tài liệu kiến thức chung- nội dung quản lý nhà nước về kinh tế- thi công chức nhà nước- - Pdf 22

Sinh viên Hành chính: wWw.Hanhchinh.Com.VN
BÀI SOẠN ÔN THI TỐT NGHIỆP
MÔN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
Chương I
Câu 1: Mô tả đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Nêu ví dụ về những nhược
điểm của kinh tế thị trường ở Việt Nam. Nhà nước ta cần tập trung giải quyết những
vấn đề gì để khắc phục nhược điểm của kinh tế thị trường?
I. Kinh tế thị trường là là một mô hình kinh tế vận động, phát triển, dựa trên cơ sở
các quy luật của thị trường, trong đó quan hệ hàng hoá - tiền tệ trở thành phổ biến và bao
quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành
theo cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường là cơ chế vận hành khách quan của nền kinh tế, ở
đó các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường phát huy tác dụng, trước hết, là quy
luật giá trị, quy luật này đòi hỏi việc sản xuất hàng hoá phải trên cơ sở hao phí lao động xã
hội cần thiết và trao đổi phải bình đẳng, ngang giá. Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh
phải tuân thủ quy luật này mới có thể tồn tại và phát triển. Thứ hai là quy luật cung cầu,
quy luật này biểu hiện quan hệ giữa cung và cầu thông qua giá cả, nó tác động trực tiếp
đến giá cả và phương thức sản xuất, tiêu dùng của xã hội. Thứ ba là quy luật cạnh tranh,
quy luật này đòi hỏi hàng hoá sản xuất ra phải có chất lượng tốt hơn, chi phí thấp hơn, thái
độ phục vụ văn minh hơn để nâng cao khả năng cạnh tranh so với các hàng hoá khác cùng
loại.

Một nền kinh tế được gọi là kinh tế thị trường phải có 6 đặc trưng chủ yếu sau:
1. Thứ nhất, là quá trình lưu thông vật chất từ khâu này đến khâu khác trong hệ
thống các khâu của quá trình sản xuất và từ sản xuất đến tiêu dùng đều được thực hiện chủ
yếu bằng phương thức mua - bán. Sở dĩ có sự luân chuyển vật chất trong nền kinh tế là do
có sự phân công chuyên môn hoá trong sản xuất sản phẩm xã hội ngày càng cao, bên cạnh
đó, còn do có sự dư thừa sản phẩm ở doanh nghiệp này, ngành này nhưng lại thiếu sản
phẩm ở doanh nghiệp khác, ngành khác và ngược lại. Một nền kinh tế được gọi là nền
kinh tế thị trường khi tổng lượng mua bán vượt quá nữa tổng lượng vật chất của xã hội.
2. Thứ hai, người trao đổi hàng hoá phải có quyền tự do nhất định khi tham gia trao
đổi trên thị trường, được thể hiện trên 3 mặt sau: tự do lựa chọn nội dung trao đổi, tự do

II. Những ưu điểm, nhược điểm của nền kinh tế thị trường Việt Nam:
1. Ưu điểm của nền kinh tế thị trường, đó là:
+ Năng động và thích ứng cao với đòi hỏi của thị trường, đáp ứng được các nhu cầu
có thể thanh toán được của xã hội một cách tự động mà không một bộ máy hoạch định nào
có thể thay thế được;
- 2 -
+ Huy động tối đa mọi tiềm năng của xã hội;
+ Tạo ra động lực mạnh mẽ để thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp đạt hiệu quả
cao và thông qua phá sản tạo ra cơ chế đào thải các doanh nghiệp yếu kém;
+ Phản ứng nhanh nhạy trước các thay đổi trong nhu cầu xã hội và các điều kiện kinh
tế trong nước và quốc tế;
+ Buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên học hỏi lẫn nhau, hạn chế các sai lầm
trong kinh doanh diễn ra trong thời gian dài và trên qui mô lớn;
+ Tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ - kỹ thuật
làm cho nền kinh tế năng động và đạt hiệu quả cao.
2. Nhược điểm của nền kinh tế thị trường:

Nền kinh tế thị trường tuy có nhiều ưu điểm nhưng nó không phải luôn hoàn hảo, mà
bản thân nó chứa đầy những mặt trái, những nhược điểm rất cơ bản. Và cũng chính vì
những khuyết tật này mà nó làm cho kinh tế thị trường chứa đựng cả những yếu tố đi
ngược chiều với mục tiêu mà chúng ta đang hướng tới. Những khuyết tật, mặt trái của
kinh tế thị trường được thể hiện ở các nội dung sau:
+ Động cơ lợi nhuận dễ đẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật như kinh doanh lừa
đảo, làm hàng giả; tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị tàn phá, huỷ hoại 1 cách
nghiêm trọng và lan rông; tham nhũng, hối lộ, tệ nạn xã hội, thương mại hoá các giá trị
đạo đức và đời sống tinh thần;
+ Kinh tế thị trường tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, dẫn đến phân
hoá giàu nghèo ngày càng tăng.
+ Do theo đuổi lợi ích cá nhân tối đa, nên lợi ích chung của xã hội không được chăm
lo, nhiều trường hợp các nhà kinh doanh có thể đưa vào sản xuất những sản phẩm đem lại

