i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
============ LƯU VĂN HUY
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI MÔ HÌNH
CHUYỂN ĐỔI TỪ TRỒNG LÚA SANG NUÔI TÔM
Ở TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Ngưới hướng dẫn khoa học : Cố PGS.TS. Lê Tiêu La
: TS. Đỗ Thị Thanh Vinh
NHA TRANG, THÁNG 05-2012
iii
LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn cố thầy giáo PGS.TS Lê Tiêu La và TS Đỗ Thị
Thanh Vinh đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Nha Trang đã truyền đạt các
kiến thức chuyên môn tạo nền tảng về lý luận cho nghiên cứu của tôi. Cảm ơn các cán
bộ Sở NN&PTNT Cà Mau đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập tài liệu liên quan đến
luận văn.
v
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG IX
DANH MỤC CÁC HÌNH X
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT XI
MỞ ĐẦU 1
1.1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3. Đối tượng nghiên cứu 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ CHUYỂN
ĐỔI 4
I.1. Một số khái niệm 4
I.2. Các phương thức nuôi tôm 4
I.3. Bản chất vấn đề chuyển đổi 5
I.3.1 . Các mô hình chuyển đổi trong nông nghiệp 5
I.3.2. Bản chất của vấn đề chuyển đổi trong nông nghiêp 6
I.4. Tình hình NTTS và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 7
I.4.1. Khái quát hiện trạng NTTS tại Việt Nam 7
I.4.2. Tình hình chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp 9
I.5. Thực trạng chuyển đổi khu vực ĐBSCL 10
I.5.1. Chuyển đổi diện tích 10
I.5.2 Chuyển đối theo các hệ sinh thái 10
I.6. Tình hình chuyển đổi từ ruộng lúa sang nuôi tôm tại Cà Mau 13
I.7. Các nghiên cứu trong và ngoài nước 17
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 20
II.1. Điều kiện tự nhiên và môi trường 20
IV.2.3.1. Diện tích nuôi 35
IV.2.3.2. Mật độ thả giống 35
IV.2.3.3. Thiết kế và độ sâu ruộng nuôi, ao nuôi 35
IV.2.3.4. Nguồn nước cấp, cải tạo ao, xử lý nước cấp thoát, gây màu, sử dụng
thuốc 36
vii
IV.4.2.5. Thiết bị phục vụ nuôi tôm 36
IV.2.3.6. Tiếp cận kỹ thuật nuôi qua tài liệu, tập huấn 36
IV.2.4. Vùng quy hoạch 37
IV.2.5. Thị trường đầu vào, đầu ra, xuất khẩu 37
IV.3. Phân tích hiệu quả kinh tế 37
IV.3.1. Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nuôi tôm QCCT 38
IV.3.1.1. Chi phí đầu tư cố định 38
IV.3.1.2. Chi phí lưu động 38
IV.3.1.3. Doanh thu 39
IV.3.1.4. Thu nhập 40
IV.3.2. Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi tôm BTC 40
IV.3.2.1. Chi phí đầu tư cố định 40
IV.3.2.2. Chi phí lưu động 41
IV.3.2.3. Doanh thu 41
IV.3.2.4. Thu nhập 42
IV.3.3. Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi tôm TC 43
IV.3.3.1. Chi phí đầu tư cố định 43
IV.3.3.2. Chi phí lưu động 43
IV.3.3.3. Doanh thu 43
IV.3.3.4. Thu nhập 44
IV.3.4. So sánh một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế các mô hình chuyển đổi 44
IV.4. Hiệu quả xã hội 47
IV.4.1. Tạo việc làm 47
Bảng 12: Chi phí đầu tư cố định mô hình nuôi tôm QCCT 38
Bảng 13: Tổng chi phí đầu tư lưu động mô hình nuôi tôm QCCT 38
Bảng 14: Cơ cấu chi phí đầu tư lưu động nuôi tôm QCCT 39
Bảng 15: Cơ cấu doanh thu sau chuyển đổi mô hình tôm QCCT 39
Bảng 16: Doanh thu mô hình nuôi tôm QCCT 39
Bảng 17: Thu nhập mô hình tôm QCCT 40
Bảng 18: Chi phí đầu tư cố định mô hình nuôi tôm BTC 40
Bảng 19: Chi phí đầu tư lưu động mô hình nuôi tôm BTC 41
Bảng 20: Cơ cấu chi phí đầu tư lưu động nuôi tôm BTC 41
Bảng 21: Cơ cấu doanh thu sau chuyển đổi mô hình tôm BTC 41
Bảng 22: Doanh thu mô hình chuyển đổi tôm BTC 42
Bảng 23: Thu nhập mô hình nuôi tôm BTC 42
Bảng 24: Chi phí đầu tư cố định mô hình nuôi tôm TC 43
