trữ, tăng sự giàu có về tài chính. Ngược
lại, một cá nhân với thâm hụt tài chính sẽ làm giảm bớt dự trữ và tăng sự bần túng.
- Thặng dư được chu chuyển làm tăng thêm dự trữ tài chính, ngược lại thâm hụt dẫn đến giảm dự trữ.
Dòng chu chuyển của cho vay và đi vay.
Người ta sẽ nắm giữ cả hai vai trò người đi vay và người cho vay.
- Những người cầm cố nhà để lấy một khỏan tiền từ ngân hàng.
- Người đi vay với tài sản tài chính có thể tốt hơn nếu họ thế chấp tài sản và sử dụng nguồn tài trợ để
Kỹ thuật
Vốn bằng tiền
Tiền gửi
Đất đai
Các yếu tố đầu ra:
Cho vay
Các dịch vụ tài chính
khác
6
Figure 3: Hoạt động của trung gian tài chính
Với đặc điểm này thì các định chế trung gian tài chính được xem là cầu nối giữa 2 bên: thường là người tiết
kiệm cuối cùng và người cần vốn cuối cùng những thỉnh thoảng họ có thể là những người trung gian khác.
Lợi ích:
- Chuyển hóa kỳ hạn: Các trung gian tài chính huy động những khoản tiết kiệm có những thời hạn
khác nhau, su đó chuyển hóa tài trợ cho những người cần vốn với những kỳ hạn khác nhau
- Kinh tế về quy mô: Các trung gian tài chính huy động những khoản tiết kiệm có quy mô nhỏ tập
trung thành quỹ cho vay với quy mô lơn hơn để tài trợ cho những người cần vốn
- Giảm rủi ro: Các trung gian tài chính phát hành các loại chứng khoán thứ cấp ít rủi ro để thu hút tiền
tiết kiệm của những người không chấp nhận rủi ro còn các trung gian tài chính lại chấp nhận những
chứng khoán sơ cấp có rủi ro cao do những người cần vốn phát hành.
- Giảm chi phí tìm kiếm và giao dịch giữa các bên
IV. Thị trường tài chính (Financial markets)
Thị trường tài chính là tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn, diễn ra dưới hình thức vay mượn, mua
bán về vốn về vốn, tiền tệ và các chứng từ có giá nhằm chuyển dịch từ nơi cung cấp đến nơi có nhu cầu về
vốn cho các hoạt động kinh tế.
Như vậy TTTC là một công cụ có tổ chức nhằm tập hợp “người mua và bán” lại với nhau. Nó không cần
một vị trí không gian nhất định, nó có thể cho phép giao dịch giữa những người ở các vùng khác nhau. Ví dụ
thị trường giao dịch ngoại hối có thể thực hiện giữa những định chế tài chính ở các quốc gia khác nhau trên
toàn thế giới. Với sự phát triển của công nghệ thông tin tiên tiến như ngày nay có thể cho phép giao dịch
thực hiện dễ dàng giữa các vùng cách xa rất nhiều về địa lý.
gồm TT vay nợ dài hạn và TT chứng khoán.
- Có khuynh hướng tính thanh khoản thấp hơn
- Độ an toàn tương đối thấp hơn
- Công cụ: cổ phiếu và trái phiếu (các loại CP, TP)
- Nghiệp vụ: mua bán trên sàn chứng khoán, TT trái phiếu.
1.2. Căn cứ vào cách thức huy động vốn, chia làm hai loại: thị trường các công cụ nợ (Debt Markets)
và thị trường vốn cổ phần (Equity Markets)
1.2.1. TT các công cụ nợ:
Cá nhân hoặc tổ chức phát hành các công cụ nợ như trái phiếu để huy động vốn, cam kết trả theo phương
thức của một thỏa thuận có thời gian nhất định. Kỳ hạn của công cụ nợ là khoảng thời gian đến ngày hết hạn
của công cụ. Công cụ nợ có thể là ngắn hạn (kỳ hạn < 1 năm), dài hạn (>10 năm) hoặc trung hạn.
1.2.2. TT vốn cổ phần:
Doanh nghiệp phát hành các cổ phần sở hữu như cổ phiếu thông thường để các nhà đầu tư góp vốn tham gia
với tư cách đồng sơ hữu doanh nghiệp, cùng chia sẻ thu nhập ròng và tài sản của doanh nghiệp.