đó các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường phát huy tác dụng, trước hết, là quy
luật giá trị, quy luật này đòi hỏi việc sản xuất hàng hoá phải trên cơ sở hao phí lao động xã
hội cần thiết và trao đổi phải bình đẳng, ngang giá. Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh
phải tuân thủ quy luật này mới có thể tồn tại và phát triển. Thứ hai là quy luật cung cầu,
quy luật này biểu hiện quan hệ giữa cung và cầu thông qua giá cả, nó tác động trực tiếp
đến giá cả và phương thức sản xuất, tiêu dùng của xã hội. Thứ ba là quy luật cạnh tranh,
quy luật này đòi hỏi hàng hoá sản xuất ra phải có chất lượng tốt hơn, chi phí thấp hơn, thái
độ phục vụ văn minh hơn để nâng cao khả năng cạnh tranh so với các hàng hoá khác cùng
loại.

Một nền kinh tế được gọi là kinh tế thị trường phải có 6 đặc trưng chủ yếu sau:
- 4 -
1. Thứ nhất, là quá trình lưu thông vật chất từ khâu này đến khâu khác trong hệ
thống các khâu của quá trình sản xuất và từ sản xuất đến tiêu dùng đều được thực hiện chủ
yếu bằng phương thức mua - bán. Sở dĩ có sự luân chuyển vật chất trong nền kinh tế là do
có sự phân công chuyên môn hoá trong sản xuất sản phẩm xã hội ngày càng cao, bên cạnh
đó, còn do có sự dư thừa sản phẩm ở doanh nghiệp này, ngành này nhưng lại thiếu sản
phẩm ở doanh nghiệp khác, ngành khác và ngược lại. Một nền kinh tế được gọi là nền
kinh tế thị trường khi tổng lượng mua bán vượt quá nữa tổng lượng vật chất của xã hội.
2. Thứ hai, người trao đổi hàng hoá phải có quyền tự do nhất định khi tham gia trao
đổi trên thị trường, được thể hiện trên 3 mặt sau: tự do lựa chọn nội dung trao đổi, tự do
lựa chọn đối tác trao đổi và tự do thoả thuận giá cả trao đổi theo cách thuận mua vừa bán.
3. Thứ ba, hoạt động mua bán được diễn ra 1 cách thường xuyên, ổn định trên cơ sở
1 kết cấu hạ tầng tối thiểu đủ để việc mua bán diễn ra thuận lợi, an toàn.
4. Thứ tư, các đối tác tham gia trong nền kinh tế thị trường đều theo đuổi lợi ích của
mình, đó chính là lợi nhuận, lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế
nhưng không được xâm phạm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác và của cộng đồng.
5. Thứ năm, kinh tế thị trường luôn gắn với cạnh tranh, hay nói cách khác, cạnh tranh
là linh hồn của nền kinh tế thị trường, đó là động lực thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế và xã hội,
nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có lợi cho người tiêu dùng.

trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
+ Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách
phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục , giải quyết tốt
các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu
theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng với các
nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.
+ Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền
kinh tế của nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Từ những quan điểm trên, chúng ta thấy rằng giải phóng mạnh mẽ và không ngừng
phát triển sức sản xuất là cơ sở để nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân (hiện
nay là 600 USD/đầu người/năm phấn đấu đến năm 2010 là 1.000 USD/đầu người/năm) và
giảm khoảng cách giàu nghèo, rút ngắn mức độ phân hoá giàu nghèo, đồng thời là điều
kiện để thúc đẩy kinh tế phát triển, với tốc độ tăng trưởng (GDP) bền vững, có cơ cấu kinh
tế hợp lý, cân đối với nguồn lực đất nước. Bên cạnh phát triển kinh tế, phải thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội, phát huy dân chủ, tạo môi trường tự do kinh doanh theo pháp luật
và trong khuôn khổ của pháp luật, đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia trên
lĩnh vực kinh tế.
- 6 -
Đảng ta khẳng định quan điểm phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (bao gồm cá thể, tiểu
chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) và nhiều
loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh. Về cơ chế quản lý, chịu sự điều tiết song hành của
các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường và chịu sự quản lý ở tầm vĩ mô
của nhà nước. Về hình thức phân phối, thực hiện phân phối theo lao động (người lao động
được thụ hưởng tương xứng với công sức đóng góp của mình), phân phối theo tỷ lệ tài sản
và vốn góp, phân phối thông qua quỹ phúc lợi xã hội.
Phát triển lực lượng sản xuất của nền kinh tế đạt trình độ hiện đại, phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, đây là tất yếu của mọi quốc gia khi tham gia kinh tế thị trường.
Ngay trong bản thân mỗi đơn vị, doanh nghiệp phải thực hiện tổ chức sản xuất 1 cách tiên
tiến theo hướng chuyên môn hoá, hợp tác hoá, liên hợp hoá và bằng việc không ngừng