Bảng 25: Chi phí đầu tư lưu động mô hình nuôi tôm TC 43
Bảng 26: Doanh thu mô hình nuôi tôm TC 43
Bảng 27: Cơ cấu doanh thu sau chuyển đổi mô hình tôm TC 44
Bảng 28: Thu nhập mô hình tôm TC 44
Bảng 29: So sánh hiệu quả kinh tế một số mô hình nuôi tôm sau chuyển đổi ở
Cà Mau 47 x
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1: So sánh hiệu quả kinh tế trước và sau chuyển đổi 45
TC Thâm canh
CPSX Chi phí sản xuất
XDCB Xây dựng cơ bản
USD Đồng đô la Mỹ
TCX Tôm càng xanh
MH Mô hình
TĐTBQ Tốc độ tăng bình quân
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
CBTS Chế biến thủy sản
QĐ-CTUB Quyết định-Chủ tịch Ủy ban
DT Diện tích
1
MỞ ĐẦU
1.1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, nghề nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) đã phát triển
mạnh mẽ trên khắp cả ba hệ sinh thái nước mặn, lợ và nước ngọt. Diện tích NTTS
tăng nhanh, đến năm 2010 đã đạt trên 1 triệu ha, sản lượng đạt 2,8 triệu tấn; giá trị
kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 4,94 tỷ đồng, trong đó đóng góp của NTTS đạt
trên 65% tổng giá trị. Những thành tựu đã đạt được phải kể đến một phần đóng góp
rất lớn từ chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang NTTS. [1, 2, 3, 4 ,5]
Từ sau khi có Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ
về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu và tiêu thụ sản phẩm
nông nghiệp, việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ đất trồng lúa kém hiệu quả, đất làm
muối, đất vườn và đất hoang hoá khác (bãi bồi ven sông, bãi triều, đất cát) sang
NTTS đã diễn ra mạnh mẽ trên toàn quốc, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng sông
Cửu Long (ĐBSCL). Việc chuyển đổi sang kết hợp NTTS phân theo hệ sinh thái
vùng nước bao gồm hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái mặn lợ. Theo báo cáo
“Đánh giá kết quả thực hiện chương trình phát triển NTTS giai đoạn 2000 - 2005 và
chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm ở tỉnh Cà Mau” sẽ đánh giá được tính ưu
việt và những tồn tại, hạn chế của quá trình chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm ở
tỉnh Cà Mau giai đoạn vừa qua một cách khách quan, khoa học và làm cơ sở cho
việc đề xuất giải pháp phù hợp, hướng nghề nuôi tôm của tỉnh Cà Mau và vùng
ĐBSCL phát triển ổn định, bền vững.
Kết cấu của luận văn gồm 4 chương sau (không kể phần mở đầu và kết
luận).
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn để chuyển đổi
Chương II: Phương pháp nghiên cứu.
Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương IV: Một số giải pháp và đề xuất.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung:
Đánh giá được hiệu quả kinh tế - xã hội và tính ổn định của mô hình chuyển
đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm ở tỉnh Cà Mau làm cơ sở cho xây dựng các chính
sách, chiến lược và quy hoạch phát triển NTTS cũng như phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh và vùng.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Đánh giá được hiệu quả về kinh tế của mô hình nuôi tôm được chuyển đổi
từ trồng lúa ở tỉnh Cà Mau.
+ Đánh giá được hiệu quả về xã hội của mô hình nuôi tôm được chuyển đổi
từ trồng lúa ở tỉnh Cà Mau.
3
+ Đánh giá được hiệu quả về mặt môi trường của mô hình nuôi tôm nghiên
cứu.
+ Đề xuất được các giải pháp phát triển các mô hình nuôi tôm bền vững phù
hợp từng vùng sinh thái trong vùng chuyển đổi.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Các đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm; Những hộ gia đình nằm trong diện
I.1. Một số khái niệm
- Chuyển đổi sử dụng đất.
Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp năng suất thấp là việc
xóa bỏ hay chấm dứt hẳn việc trồng, hay nuôi một đối tượng chuyên canh nào đó
sang nuôi hoặc trồng hoặc chuyên canh một đối tượng khác mang lại hiệu quả kinh
tế cao hơn. [8]
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhằm
khai thác tốt tiềm năng sẵn có ở địa phương, để tăng thêm hiệu quả kinh tế trong sản
xuất nông nghiệp, đáp ứng đòi hỏi bức xúc của đại đa số nông dân đang mong
muốn được đổi đời trên mảnh đất cả đời mình gắn bó. Tuy nhiên, quá trình đó cần
phải được chuẩn bị tốt các khâu và có lộ trình thực hiện một cách căn cơ thì việc
chuyển dịch mới phát triển một cách ổn định, bền vững. [8]
- Hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế thể hiện tổng quát những kết quả khả quan về hoạt động sản
xuất kinh doanh mang lại, được thể hiện bằng tiền và được xác định bằng cách đem
so sánh các kết quả thu được so với chi phí phải bỏ ra để thực hiện nó. [13]
Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) còn được hiểu là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực
và tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định. [13]
I.2. Các phương thức nuôi tôm
Căn cứ vào kỹ thuật nuôi tôm có thể xác định các phương thức nuôi tôm như
sau:
- Nuôi tôm quảng canh cải tiến: nuôi tôm dựa vào tự nhiên (thức ăn tự nhiên,
giống, dòng chảy,…) nhưng có bổ sung thêm giống và thức ăn ở mức thấp. [5]
- Nuôi tôm bán thâm canh: nuôi tôm dựa vào thức ăn bên ngoài (thức ăn tổng
hợp), thả giống với mật độ cao, chủ động trong quản lý hệ thống nuôi (thay nước,
sục khí,…). [5]
- Nuôi tôm thâm canh: Tương tự như nuôi bán thâm canh, nuôi tôm thâm
canh cũng dựa vào thức ăn bên ngoài (thức ăn tổng hợp), thả giống với mật độ rất
tôm
- Phân hệ sinh thái bãi triều
6
+ Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm theo phương
thức nuôi TC.
+ Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm theo phương
thức nuôi BTC.
- Phân hệ sinh thái rừng ngập mặn
+ Mô hình chuyển đổi từ đất rừng ngập mặn sang kết hợp nuôi tôm
I.3.2. Bản chất của vấn đề chuyển đổi trong nông nghiêp
Các mô hình trồng lúa kết hợp nuôi cá, tôm đã phát triển nhiều năm ở một số
nước châu Á, đặc biệt ở Thái Lan. Ở Việt Nam, nhiều khu vực đã ứng dụng mô
hình tôm - lúa trong sản xuất nông nghiệp, kể cả miền Bắc, Trung và Nam bộ, đặc
biệt là ĐBSCL. [18]
Trong nông nghiệp, kinh tế gia đình gắn liền với đất canh tác, sự độc canh
cây lúa mang lại hiệu quả thấp, nền kinh tế gia đình bấp bênh và khó phát triển. Sự
kết hợp nuôi trồng thêm các đối tượng phù hợp phá vỡ thế độc canh sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả kinh tế.
Nuôi thuỷ sản kết hợp với trồng trọt là hệ thống canh tác tổng hợp cần tăng
cường phát triển nhằm cải thiện các vấn đề môi trường. [11]
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), đến năm 2007
cả nước có 65.600 ha ruộng lúa có kết hợp NTTS [3]
So với độc canh con tôm, luân canh tôm-lúa có tính bền vững sinh thái cao
hơn. Tuy nhiên, ảnh hưởng môi trường lớn nhất đang là vấn đề lắng đọng bùn gắn
liền với hình thức nuôi tôm tự nhiên dựa vào trao đổi nước. Mô hình nuôi thả tôm
giống cho thấy tính bền vững về môi trường nhưng còn gặp rủi ro với dịch bệnh và
nguồn giống. Đây là những kết quả nghiên cứu mới được công bố của trường đại
học Sydney, Australia.
Việc trao đổi nước sông vào ruộng trong mùa khô để nuôi tôm dẫn đến lắng
Quyết định số 224/1999/QĐ – TTg ngày 08 tháng 12 năm 1999 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển NTTS thời kỳ 1999 - 2010 với mục
tiêu “Phát triển NTTS nhằm đảm bảo an ninh thực phẩm và tạo nguồn nguyên liệu
chủ yếu cho xuất khẩu, phấn đấu đến năm 2010 NTTS đạt sản lượng trên 2 triệu
tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 2,5 tỷ USD, tạo việc làm và thu nhập cho
khoảng 2 triệu lao động”. Đến năm 2010, diện tích NTTS đã đạt trên 1 triệu ha, sản
lượng 2,8 triệu tấn. Việc phát triển mạnh mẽ NTTS, tăng tỷ trọng sản lượng
8
NTTS/tổng sản lượng thuỷ sản đã giảm áp lực cho khai thác, đặc biệt là khai thác
hải sản ven bờ, góp phần bảo vệ môi trường nguồn lợi.