- Cổ phần thường được trả cổ tức theo kỳ hạn tùy theo kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
- Xem như khoản dài hạn vì không có ngày kết thúc kỳ hạn
- Người nắm giữ cổ phần như sở hữu một phần tỷ lệ doanh nghiệp nên có một số quyền trong quyết
định những vấn đề quan trọng như bầu giám đốc chẳn hạn.
8
Điểm không lợi thế của nắm giữ cổ phần so với giữ khoản nợ của DN là DN trả nợ cho tất cả chủ nợ trước
khi trả cho cổ đông. Ngược lại lợi thế của cổ phần có lợi nhuận trực tiếp từ việc tăng thu nhập ròng và tài sản
của doanh nghiệp, còn nợ thì chỉ được trả cố định như thỏa thuận ban đầu.
1.3. Căn cứ vào cơ cấu tổ chức, chia làm 2 loại cơ bản: thị trường sơ cấp (Primary Markets) và thị
trường thứ cấp (Secondary Markets)
TT sơ cấp là TT mà các chứng chỉ tài chính như trái phiếu, cổ phiếu được phát hành mới để bán cho người
mua đầu tiên bởi những công ty hoặc cơ quan chính phủ cần huy động vốn.
Thị trường thứ cấp là TT mà các chứng chỉ đã được phát hành trước đó ở TT sơ cấp sẽ đem ra bán lại.
TT sơ cấp không được phổ biến ra công chúng nhiều, vì việc mua bán thường diễn ra nội bộ. Ngân hàng đầu
tư là chủ thể quan trọng để hỗ trợ trong TT này, nó đảm bảo giá cho chứng chỉ của DN, và sau đó bán ra
công chúng.
1. Ảnh hưởng đến các thành phần của tổng cầu
- Nếu không có sự giúp đỡ của những người cho vay trung gian và người vay không thể đàm phán các
điều khoản chấp nhận được, hoặc ít nhất là lãi suất cao thì sẽ có rất ít giao dịch cho vay và đi vay.
- Tuy nhiên, với sự giúp đỡ của các trung gian tài chính, tại bất kỳ mức lãi suất nào thì người cho vay
sẽ được sẵn sàng để cho vay và người vay sẽ được sẵn sàng vay hơn bình thường.
9
Figure 4: Trung gian tài chính khuyến khích tiết kiệm và đầu tư
2. Mức độ của tổng cầu
Phát triển tài chính có thể ảnh hưởng đến mức độ của tổng cầu và/hoặc là mức sản lượng, hoặc mức
độ giá cả, hoặc cả hai. Có hai kênh mà qua đó một kết nối có thể xảy ra và cả hai có thể được khám phá bằng
cách sử dụng phương trình trao đổi:
MV = PQ = GDP
− nếu V không đổi => M tăng => GDP cũng tăng.
− Nếu V giảm => M tăng => GDP also does.
3. Hệ thống tài chính và phân bổ nguồn lực:
Hiệu quả của hệ thống tài chính với các kênh vốn từ người cho vay đến người vay cũng quan trọng
đối với việc phân bổ nguồn lực:
- Cầu nối giữa người cho vay và người vay
- Khắc phục thông tin không đối xứng
10
Chuyên đề 1: Hệ thống tài chính - Phần 2: Cấu trúc của hệ thống tài chính
- HT tài chính ở các quốc gia khác nhau như thế nào
- Khác nhau giữa các định chế trung gian tiền gửi và phi tiền gửi (ngân hàng và các định chế khác)
I. Giới thiệu:
Bao gồm các tập hợp tt tài chính và các định chế, và những người sử dụng chúng như người đi vay và người
cho vay cuối cùng
- Sự khác nhau chủ yếu giữa các httc là các định chế và sự khác nhau về điều tiết (regulation) của nhà
nước
- Còn lại tt tài chính và các công cụ hầu như giống nhau một cách cơ bản
II. Phân loại của hệ thống tài chính:
- Dễ bị ảnh hưởng bởi tin đồn trên tt
- Nhu cầu vốn đột xuất, nhanh (làm hồ sơ vay NH)
- NH không cho vay quá 10% cho 1 dự án, 1 cty…
=> hạn chế quy mô huy động vốn
- Do tt đánh giá nên chính xác hơn (tt quyết định
giá trị cty)
- Bị giới hạn về chuyên môn để đánh giá giá trị cty
- Áp lực trả phí (trả vốn cho cổ đông) thấp vì trả
phí cho chính chủ của cty.