đó, không có nghĩa là nhà nước nắm tất cả, can thiệp vào tất cả mọi hoạt động kinh tế của
toàn xã hội, mà trái lại nhà nước nhà nước chỉ nắm những lĩnh vực, những khâu then chốt,
thực hiện những công việc quan trọng nhất mà thị trường và nhân dân không làm được,
nhà nước tiến hành kiểm tra, giám sát, định hướng kinh tế cho các thành phần kinh tế
trong xã hội, nhà nước chỉ thực hiện quản lý ở tầm vĩ mô.
Câu 3: Ưu nhược điểm của nền kinh tế thị trường. Nhà nước cần tập trung giải
quyết những vấn đề gì?
I. Những ưu điểm, nhược điểm của nền kinh tế thị trường:
1. Ưu điểm của nền kinh tế thị trường, đó là:
+ Năng động và thích ứng cao với đòi hỏi của thị trường, đáp ứng được các nhu cầu
có thể thanh toán được của xã hội một cách tự động mà không một bộ máy hoạch định nào
có thể thay thế được.
+ Huy động tối đa mọi tiềm năng của xã hội.
+ Tạo ra động lực mạnh mẽ để thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp đạt hiệu quả
cao và thông qua phá sản tạo ra cơ chế đào thải các doanh nghiệp yếu kém.
+ Phản ứng nhanh nhạy trước các thay đổi trong nhu cầu xã hội và các điều kiện kinh
tế trong nước và quốc tế.
+ Buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên học hỏi lẫn nhau, hạn chế các sai lầm
trong kinh doanh diễn ra trong thời gian dài và trên qui mô lớn.
+ Tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ - kỹ thuật
làm cho nền kinh tế năng động và đạt hiệu quả cao.
2. Nhược điểm của nền kinh tế thị trường:
Nền kinh tế thị trường tuy có nhiều ưu điểm nhưng nó không phải luôn hoàn hảo, mà
bản thân nó chứa đầy những mặt trái, những nhược điểm rất cơ bản. Và cũng chính vì
những khuyết tật này mà nó làm cho kinh tế thị trường chứa đựng cả những yếu tố đi
ngược chiều với mục tiêu mà chúng ta đang hướng tới. Những khuyết tật, mặt trái của
kinh tế thị trường được thể hiện ở các nội dung sau:
- 8 -
+ Động cơ lợi nhuận dễ đẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật như kinh doanh lừa
đảo, làm hàng giả; tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị tàn phá, huỷ hoại 1 cách

nạn tham nhũng, lãng phí, cạnh tranh không lành mạnh, hàng lậu, hàng giả ).
Câu 4: Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế. Từ
thực tế chứng minh vai trò của nhà nước ngày càng quan trọng trong quá trình
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN.
I. Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế:
Nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế bởi các lý do sau:
a. Tính giai cấp trong kinh tế và bản chất giai cấp của nhà nước.
Nhà nước là sản phẩm của xã hội có phân chia và đối kháng giai cấp, nó được giai
cấp thống trị về kinh tế sinh ra để bảo vệ quyền lợi kinh tế của giai cấp thống trị đó. Nói
cách khác, nhà nước có sứ mạng và nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị về kinh
tế.
Tính giai cấp trong kinh tế thể hiện ở vị thế của giai cấp đó đối với tư liệu sản xuất,
vị thế trong quản lý sản xuất, cơ sở vật chất, vị thế trong phân chia lợi ích kinh tế. Theo
đó, trong nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người làm công,
không có tư liệu sản xuất, ở vị trí bị quản lý và bị bóc lột; và giai cấp tư sản, những chủ sở
hữu về tư liệu sản xuất, quản lý, phân phối lợi nhuận và bóc lột. Vậy giai cấp chỉ hình
thành trong kinh tế và cuộc đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giành 3 vị thế trong kinh
tế.
Kết hợp 2 mặt vấn đề, ta thấy trong kinh tế có đấu tranh giai cấp, nhà nước là 1 công
cụ của giai cấp. Nhà nước không thể đứng ngoài cuộc đấu tranh giai cấp mà phải tham gia
vào mới thể hiện hết vai trò công cụ của mình.
b. Tính mâu thuẫn gay gắt về lợi ích trong lĩnh vực kinh tế:
Trong nền kinh tế thị trường chứa đựng những mâu thuẫn cơ bản, đó là những mâu
thuẫn giữa các doanh nhân với nhau, mâu thuẫn giữa chủ với thợ trong các doanh nghiệp
có bóc lột lao động và mâu thuẫn giữa giới sản xuất kinh doanh với toàn thể cộng đồng.
Những mâu thuẫn cơ bản này có tính phổ biến, thường xuyên vì nó động chạm đến tất cả
mọi người không trừ một ai, vì khi tham gia vào kinh doanh, từ doanh nhân đến người lao
động, người tiêu dùng đều có va chạm với nhau về kinh tế. Hơn nữa những mâu thuẫn đó
còn mang tính căn bản, vì là mâu thuẫn sinh tồn liên quan đến sự sống chết của con người.

