Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Trong mấy năm gần đây, kinh tế Việt Nam luôn có sự tăng trưởng cao
và đi kèm với nó là nền kinh tế nước ta luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu
trầm trọng. Chính vì thế việc đảm bảo nguồn năng lượng cho nền kinh tế đang
là một vấn đề nan giải đối với nước ta. Để đảm bảo nguồn năng lượng cho
nền kinh tế đang là một vấn đề nan giải đối với nước ta. Để đảm bảo việc
cung cấp năng lượng cho nền kinh tế, việc xây dựng các nhà máy nhiệt điện
mới đã được đặt ra, song để duy trì sự tồn tại và phát triển đó thì yêu cầu
ngành than cần có sự đầu tư và mở rộng sản xuất. Mỏ Núi Béo là một mỏ lớn
thuộc tập đoàn than - khoáng sản Việt Nam, hàng năm mỏ khai thác một sản
lượng than lớn lên tới gần 1,5 triệu tấn và sản lượng này đã gần đạt công suất
thiết kế của mỏ là 1,5 triệu. Mặt khác tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam
đang thúc tiến dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện có công suất 600MW. Do
đó để đáp ứng nhu cầu trong nước việc mở rộng sản xuất là một nhu cầu tất
yếu và cấp thiết cần được thực thi.
Tuy nhiên việc mở rộng mỏ này cần có sự tính toán cẩn thận vì khai
thác than là một hoạt động có tác động lớn đến môi trường, cũng như đến đời
sống kinh tế - xã hội. Do đó để đảm bảo sự hoạt động và tránh các tác động
xấu đến môi trường khi mở rộng khai thác thúc đẩy em thực hiện đề tài
"Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội môi trường của dự án mở rộng khai thác mỏ
than Núi Béo".
Quá trình nghiên cứu một số câu hỏi được đặt ra:
- Việc mở rộng này có đạt hiệu quả kinh tế xã hội?
- Việc mở rộng khai thác này có tác động đến môi trường như thế nào:
+ Nước
+ Không khí
+ Tiếng ồn
+ Đất
1
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
I. TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC THAN Ở QUẢNG NINH
Quảng Ninh có trữ lượng than lớn nhất nước ta, nếu tính ở độ sâu trữ
lượng ước tính khoảng 3,5 tỷ tấn, cho phép khai thác khoảng 30-40 triệu
tấn/năm và khai thác trên 100 năm nữa. Từ năm 1961 đến nay đã khai thác
trên 260 triệu tấn. Năm 2003, tiêu thụ 16 triệu tấn, năm 2004 sản xuất 25,9
triệu tấn, năm 2005 sản xuất 30 triệu tấn. Trong đó chủ yếu là khai thác lộ
thiên chiếm tới hơn 70%. Vỉa than QN được phân bố ở sườn dãy núi phía Bắc
đường 18A. Có chiều dài trên 150km, chiều rộng khoảng 15km, trên địa bàn
các huyện từ Đông Triều - Uông Bí, Hòn Gai, Cẩm Phả- Cái Bầu, sườn núi
khá dốc. Địa hình phân cắt sâu khá mạnh, tạo lên hệ thống sông suối ngắn.
Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động khai thác than, đặc biệt vào mùa
mưa.
Có thể nói hoạt động khai thác thai tác động môi trường trên nhiều
phương diện, gồm cả các tác động trực tiếp lẫn gián tiếp. Việc khai thác than
có tác động chủ yếu đến môi trường từ các hoạt động như san gạt, nổ mìn,
khai thác, vận chuyển than, sàng tuyển than. Phương pháp sử dụng chủ yếu.
Phương pháp chủ yếu dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự
án mở rộng khai thác mỏ than Núi Béo là phương pháp CBA.
II. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC THÀNH PHỐ HẠ LONG CÓ LIÊN
QUAN TỚI KHU VỰC NÚI BÉO
Mỏ than Núi Béo thuộc địa bàn thành phố Hạ Long, nằm trong khu vực
khai thác mỏ của thành phố thuộc địa bàn phường Hà Lầm, Hà Tu, Hà Trung
và đường vận chuyển ra cảng, cảng tiêu thụ thuộc địa phần phường Hồng Hà.
1. Điều kiện tự nhiên thành phố Hạ Long
Vị trí địa lý:
3
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thành phố Hạ Long có toạ độ địa lý: từ 20
0
2. Hiện trạng môi trường thành phố Hạ Long
4
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trên địa bàn thành phố các hệ thống xử lý nước thải, chất thải trong khu
đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch tuy được quan tâm nhưng
vẫn chưa hoàn thiện và đồng bộ, các khu vực khai thác than, sản xuất vật liệu
xây dựng, hoá chất vẫn chưa có giải pháp bảo vệ môi trường hợp lý, thường
gây ô nhiễm không khí, đất đai, nguồn nước, môi trường biển…
Cụ thể qua kết quả nghiên cứu về ô nhiễm bụi ở thành phố cho thấy:
Bụi lắng tại phường Hồng Hà là 0,01mg/m
3
. Bụi lắng tại nội thị thành
phố Hạ Long (phường Bạch Đằng 0,18mg/m
3
. Tại các khu vực có hoạt động
san lấp mặt bằng và vận chuyển than nồng độ bụi lắng tới 0,04 - 0,08mg/m
3
.
Tiêu chuẩn cho phép có nồng độ giới hạn là 0,03mg/m
3
.
Chất lượng môi trường vùng vịnh Hạ Long:
Ô nhiễm về hữu cơ: còn trong giới hạn cho phép
Ô nhiễm Hyđrô các bua dầu: khi có tầu chở dầu 1 vạn tấn, các xà lan
đến lấy dầu, vịnh Hạ Long bị ô nhiễm nặng, gấp 3 lần đối với môi trường du
lịch. (Giới hạn cho phép về dầu mỏ trong nước biển qui định: môi trường thuỷ
sản là 0,05 mg/lít, môi trường du lịch là 0,3mg/lít).
Ô nhiễm kim loại nặng trong nước biển tại cảng dầu Cửa Lục ở mức
báo động.
trong phường là nước máy. Hệ thống thoát nước thải và nước mặt của khu
Hồng Hà có nhưng đã xuống cấp. Quanh khu vực nhà máy tuyển và bãi thải
đều có mương thoát nước thải nhưng đều bị bùn làm giảm dòng chảy, khả
năng tiêu thoát nước chậm. Rác thải sinh hoạt trong phường do Công ty vệ
sinh môi trường Quảng Ninh thực hiện.
Điều kiện kinh tế - xã hội phường Hà Tu
Một phần khu vực khai thác Hồ Tu, vỉa 11 nằm trong địa phận phường
Hà Tu. Đây là một trong những phương chính của thành phố Hạ Long và có
diện tích đất 1536,3 ha, trong đó đất nông nghiệp là 1,18ha, đất công nghiệp
là 82,68 ha. Là một phường có số dân khá đông. Trong năm 2003 tổng số hộ
6
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dân của phường là 2.949 hộ gia đình với số khẩu là 11.057 người. Cơ cấu
ngành nghề lao động của dân cư gồm: công nhân viên chức, công nhân mỏ,
kinh doanh buôn bán nhỏ. Số người làm việc trong các xí nghiệp tại địa
phương khoảng 4000 người. Thu nhập bình quân của người dân là
400.000đồng/tháng (cao nhất là 4.000.000 đồng/tháng, thấp nhất là
100.000đồng/tháng), số hộ giầu và khá 500 hộ, số hộ nghèo có 05 hộ.
Tuyến đường giao thông chính của tỉnh Quảng Ninh chạy qua địa phạn
phường là đường 18A, các tuyến đường trong khu vực phường chủ yếu là
đường bê tông chiếm 85%, đường cấp phối 5% và đường đất chiếm 10%.