- (Tuy nhiên nó vẫn bị áp lực khi ROA thấp, chủ
sở hữu rút vốn, giá cổ phiếu giảm bởi tt – quan
điểm của thầy :D => áp lực cao)
- Áp lực trả nợ NH
- Cty có thể bị thâu tóm và bị cổ đông mới chiếm
quyền, thay đổi quyền quản trị cty
- NH không nắm quyền kiểm soát cty
- Không bị chi phí trung gian (vd, phát hành với
chi phí 15% => 2 bên cùng có lợi)
- Gia tăng chi phí do qua nhiều bước trung gian
(vd, đầu vào 12% thì đầu ra là 18%)
- - Thủ tục vay vốn với các điều kiện chặt chẽ =>
DN nhỏ và vừa khó tiếp cận vì các nguyên tắc kế
toán không phù hợp, các tài sản đảm bảo không
rõ ràng, giấy tờ không hoàn chỉnh
- Vốn dài hạn là chủ yếu (vd, đầu tư cty cổ phần là
đầu tư luôn)
- Chủ yếu là vốn ngắn hạn
4. Các HT TC trên thế giới
- HT TT dựa trên tt: quan trọng ở Mỹ, Anh; không quan trọng ở Pháp, Đức.
- Hầu hết các nước tập trung NH, tăng tính cạnh tranh của NH
III. Rào cản của TTTC và vai trò của trung gian tài chính (xem thêm chương 3)
1. Chi phí giao dịch (transaction cost)
Chi phí giao dịch khi đầu tư trên thị trường tài chính.
Trung gian tài chính giúp giảm chi phí giao dịch: Tính kinh tế theo quy mô (Economies of Scale), Tính
chuyên môn (Expertise)
13
2. Thông tin bất cân xứng (asymmetric information)
Một bên không biết đầy đủ thông tin về bên kia trong một giao dịch nên không thể đưa ra được các quyết
định chính xác
- Chọn lựa đối nghịch (Adverse Selection):
o Ảnh hưởng của chọn lựa đối nghịch đối với cấu trúc tài chính – The “Lemons problems”
o Biện pháp để giải quyết vấn đề “Chọn lựa đối nghịch”:
Tạo và cung cấp thông tin
Các quy định của Chính phủ về cung cấp thông tin
Vai trò của các trung gian tài chính
Thế chấp
- Rủi ro đạo đức (Moral Hazard)
o Rủi ro đạo đức khi đầu tư trên thị trường tài chính:
Đầu tư cổ phiếu: The Principal – agent problems
Đầu tư vào các công cụ nợ
o Biện pháp để giải quyết vấn đề rủi ro đạo đức
Giám sát
Các quy định của Chính phủ về cung cấp thông tin
Tài sản ròng
Các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng nợ
Vai trò của các trung gian tài chính
IV. Ngân hàng và các định chế tài chính nhận tiền gửi
- Các trung gian tài chính là những tổ chức thực hiện huy động nguồn tiền của những người tiết kiệm
cuối cùng (Ultimate Savers) và sau đó cung cấp cho những người cần vốn cuối cùng (Ultimate
Borrowers).
Trao đổi: vai trò và chức năng của NH đa năng
- Ưu điểm khi kiểm soát chặt (NH không đa năng): hệ thống an toàn, tập trung 1 lĩnh vực chuyên sâu,
phù hợp năng lực, giám sát
- Nhược điểm khi kiểm soát chặt (NH không đa năng): hạn chế sự tự ho hóa tài chính, kiềm chế sự
phát triển khu vực tài chính.
- Đòi hỏi khi thực hiện Đa năng: khả năng quản lý cấp cao, tầm nhìn rộng. (vd Cty Tài chính NH Nông
Nghiệp thua lỗ 500 tỷ do đầu tư sai lầm).
Phân loại Ngân hàng theo chức năng
1) Ngân hàng thương mại (Commercial Banks)
- Huy động vốn:
o Nhận tiền gửi thanh toán (tài khoản vãng lai- check/current deposits),
o Tiền gửi tiết kiệm (savings deposits)
o Tiền gửi có kỳ hạn (time deposits)
- Sử dụng vốn:
o vay thương mại,
o cho vay tiêu dùng,
o vay thế chấp,
o mua chứng khoán chính phủ…
2) Các tổ chức tiết kiệm (Savings and Loans Associations, Savings Banks, Building Societies)
- Huy động vốn:
o Tiền gửi tiết kiệm (thường gọi là shares),
15
o Tiền gửi kỳ hạn
o Tiền gửi thanh toán (Mỹ, trước 1970s, không được phép nhận tiền gửi thanh toán).