trong hay ngoài nước, tự thân nhà doanh nghiệp không dể tìm, do vậy nhà nước là 1 chỗ
dựa quan trọng cho các nhà doanh nghiệp.
Môi trường an toàn là an toàn cho tính mạng và tài sản của doanh nhân, chỉ có nhà
nước mới là người bảo vệ tốt nhất. Hơn nữa môi trường an toàn là môi trường không có
chiến tranh, không có tội phạm hình sự, ngăn ngừa được thiên tai hay dự báo để phòng
tránh thiên tai. Sự an toàn này trừ nhà nước không ai tạo ra được cho doanh nhân.
- 11 -
d. Sự có mặt của kinh tế Nhà nước trong kinh tế quốc dân, đây là lý do trực
tiếp nhất khiến Nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế nhà nước bao gồm tài nguyên quốc gia, dự trữ quốc gia về tiền, vàng bạc, đá
quý và vật tư, kết cấu hạ tầng, toàn bộ vốn nằm trong các doanh nghiệp. Nhà nước cần có
kinh tế riêng của mình để thực hiện kích thích hay cưỡng chế kinh tế, nhà nước cần có lực
lượng kinh tế làm công cụ quản lý xã hội khi các công cụ khác tỏ ra bất cập trong 1 số
trường hợp nhất định. Nhà nước cần có lực lượng kinh tế riêng, cụ thể là các doanh nghiệp
nhà nước để sản xuất và cung ứng những hàng hóa, dịch vụ mà khu vực tư nhân không
làm được. Hơn nữa nhà nước cần có thực lực kinh tế để thực hiện chính sách xã hội.
Kinh tế nhà nước là những vật cụ thể phải cần có con người cụ thể đứng ra quản lý,
vì nhà nước là 1 phạm trù trừu tượng. Mà khi giao cho những nhóm người cụ thể quản lý
sẽ dẫn đến 2 nguy cơ là: công sản có thể bị lợi dụng để mưu lợi tư, bị tham ô lãng phí,
người được nhà nước ủy thác quản lý có thể không đủ khả năng làm cho đơn vị của mình
thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước đặt ra cho kinh tế nhà nước.
Xuất phát từ những lý do đó mà nhà nước phải quản lý đối với kinh tế.
II. Chứng minh vai trò của nhà nước ngày càng quan trọng trong quá trình
chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN.
Hiện nay, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một quá trình khách
quan, hợp quy luật và là một nội dung cơ bản của công cuộc đổi mới ở nước ta. Đây là
một quá trình khó khăn và phức tạp vì phải đổi mới cả cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, tổ
chức bộ máy quản lý và con người, đổi mới tư duy, phong cách, và lối sống cũ đã ăn sâu
vào từng con người. Do đó, đổi mới thành công hay không lại phụ thuộc vào sự lãnh đạo