Phát triển NTTS nước lợ, mặn đã đóng góp quan trọng về giá trị và sản
lượng trong tổng sản lượng NTTS của cả nước. Các hình thức nuôi đa dạng như
nuôi trong ao hồ nhỏ, nuôi lồng bè trên vịnh biển, nuôi luân canh, xen canh với lúa.
Đối tượng nuôi phong phú, trong đó nhiều đối tượng tạo sản phẩm hàng hoá lớn cho
thị trường tiêu dùng nội địa và xuất khẩu như tôm sú, tôm chân trắng, nghêu,
cua,…
Theo Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Chương trình phát triển NTTS giai
đoạn 2001 - 2010, về kinh tế, NTTS là nghề cho hiệu quả cao hơn một số ngành
nghề sản xuất nông nghiệp khác, sản phẩm không chỉ tiêu dùng nội địa mà còn phục
vụ xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước. Nghiên cứu của Lê Tiêu La (2005) đánh
giá tác động tích cực nhất của NTTS là cải thiện mức thu nhập, mức sống của hầu
hết các hộ NTTS và cộng đồng ven biển nói chung. [12, 18]
Về mặt xã hội, NTTS cũng có những tác động tích cực như: Cơ sở hạ tầng
được đầu tư xây dựng, hoàn thiện ở các vùng NTTS, góp phần làm thay đổi diện
mạo nông thôn, nhất là các vùng sâu vùng xa, khu vực ven biển; có sự chuyển dịch
lớn lực lượng khoa học kỹ thuật về các vùng nuôi, tạo công ăn việc làm cho thêm
nhiều lao động, là một giải pháp để xóa đói giảm nghèo hữu hiệu và tạo cơ hội làm
giàu cho nông dân tại địa bàn, đồng thời phát triển NTTS còn góp phần cân bằng
phát triển vùng miền, nâng cao bình đẳng giới thông qua sự tham gia của phụ nữ
Việc chuyển dịch cơ cấu sang NTTS diễn ra mạnh nhất ở ĐBSCL với diện
tích chiếm 82,4% diện tích chuyển đổi cả nước. Năm 2001, khu vực ĐBSCL có tốc
độ chuyển đổi mạnh nhất với 131.889 ha (42,43% cả thời kỳ 1999 - 2005). Đối
tượng NTTS được lựa chọn là tôm Sú, cá Tra, Ba sa và các loại cá truyền thống,
tôm Càng xanh.
Quá trình chuyển đổi từ trồng lúa hiệu quả thấp sang kết hợp NTTS đã làm
tăng diện tích NTTS, tăng sản lượng, giúp việc khai thác hiệu quả tiềm năng diện
tích, nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích. Doanh thu bình quân sau chuyển
đổi ở Hải Dương trung bình đạt 88 triệu đồng/ha, gấp 6,8 lần trồng lúa, ở Vĩnh Phúc
đạt 85 triệu đồng/ha (gấp 5,7 lần trồng lúa), tại Cà Mau nuôi tôm quảng canh cải
tiến lợi nhuận 25 - 30 triệu đồng/ha, nuôi cá Bống tượng lãi 450 -500 triệu đồng/ha.
Tại Thái Bình, hiệu quả chuyển đổi sang NTTS nước ngọt gấp 5-6 lần so với trồng
lúa.
10
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng đã tạo thêm công ăn việc làm
cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo và tạo cơ hội vươn lên làm giàu
cho nhiều hộ gia đình. Đến năm 2005, quá trình chuyển đổi đã góp phần làm tăng số
lao động NTTS lên 2,55 triệu người. Đồng thời, góp phần chuyển đổi một phần
nghề khai thác huỷ diệt ven bờ sang NTTS.
Quá trình chuyển đổi sang NTTS cũng đã xuất hiện một số tồn tại: Tốc độ
chuyển đổi diễn ra nhanh trong khi hạ tầng dịch vụ chưa theo kịp, nhất là thuỷ lợi
phục vụ NTTS; trình độ dân trí vùng sâu vùng xa còn hạn chế nên khả năng tiếp thu
khoa học kỹ thuật yếu; dân nghèo không có khả năng đầu tư và tiếp cận vốn vay để
đầu tư để NTTS; lợi nhuận từ NTTS cao nên một số nơi đẩy nhanh tốc độ thâm
canh hóa, trong khi cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp, dẫn đến môi trường nuôi ô
nhiễm, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng ở một số nơi, một số vùng, gây thiệt hại cho
người nuôi. [4]
Những vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu đánh giá cụ thể, sâu rộng ở
từng vùng và cả nước thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học để có cái nhìn
- Phân hệ sinh thái ruộng nhiễm mặn
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi chuyên tôm theo
phương thức nuôi TC.