- Sử dụng vốn:
o Trước đây: chủ yếu cho vay thế chấp để mua nhà
o Hiện nay: Mở rộng hơn
3) Các tổ chức tín dụng (Credit Unions)
Depository Institutions
(banks)
Commercial Banks Deposits Business and consumer loans,
mortgages, US Govt securities and
municipal bonds
Savings and Loans Institutions Deposits Mortgages
Mutual Savings Banks Deposits Mortgages
Credit Unions Deposits Consumer Loans
Contractual Savings
Institutions
Life Insurance Companies Premium from Policies Corporate bonds and mortgages
Fire and Casualty Insurance
Companies
Premium from Policies Municipal bonds, corporate bonds and
stocks, US Govt securities
Pension Funds, Government
Retirement Funds
Employee and Employer
Contributions
Corporate bonds and stock
Investment Intermediaries
Finance Companies Commercial paper, stock, bonds Consumer and business loans
Mutual Funds Shares Stocks and bonds
Money Market Mutual Funds Shares Money market instruments
Regulatory Agencies
17
Regulatory Agency Subject of Regulation Nature of Regulation
Securities and Exchange
Commission (SEC)
Organized Exchanges and
imposes restrictions on assets they can
hold and imposes restrictions on branching
Regulatory Agency Subject of Regulation Nature of Regulation
Federal Deposit Insurance
Corporation (FDIC)
Commercial banks, mutual
savings banks, savings and
loans associations
Provides insurance for each depositor.
Currently it is set to $250000 per
depositor, until 12/31/2013, whereas it will
revert back to the pre-crisis level of
$100000 per depositor; examines the
books of insured banks and imposes
restrictions on assets they can hold
Office of Thrift
Supervision
Savings and Loans AssociationsExamines the books of savings and loans
associations and imposes restrictions on
assets they can hold
Federal Reserve System All depository institutions Examines the books of commercial banks
that are members of the system; sets
reserve requirements for all banks
• The new Dodd-Frank Banking reform bill that was passed during June 2010 gives the following
agencies additional power:
Regulatory Agency Subject of Regulation New Powers
Federal Deposit Insurance
Corporation (FDIC)
Commercial banks, mutual
savings banks, savings and
19
Chuyên đề 2: SỰ ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
CỦA CHÍNH PHỦ
I. Tổng quan:
Chúng ta thường quan niệm rằng thất bại ngân hàng chỉ xảy ra ở những nền kinh tế mới nổi hay những quốc
gia có hệ thống ngân hàng kém phát triển. Tuy nhiên, một vấn đề đáng quan tâm trong những thập niên gần
đây là thất bại ngân hàng và hệ thống ngân hàng xảy ra ngay cả ở những quốc gia phát triển.
Như vậy, khủng hoảng tài chính có thể xảy ra ở bất kỳ một quốc gia nào mà định chế cũng như chính sách
của nó có vấn đề.
Chính quy mô và tần suất của thất bại ngân hàng và khủng hoảng tài chính đã làm tăng sự nghi ngờ về hiệu
quả của sự điều tiết ngân hàng của chính phủ và một câu hỏi được đăt ra là liệu bản thân của sự điều tiết có
tạo ra những phản ứng ngược hay không?
Hai khuynh hướng phản ứng trái ngược trước sự thất bại ngân hang lan tỏa trên thế giới:
- Phản ứng thứ 1: cho rằng các nguyên tắc thị trường không vận hàng tốt do người cho vay không thể
giám sát ngân hàng một cách toàn diện được. Những tin đồn thất thiệt và những thông tin không
chính xác dẫn đến sự thất bại nhanh chóng của ngân hàng mà nó có thể tạo ra sự lây truyền thành một
sự sụp đổ trong cả hệ thống ngân hàng và rủi ro hệ thống.
- Phản ứng thứ 2 thì hầu như trái ngược với quan niệm thứ nhất. Họ cho rằng chính các nguyên tắc
thị trường không đầy đủ đã dẫn tới sự sụp đổ của các ngân hàng.Sức mạnh thị trường là cách tốt nhất
để đánh giá và định giá rủi ro ngân hàng.