Ngoài đường bộ trong địa phương phường còn có đường sắt nhưng chủ yếu
là sử dụng để vận chuyển than của mỏ than Hà Tu và Tân Lập.
Điều kiện cơ sở hạ tầng phường Hà Tu: Trong khu vực phường có 02
trường học và 02 cơ quan, 01 chợ, 02 nghĩa trang, 01 đình chùa. Hệ thống
nước sinh hoạt trong phường là nước máy. Hệ thống thoát nước thải và nước
mặt của khu Hà Tu có nhưng đã xuống cấp. Trong khu vực có suối Hà Tu đã
được xay kè hai bên bờ suối và nạo vét đá khơi thông dòng chảy, khả năng
tiêu thoát nước nhanh. Rác thải sinh hoạt trong phường do Công ty vệ sinh
mỏ than Núi Béo năm 2005:
Sản lượng khai thác đạt trên 1,5 triệu tấn than, khối lượng tiêu thụ đạt
1,117 triệu tấn, doanh thu đạt 254,871 tỷ đồng. Công ty có 2333 công nhân,
cùng hệ thống mặt bằng văn phòng nhà xưởng rộng lớn.
6. Định hướng khai thác mở rộng
Mỏ than Núi Béo với quá trình khai thác và sản xuất lâu dài, công suất
hiện nay đã gần đạt đến mức thiết kế. Ngoài ra đáp ứng các nhu cầu sản xuất
và tiêu thụ than trong nước ngày càng cao. Việc mở rộng sản xuất là một quá
trình tất yếu.
Công suất của phần mở rộng được xác định phù hợp với "tổng sơ đồ
phát triển ngành than giai đoạn 2001-2010 có xét triển vọng đến 2020" của
8
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tập đoàn than và khoáng sản Việt Nam. Công suất tối đa của mỏ than Núi
Béo là 2 triệu tấn than/năm tương ứng khối lượng đất đá bóc tối đa là 12 ÷ 14
triệu m
3
/năm. Việc mở rộng khai thác tại công trường vỉa 14 và vỉa 11. Dự
kiến khai thác lộ thiên. Tổng khối lượng sản lượng khai thác của 2 vỉa này
khoảng 600.000 tấn/năm tương ứng với khối lượng đất đá bóc tách khoảng
7,2-8,4 triệu tấn đất dá. Việc thực hiện khai thác kéo dài trong 10 năm tạo
công ăn việc làm cho 1000 lao động.
Để thực hiện dự án, mỏ than Núi Béo cần đầu tư các nguồn vốn tài sản
hiện có của công ty và một phần khác vay của ngân hàng đầu tư phát triển với
mức lãi suất là 5,4%/năm.
9
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II
suối chảy qua.
4. Khí hậu khu mỏ
•
Các yếu tố khí tượng:
Mỏ than Núi Béo nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới
gió mùa. Các yếu tố khí tượng ảnh hưởng tác động trực tiếp đến khai thác mỏ.
Trong năm khí hậu phân thành 2 mùa rõ rệt: Mùa khô và mùa mưa.
Các yếu tố về khí tượng của khu vực dự án đo được tại các trạm quan
trắc khí tượng ở Hòn Gai, Cẩm Phả và Cửa Ông được thể hiện như sau:
- Mưa mưa:
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm. Vào mùa mưa khí
hậu thường nắng nóng, mưa rào đột ngột và chịu ảnh hưởng của các cơn bão
từ biển Đông kéo vào. Lượng mưa thay đổi từ 1.250-2.850mm, tập trung vào
tháng 6 đến tháng 9.
Thời kỳ này có đợt mưa kéo dài từ 3-4 ngày với lượng tổng cộng 400-
500mm.
- Lượng mưa nhỏ nhất trong tháng tại các trạm Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa
Ông.