+ Trong xã hội, thuộc tầm điều chỉnh của Nhà nước có rất nhiều quan hệ, đó là quan
hệ quốc gia với quốc tế, quan hệ phân công và hợp tác nội bộ nền kinh tế quốc dân, quan
hệ phân công hợp tác theo lãnh thổ nội bộ quốc gia. Để điều chỉnh các quan hệ này, nhà
nước phải định hướng phát triển chung cho toàn xã hội thông qua công tác xây dựng
đường lối, chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, qui định thiết kế chất
lượng sản phẩm và dịch vụ, định hướng cụ thể cho các doanh nhân trong việc phát triển sự
nghiệp sản xuất kinh doanh của họ. Mục tiêu điều chỉnh của nhà nước là hiệu quả tối đa.
Trong chức năng này nhà nước xuất phát từ lợi ích của tất cả mọi doanh nhân, của toàn xã
hội.
+ Điều chỉnh các hành vi phân chia lợi ích.
Trong lĩnh vực kinh tế có các quan hệ lợi ích, đó là: quan hệ trao đổi hàng hóa. Nhà
nước điều chỉnh quan hệ này nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên tham gia quan
hệ; quan hệ phân chia lợi ích trong các công ty; quan hệ tiền công, tiền lương, nhà nước
điều chỉnh quan hệ này nhằm giữ cho quan hệ được thực hiện công bằng, văn minh, hợp
lý, hợp tình, bảo vệ quyền lợi chính trị của Đảng cầm quyền; quan hệ đối với công quỹ
quốc gia.
Để thực hiện chức năng điều chỉnh các hành vi phân chia lợi ích, Nhà nước cần phải
xây dựng thể chế kinh doanh, trao đổi hàng hoá để can thiệp vào các quan hệ trao đổi hàng
hoá của doanh nhân, xây dựng chế độ tiền công, tiền lương, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã
- 13 -
hội để can thiệp vào các quan hệ thù lao cho người lao động, xây dựng chế độ đóng góp
của công dân vào công quỹ quốc gia như các thể chế về thuế, phí, lệ phí và các loại đóng
góp có tính chất nghĩa vụ khác.
3. Hỗ trợ doanh nhân lập thân, lập nghiệp trên lĩnh vực kinh tế:
Nhà nước là nhân tố không thể thiếu được đối với mọi công dân làm kinh tế, nhà
nước thực hiện chức năng này có ý nghĩa lớn cho sự củng cố nhà nước, tạo nên sự tin
tưởng và biết ơn nhà nước trong lòng dân.
Nhà nước có thể hỗ trợ doanh nhân trên các mặt như hỗ trợ công dân ý chí làm giàu;
hỗ trợ về tri thức cho công dân lập thân, lập nghiệp về kinh tế; hỗ trợ về phương tiện sản
xuất kinh doanh và hỗ trợ doanh nhân về môi trường kinh doanh.

thích ứng với từng lúc, từng nơi, từng loại hàng hóa, dịch vụ (khi nền kinh tế ở giai đoạn
khởi phát, khả năng quản lý của nền hành chính quốc gia còn hạn chế- hình thức trực tiếp
được trọng dụng; khi năng lực kinh tế của khu vực phát triển lên, khả năng quản lý xã hội
của nhà nước vững vàng hơn - phương thức gián tiếp sẽ chiếm ưu thế).
5. Bảo vệ công sản và khai thác công sản như 1 công cụ quản lý:
Công sản là tài sản công, nhà nước là người quản lý và sử dụng, tuy nhiên nhà nước
không trực tiếp mà giao ủy quyền trực tiếp quản lý và sử dụng. Nhà nước thực hiện chức
năng này nhằm bảo vệ công sản đồng thời khai thác nguồn tài sản công.
Khi giao quyền về quản lý trực tiếp và sử dụng chính người được giao quyền này có
thể tham ô, lãng phí đồng thời có các nguy cơ tổn thất tự nhiên. Do vậy công sản cần được
bảo vệ. Bên cạnh đó, nhà nước phải là người sử dụng công sản với tính chất như là 1 công
cụ quản lý, phải làm cho kinh tế nhà nước thực sự là vũ khí lợi hại của nhà nước trong
quản lý nhà nước về kinh tế nói riêng, quản lý xã hội nói chung.
II. Những hạn chế trong công tác quản lý kinh tế của nhà nước, của các cơ quan
quản lý kinh tế của nhà nước.
Từ khi đổi mới đến nay, với chức năng của mình, nhà nước đã kịp thời ban hành và
từng bước đưa vào cuộc sống một hệ thống luật pháp khá đầy đủ theo hướng đổi mới, tạo
khuôn khổ pháp lý cơ bản cho nền kinh tế vận hành và phát triển với tốc độ cao trong một
thời gian dài. Huy động được nguồn lực tài chính khá lớn để chủ động đầu tư phát triển
các lĩnh vực kết cấu hạ tầng cơ bản; chuyển đổi cách thức định hướng, hướng dẫn từ kiểu
trực tiếp trước đây sang kiểu gián tiếp: Nhà nước chủ yếu quản lý kinh tế vĩ mô, tăng
cường sử dụng các chính sách kinh tế như tài chính, tiền tệ. Thực hiện tốt việc điều tiết,
đảm bảo các tiêu chí công bằng xã hội trong điều kiện, trình độ phát triển kinh tế còn thấp.
Bước đầu làm quen và từng bước đổi mới phương pháp kiểm tra, kiểm soát phù hợp với
điều kiện thị trường.
- 15 -
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong quá trình đổi mới, quản lý nhà
nước về kinh tế còn nhiều mặt hạn chế và yếu kém:
+ Thứ nhất, quản lý nhà nước chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới, chưa phát
huy đầy đủ mặt tích cực và hạn chế được tính tự phát, tiêu cực của kinh tế thị trường.