II. Ủng hộ sự điều tiết hệ thống tài chính của Nhà Nước
Lý thuyết ủng hộ sự điều tiết hệ thống tài chính xoay quanh lý thuyết Coase (1988). Quan niệm cho rằng
những hoạt động tư nhân không có sự giám sát đã làm cho chi phí biên xã hội cao hơn chi phí biên cá nhân
hay nói cách khác là những hoạt động kinh doanh, đầu tư không được điều tiết cùa các cá nhân đã làm cho
gánh nặng xã hội vô cùng lớn trong khi cái lợi ích mà cá nhân thu được thì rất nhỏ. (Ví dụ: trường hợp của
Vedan. )
Chi phí biên xã hội xuất hiện khi sự thất bại ngân hàng tạo ra một hiệu ứng mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh
vực của nền kinh tế:
- Khoản nợ phải trả
- tăng tiết kiệm.
- Cố ý làm liều (Moral Hazard):
Một trong những mặt trái của mạng lưới an toàn chính phủ là “sự cố ý làm liều”. Cố ý làm liều là hành động
của một bên gây ra những hậu quả xấu cho bên còn lại.
“Moral hazard” nhìn chung là một một mối quan ngại lớn của sự thỏa thuận bảo hiểm bời vì chính sự ra đời
của bảo hiểm làm tăng những động lực cho việc cố ý lao vào nhữnh khoản đầu tư đầy rủi ro để nhận được
khoản chi trả của bảo hiểm.
Ngân hàng với mạng lưới an toàn của chính phủ vô tư lao vào những rủi ro mà không cần phải suy nghỉ toan
tính vì họ cho rằng dù có thế nào đi chăng nữa thì cũng đã có bảo hiểm.
- Sự lựa chọn nghịch:
Chính mạng lưới an toàn của chính phủ đã tạo ra tác dụng ngược là các ngân hàng lại càng hứng thú hơn đối
với những khoản cho vay đầy rủi ro, vì rủi ro càng lớn thì khi gặp rủi ro sẽ được bồi thường nhiều hơn. Điều
này được ví như một người lài xethích lái xe ẩu để gây ra mất mát để được bồi thường, đôi khi họ cố gây tạo
ra những rủi ro để nhận được tiền bảo hiểm.
Những người cho vay được bảo hộ bởi mạng lưới an toàn chính phủ cũng sẽ bàng quan trong việc áp đặt
ngân hàng huy động phải thế này hay thế khác, những nhà đầu tư thích mạo hiểm cũng cảm thấy hứng thú
tham gia vào lĩnh vực ngân hàng vì họ được thõa mãn trong những kênh đầu tư rủi ro cao này.
- Cố ý làm liều và quá lớn không thể thất bại:
- Củng cố tài chính:
Củng cố tài chính đã và đang được triển khai với tốc độ cực nhanh, và nó đã tạo nên một cấu trúc ngân hàng
lớn hơn và phức tạp hơn. Chính vì cơ cấu lớn và phức tạp nên nó tạo ra 2 trở ngại cho việc điều tiết tài
chính:
• Thứ nhất, củng cố tài chính làm tăng vấn đề “ to big too fail” – quá lớn để thất bại. Chính điều
này làm cho các định chế tài chính lớn lại càng ỷ lại rằng họ không bap giờ sập đổ. Những định
chế này càng hứng thú hơn với những hoạt động nhiều rủi ro.
• Thứ hai, củng cố tài chính có thể được mở rộng những lĩnh vực hoạt động mới như: bảo lãnh
chứng khoán, bảo hiểm hay những hoạt động nhà đất…những điều này làm tăng động lực tham
gia vào các hoạt động nhiều rủi ro hơn và làm cho sự kết nối của hệ thống tài chính càng yếu đi.
2. Giới hạn việc nắm giữ tài sản của ngân hàng
Cố ý làm liều kết hợp với mạng lưới tài chính an toàn chính phủ vô tình tạo động lực cho một bộ phận ngân
hàng tham gia vào các hoạt động rủi ro nhiều hơn.
nhau để phàn ánh mức độ rủi ro tín dụng.
1. Danh mục thứ nhất chiếm 0% và gồm những mục rủi ro cố định ít như dự trữ và chứng khoán chính
phủ.
2. Danh mục thứ 2 chiếm 20%, bao gồm nợ phải đòi của ngân hàng.
3. Danh mục thứ 3 chiếm 50%, gồm trái phiếu đô thị và thuế chấp nhà ở.
4. Danh mục thứ 4 chiếm 100% ,gồm những khoản nợ cá nhân và tổ chức.
Những hoạt động ngoại bảng được xử lí tương tự bằng cách phân bổ tín dụng.