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi chuyên tôm theo
phương thức nuôi BTC.
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang chuyên canh tôm
theo phương thức nuôi QCCT.
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi luân canh lúa -
tôm
- Phân hệ sinh thái bãi triều
MH12. Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm theo phư-
ơng thức nuôi TC.
MH13. Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm theo
phương thức nuôi BTC.
- Phân hệ sinh thái rừng ngập mặn
+ Mô hình chuyển đổi từ đất rừng ngập mặn sang kết hợp nuôi tôm
Kết quả diện tích chuyển đổi điều tra tại 13 tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông
Cửu Long từ năm 2000 đến năm 2007 như sau:
12
Bảng 1 Kết quả chuyển đổi diện tích đất sang NTTS từ năm 2000 - 2007
Đơn vị: Ha
TT Danh mục mô hình Diện tích
Tổng diện tích chuyển đổi
376.230
A Vùng sinh thái nước ngọt
67.690
Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi
chuyên tôm theo phương thức nuôi bán thâm canh
48.7103
Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang chuyên
canh tôm theo phương thức nuôi QCCT
98.100
4
Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi luân
canh lúa – tôm
93.060
5
Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm theo
phương thức nuôi bán thâm canh
1.260
6
Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm theo
phương thức nuôi thâm canh
1.820
7 Mô hình chuyển đổi từ đất rừng ngập mặn sang kết hợp nuôi tôm
38.070
8 Các mô hình chuyển đổi khác 27.530
Nhưng loại hình nuôi tôm quảng canh truyền thống vẫn là chủ yếu với hơn 185.252
ha. Đây là loại hình nuôi lạc hậu, năng suất bấp bênh tồn tại nhiều năm qua Cà Mau
chưa chuyển đổi được. Từ đó, năng suất và hiệu quả tôm nuôi ở Cà Mau đạt thấp.
Trong năm 2008, năng suất tôm nuôi bình quân của Cà Mau chỉ đạt 356 kg/ha, thấp
nhất so với các tỉnh trong khu vực.
14
Mô hình sản xuất lúa - tôm đã manh nha hình thành nhiều năm nay trên đồng
đất Cà Mau. Khi mới bắt tay vào thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất,
năm 2001, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau đã phê duyệt quy hoạch bố trí sản xuất
90.000 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang mô hình sản xuất luân canh một vụ lúa -
một vụ tôm. Nhưng do sự hấp dẫn của con tôm quá mạnh, một số nơi nông dân ồ ạt
phá đập đưa nước mặn vào ruộng lúa nuôi tôm làm phá vỡ quy hoạch. [16]
Theo số liệu thống kê, diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh Cà Mau cuối
năm 2000 là 77.000 ha, nhưng chỉ trong nửa đầu năm 2001 với bước chuyển dịch
đồng loạt đã nâng diện tích nuôi tôm của tỉnh lên 202.000 ha. Đến nay diện tích
nuôi tôm trong tỉnh là 264.500 ha. Do diện tích chuyển dịch tăng nhanh, trong khi
sự chuẩn bị về kết cấu hạ tầng phục vụ cho sản xuất chưa đáp ứng nổi; nhất là hệ
thống thủy lợi, thủy nông nội đồng chưa đồng bộ, chưa đáp ứng tốt kịp thời phục vụ
cho sản xuất luân canh lúa - tôm, nên hiệu quả sản xuất lúa - tôm trong những năm
đầu mới chuyển dịch chưa cao. [16]
Năm 2001, toàn tỉnh Cà Mau gieo cấy 26.573 ha diện tích lúa - tôm. Đến
cuối vụ thu hoạch được 26.000 ha, năng suất lúa đạt bình quân 2,9 tấn/ha. Kết quả
này tuy chưa đạt theo mong muốn, nhưng đây được xem là bước khởi đầu khá lý
tưởng, mở ra mô hình sản xuất mới trên đồng đất Cà Mau lúc bấy giờ. Tuy nhiên,
do đây là một mô hình sản xuất mới nên sự hiểu biết về kỹ thuật canh tác của người
nông dân còn hạn chế. Hơn nữa, cùng với sự cuốn hút từ con tôm nên người dân
đầu tư cho nuôi tôm nhiều hơn; đa số người dân không tuân thủ điều kiện bố trí mùa
vụ luân canh lúa - tôm mà cứ thả tôm nuôi gối vụ liên tục trong năm, quay lưng lại
với cây lúa. [16]