ngành, bảo hộ sản xuất ngành nội địa.
+ Thống nhất hoá, tiêu chuẩn hoá quy cách, chất lượng hàng hoá và dịch vụ, hình
thành hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm để cơ quan có thẩm quyền ban
bố.
+ Thực hiện các chính sách quốc gia trong phát triển nguồn nhân lực, nhiên liệu, trí
tuệ khoa học và công nghệ chung cho toàn ngành.
+ Tham gia xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, pháp qui, thể chế kinh tế theo
chuyên môn của mình để cùng các cơ quan chức năng chuyên môn khác hình thành hệ
thống văn bản pháp luật quản lý ngành.
2. Quản lý nhà nước theo lãnh thổ.
a. Trong quản lý nhà nước theo lãnh thổ thì lãnh thổ kinh tế được hiểu như sau:
+ Lãnh thổ kinh tế là lãnh thổ chứa đựng 1 nhóm các đơn vị kinh tế có quan hệ với
nhau về 1 hay một số mặt nào đó trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Lãnh thổ kinh tế có nhiều cấp, do các đơn vị kinh tế có nhiều mối quan hệ mà mỗi
loại quan hệ lại có tầm quan hệ riêng, rộng hẹp khác nhau. Không có đơn vị công nghiệp
nào của riêng 1 cấp, do riêng 1 cấp quản lý. Mọi đơn vị kinh tế đều bị mọi cấp đồng thời
quản lý nhưng chỉ về 1 vài mặt nhất định nào đó mà thôi.
+ Lãnh thổ kinh tế đồng nhất với lãnh thổ hành chính, tuy trên thực tế không thể
trùng khớp được. Lãnh thổ hành chính lấy dân cư làm chuẩn phân định, có kết hợp với địa
hình, địa vật, hệ thống kinh tế, nhưng lãnh thổ kinh tế có căn cứ khách quan riêng của nó.
Tuy vậy 2 lãnh thổ này không thể tách rời nhau, hơn nữa lãnh thổ kinh tế phải phục vụ
lãnh thổ hành chính xuất phát từ con người là trung tâm.
+ Quản lý nhà nước về kinh tế theo lãnh thổ đồng thời là quản lý nhà nước theo địa
bàn hành chính, đơn vị hành chính lãnh thổ.
- 17 -
b. Các đơn vị kinh tế phải được nhà nước quản lý theo lãnh thổ vì:
+ Trước hết, chúng cần thống nhất hành động khi cùng phục vụ cộng đồng dân cư
theo lãnh thổ sao cho tổng cung và cơ cấu cung phù hợp với tổng cầu và cơ cấu cầu trên
mỗi địa bàn, lãnh thổ. Thông thường, các đơn vị kinh tế đều có 1 địa bàn tiêu thụ sản
phẩm của mình, có 1 cộng động dân cư là khách hàng. Và ngược lại, mỗi cộng đồng dân

đó có thể có những quyết định quản lý phiến diện, kém chuẩn xác.
+ Thứ ba, mọi sự phân công quản lý theo ngành và theo lãnh thổ đều chỉ có thể đạt
được sự hợp lý tương đối vì vẫn có khả năng bỏ sót hoặc chồng chéo. Nếu tách bạch quá
có thể làm cho những chỗ bỏ sót, chồng chéo chậm được phát hiện và xử lý, dẫn đến hậu
quả sẽ trở nên nghiêm trọng hơn.
b. Sự kết hợp quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ được thực hiện như sau:
+ Thực hiện quản lý đồng thời theo cả 2 chiều: Theo ngành và theo lãnh thổ.
+ Có sự phân công quản lý rành mạch cho các cơ quan quản lý theo ngành và theo
lãnh thổ không trùng, không sót.
+ Các cơ quan quản lý nhà nước mỗi chiều thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý
theo thẩm quyền của mình trên cơ sở đồng quản, hiệp quản, tham quản với cơ quan thuộc
chiều kia theo qui định cụ thể của nhà nước.
* Ví dụ minh hoạ:
Câu 7: Nêu khái niệm quản lý theo ngành.
Câu 8: Các phương pháp quản lý kinh tế. Trình bày phương pháp kích thích
kinh tế trong quản lý. Cho ví dụ minh hoạ.
I. Các phương pháp quản lý kinh tế:
Phương pháp quản lý kinh tế là tổng thể các cách thức và biện pháp quản lý có mối
quan hệ hữu cơ với nhau. Trong hoạt động quản lý kinh tế nhà nước có thể và cần phải
thực hiện đồng thời 3 phương pháp chủ yếu, đó là:
+ Phương pháp cưỡng chế.
+ Phương pháp kích thích kinh tế.
+ Phương pháp thuyết phục, giáo dục.
II. Phương pháp kích thích kinh tế.
1. Phương pháp kinh tế là cách tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích
kinh tế để cho đối tượng quản lý lựa chọn phương án hoạt động sản xuát kinh doanh có
hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ.
2. Đặc điểm của phương pháp kinh tế là tác động, điều chỉnh hành vi của chủ thể
kinh tế không phải bằng cưỡng chế, mệnh lệnh hành chính mà bằng lợi ích. Có nghĩa là
- 19 -