23
3. Hệ thống báo cáo và kiểm tra ngân hàng
Giám sát là một phương pháp quan trọng để giảm sự lựa chọn nghịch và cố ý làm liều trong việc kinh doanh
ngân hàng. Do đó cần phải giám sát và hệ thống báo cáo ngân hàng.
Hệ thống báo cáo ngạn hàng là cách thức làm hạn chế vấn đề lựa chọn nghịch, thông qua hệ thống báo cáo
thì các ngân hàng mới sẽ được giám sát.
Giám sát người vay tiềm năng, hạn chế việc nắm giữ những tài sản rủi ro.
Hệ thống báo cáo yêu cầu các ngân hàng phải báo cáo (thông thường là theo quý) về các vấn đề: tài sản
ngân hàng và khả năng chi trả nợ, thu nhập, cổ tức, sở hữu, hoạt động tỷ giá ngoại tệ….
Việc kiểm tra sẽ giúp những nhà quản lí kiểm soát được việc ngân hàng có đủ số vốn như yêu cầu vốn có
tuân thủ không, hạn chế nắm giữ những tài sản rủi ro, và hoạt động của ngân hàng nhằm hạn chế tình trạng
cố ý làm liều.
Kiểm tra ngân hàng sử dụng tỷ lệ CAMELS:
- Vốn lớn, chất lượng tài sản;
- Quản lí;
- Lợi nhuận;
- Tính thanh khoản và
- tính nhạy cảm đối với rủi ro thị trường.
4. Đánh giá quản trị rủi ro
Các loại rủi ro:
Bốn yếu tố của một hệ thống quản trị rủi ro tốt được đánh giá để đưa ra tỷ lệ quản trị rủi ro.
- Chất lượng giám sát được cung cấp bởi ban giám đốc và trưởng bộ phẩn quản lí (kiểm toán nội bộ).
- Sự tương thích của các chính sách là hạn chế đối với tất cả các hoạt động mà có rủi ro đáng kể.
nó có những tác động tích cực. Thực tế, chính phủ cũng thu hẹp dần việchỗ trợ trong việc hạn chế cạnh tranh
ở các nước công nghiệp hóa trong những năm gần đây.
III. Phản đối sự điều tiết của chính phủ
Lý thuyết điều tiết hệ thống tài chính cùa chính phủ đã bộc lộ những điểm yếu của nó như sau:
Sự điều tiết bác bỏ hệ thống Laissez Faire (hệ thống tự do cạnh tranh)
Sự điều tiết tạo ra hiện hiện cố ý làm liều
Quá trình điều tiết thì có vẻ thu hút những người sảm xuât.
Sự điều tiết tạo ra chi phí tuân thủ cho người sản xuất.
Tính bắt buộc của luật lệ làm tăng chi phí thi tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường.
1. Hệ thống tự do cạnh tranh:
Trong nền kinh tế ngày càng mở rộng thì tự do thuơng mại là giải pháp tối ưu cho thị trường. Do đó tất cả
những sự điều tiết ràng buộc của chính phủ là không hiệu quả là cần phải xóa bỏ những rào cảng này.
Có vô vàng minh chứng cho rằng khu vực ngân hàng hoạt động tự do vần có thể ổn định.
Kinh tế ngân hàng tự do tự than nó sẽ tiến hóa theo sự điều tiết của thị trường. nền kinh tế tự than nó không
có những khuyết điểm như: thông tin bất cân xứng, tâml lí ỷ lại, vấn đề lý thuyết người chủ,….Các trung
gian tài chính tự lọc thải những vấn đề trên và trở nên hiệu quả hơn, bao gồm cả việc giảm chi phí.
2. Tâm lý ỷ lại:
- Là kết quả của việc can thiệp vào hệ thống tài chính của nhà nước thông qua Ngân Hàng Trung
ương. Ngân hàng TW đóng vai trò như người cho vay cuối cùng, là cứu cánh cho những ngân hàng
sắp phá sản. Các ngân hàng ỷ lại dù có thế nào đi nữa thì cũng có sự cứu giúp của ngân hàng nhà
trung ương nên các ngân hàng cứ lao vào những hoạt động rủi ro.
- Người cho vay cuối cùng luôn luôn bảo vệ cho các ngân hàng không bỉ rơi vào phá sản, đảm bảo các
khoản vay của ngân hàng phải được chi trả cũng như tính thanh khoản cùa ngân hàng.
- Các ngân hàng thích lao vào những hoạt động rủi ro để kiếm lãi cao. Họ luôn an tâm vì có sự bảo
lãnh cùa chính phủ.
25