6. Những yêu cầu khi thực hiện phương pháp kinh tế:
+ Phải hoàn thiện các đòn bẩy kinh tế, nâng cao năng lực vận dụng các quan hệ hàng
hoá, tiền tệ, quan hệ thị trường.
- 20 -
+ Phải thực hiện sự phân cấp đúng đắn giữa các cấp quản lý theo hướng mở rộng
quyền hạn cho cấp dưới.
+ Đòi hỏi cán bộ quản lý phải có 1 trình độ và năng lực về nhiều mặt.
* Ví dụ minh hoạ:
Câu 9: Hệ thống công cụ quản lý kinh tế. Có thể sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các
công cụ đó như thế nào? Ví dụ thực tế để phân tích cơ chế tác động của 1 công cụ vào
hoạt động của nền kinh tế mà anh (chị) nắm vững.
I. Hệ thống công cụ quản lý kinh tế:
1. Công cụ quản lý nói chung là tất cả mọi phương tiện mà chủ thể quản lý sử dụng
để tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra.
2. Công cụ quản lý của nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương tiện mà nhà
nước sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý kinh tế của nhà nước nhằm đạt được các
mục tiêu đã xác định. Thông qua các công cụ quản lý với tư cách là vật truyền dẫn tác
động quản lý của nhà nước mà nhà nước chuyển tải được ý định và ý chí của mình đến các
chủ thể, các thành viên tham gia hoạt động trong nền kinh tế.
3. Hệ thống công cụ quản lý kinh tế của nhà nước bao gồm các nhóm:
a. Công cụ thể hiện ý đồ, mục tiêu của quản lý:
+ Đường lối
+ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
+ Kế hoạch.
+ Tiêu chuẩn, chất lượng, qui cách sản phẩm.
+ Chương trình, dự án.
b. Công cụ thể hiện chuẩn mực xử sự, hành vi trong các quan hệ kinh tế khi thực
hiện các mục tiêu nói trên bao gồm: Hiến pháp; các đạo luật, các nghị quyết của Quốc hội;
nghị quyết, nghị định của Chính phủ và quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ;
quyết định, thông tư, chỉ thị của các Bộ và cơ quan thuộc Bộ.

có thể loại bỏ được hiện tượng suy thoái hoặc tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế, đảm
bảo sự phát triển ổn định, cân bằng, bền vững.
Giả sử nền kinh tế đang lâm vào tình trạng suy thoái và thất nghiệp, các nhà doanh
nghiệp tư nhân không muốn đầu tư thêm, người tiêu dùng không muốn chi tiêu thêm cho
tiêu dùng. Lúc này để mở rộng tổng cầu, Chính phủ phải tăng chi tiêu hoặc giảm thuế,
nâng cao mức chi tiêu chung của nền kinh tế. Ngược lại, khi nền kinh tế đang trong trạng
- 22 -
thái phát đạt quá mức, lạm phát tăng lên, Chính phủ có thể giảm chi tiêu và tăng thuế, nhờ
đó mức chi tiêu chung giảm đi, sản lượng giảm theo và lạm phát sẽ chững lại.
Như vậy, mục tiêu của chính sách tài chính là nhằm đảm bảo tăng trưởng ổn định.
Trên thực tế bằng chính sách tài chính không chỉ thúc đẩy tăng trưởng mà còn chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực công nghiệp cạnh tranh, duy trì ổn định nền kinh tế bước
vào hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Hai công cụ chủ yếu của chính sách tài chính là thuế và chi tiêu của Chính phủ:
a. Chi tiêu của Chính phủ là từ ngân sách. Chi tiêu của Chính phủ là quỹ tiền tệ quốc
gia, dùng để chi tiêu cho toàn bộ hoạt động chung hàng năm, do Chính phủ quản lý và sử
dụng theo Luật ngân sách nhà nước và kế hoạch phê chuẩn. Chỉ trên cơ sở luật định,
Chính phủ mới được chi tiêu. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luật định về các khoản chi, hạn
mức chi tính theo tỷ lệ trong tổng số, Chính phủ còn có 1 khoản tự do nhất định trong điều
hành ngân sách, cụ thể là trong chi tiêu ngân sách nhà nước, ở góc độ này Chính phủ cần
và có thể phát huy tác dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân.
Khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp cao, tổng cầu ở mức thấp nhất, chi tiêu
của Chính phủ có tác dụng làm cho cầu tiêu dùng của Chính phủ tăng lên, dẫn đến sự gia
tăng tổng chi tiêu của xã hội, tổng cầu tăng làm cho cung lại có cầu thúc đẩy, kinh tế sẽ ra
khỏi suy thoái. Đặc biệt, riêng việc tăng cầu đầu tư sẽ ảnh hưởng tới tổng cầu theo mô
hình số nhân, nhờ đó mà đẩy mức tăng sản lượng đến gần sản lượng tiềm năng.
Khi nền kinh tế ở trạng thái nóng, việc giảm chi tiêu của Chính phủ sẽ có tác dụng
giảm mức chi tiêu chung của toàn xã hội, giảm tổng cầu.
b. Thuế:
Thuế là 1 khoản thu của nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã

làm gia tăng sản lượng và việc làm. Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển quá nóng, cung
về tiền giảm đi, lãi suất trên thị trường tiền tệ tăng lên, từ đó làm giảm chi tiêu của nền
kinh tế, tổng cầu giảm, nền kinh tế thoát ra khỏi tình trạng phát triển quá nóng.
Ngân hàng Trung ương có thể thực hiện điều tiết cung về tiền tệ thông qua 3 công cụ
chủ yếu: lãi suất chiết khấu, dự trữ bắt buộc và thị trường mở.
+ Lãi suất chiếc khấu là công cụ quan trọng để Ngân hàng nhà nước tính lãi đối với
các khoản cho Ngân hàng thương mại vay, nhằm khống chế chất lượng và số lượng tín
dụng của Ngân hàng thương mại. Tuỳ theo nhu cầu hạn chế hay khuyến khích mà lãi suất
chiết khấu cao hay thấp hơn lãi suất ngân hàng đó cho khách vay.
+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ số giữa số lượng phương tiện thanh toán cần vô hiệu hoá
trên tổng số tiền gửi mà Ngân hàng nhà nước qui định nhằm điều chỉnh khả năng thanh
toán và cho vay của Ngân hàng thương mại. Thông qua việc điều chỉnh trực tiếp tỷ lệ dự
trữ bắt buộc Ngân hàng nhà nước tác động cả vào khối lượng và giá cả tín dụng của Ngân
hàng thương mại.
- 24 -
+ Thị trường mở là thị trường tiền tệ của Ngân hàng nhà nước là 1 kênh quan trọng
để Ngân hàng nhà nước có thể can thiệp được vào hoạt động của thị trường tiền tệ. Cụ thể
như sau: muốn ngăn chặn lạm phát, thu hút bớt lượng tiền tệ dư thừa trong lưu thông,
Ngân hàng nhà nước bán các loại chứng chỉ có giá của Chính phủ ra thị trường. Trong
trường hợp này, Ngân hàng nhà nước không chỉ giảm bớt khối lượng tiền ngoài lưu thông
mà còn thu hẹp được khối lượng tín dụng. Ngược lại, cần bơm tiền vào lưu thông cho phù
hợp với mức tăng trưởng của nền kinh tế, hay bù lượng tiền thiếu hụt do lạm phát giá khi
chưa ngăn chặn được, Ngân hàng nhà nước mua lại các chứng chỉ có giá của Chính phủ.
Nhờ vậy, 1 khối lượng tiền được phát hành vào lưu thông để mở rộng tín dụng, thúc đẩy
đầu tư, giảm bớt thất nghiệp.
Chính sách tiền tệ có tác động quan trọng đến tăng trưởng sản lượng về mặt ngắn
hạn, song do tác động đến đầu tư nên nó cũng có ảnh hưởng đến sản lượng tiềm năng về
mặt dài hạn.
Ví dụ: Lãi suất.
Lãi suất là số so sánh giữa số tiền phải trả thêm mà vốn được sử dụng trong 1 khoảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status