- Lượng mưa trung bình trong tháng tại trạm Hòn Gai: 536,4mm
- Lượng mưa lớn nhất trong tháng tại trạm Hòn Gai: 1.257mm
- Lượng mưa nhỏ nhất trong năm tại trạm Hòn Gai: 1.027mm
Hướng gió Nam và Đông Nam, không khí ẩm ướt, độ ẩm cao, độ ẩm
trung bình từ 60-80%. Nhiệt độ trung bình thay đổi từ 25
0
C - 30
0
C, có những
ngày nhiệt độ lên tới 35
0
C - 37
vỉa 14 Tay phay K thuộc Công ty than Hà Lầm.
II. TÀI NGUYÊN ĐẤT RỪNG, SINH VẬT TRONG RANH GIỚI KHU MỎ
1. Tài nguyên đất
Toàn bộ mỏ than Núi Béo được nghiên cứu thiết kế mở rộng nằm trong
khu vực có diện tích khai trường rộng 650 ha.
2. Tài nguyên rừng, sinh vật
Hiên nay, nguồn tài nguyên rừng và hệ sinh thái ở khu vực mỏ rất
nghèo nàn, cây cối thưa thớt, ít có giá trị, không có thực vật rừng, động vật
rừng quý hiếm thuộc nhóm I và nhóm II theo nghị định số 18/HĐBT ngày 17
tháng 01 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng do việc khai thác tại đây đã được
thực hiện từ thời Pháp thuộc.
Khu vực khai trường của Mỏ than Núi Béo là vùng núi cao trung bình,
có độ dốc địa hình lớn. Trong phạm vi diện tích mỏ được cấp, phần đất phủ
12
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong ranh giới mỏ rất nghèo, phần lớn đất trong ranh giới mỏ chủ yếu là đồi
trọc. Các loại cây cối ở đây thường là bụi cây nhỏ, dây leo thưa thớt, ít có giá
trị sử dụng. Trong diện tích đất do mỏ quản lý chỉ có một số loài cây: Mua
lông, me rừng, chổi xể, cỏ tranh, lách, sậy khô, sim… Nhìn chung đất chỉ
thích hợpvới các cây trồng chủ yếu là bạch đàn, keo tai tượng (hiện trong khu
vực đã trồng 8,5ha bạch đàn, keo tai tượng…)
Tóm lại đất đai ở khu vực các khai trường có độ dinh dưỡng thấp,
không thích hợp để canh tác và trồng rừng, cây ăn quả.
Khai thác tài nguyên khoáng sản mang lại lợi ích về thu nhập quốc dân
và mang lại việc làm cho người lao động, nhưng phát triển ngành công nghiệp
khai khoáng cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khoẻ
con người.
Có nhiều cách phân loại tác động của khai thác tài nguyên khoáng sản
đến môi trường tự nhiên. Hợp lý hơn cả là xếp loại theo từng yếu tố của môi
,
CO…)
Trong quá trình khai thác đá tại mỏ than, các nguồn gây ô nhiễm bụi và
khí thải, tiếng ồn phát sinh từ các nguồn chính sau:
• Khoan nổ mìn
• Xúc và vận chuyển đất đá thải đến bãithải
• Xúc và vận chuyển than nguyên khai đến bãi sàng tuyển than
• Sàng và chế biến phân loại than
• Xúc và vận chuyển than sạch ra cảng tiêu thụ
• Giao thông trong mỏ
• Bãi thải
* Công tác khoan nổ mìn
Việc khoan các lỗ mìn bằng thiết bị khoan đã tạo ra lượng bụi ảnh
hưởng tới người công nhân khoan.
Nổ mìn để làm tơi đất dá là hoạt động không thể thiếu trong khai thác
than. Tại mỏ than, hàng ngày đều thực hiện nổ mìn với khối lượng từ 500-
5000kg trong khoảng thời gian quy định từ 14h00 - 15h00.
Nổ mìn lần 1: Để bắn tơi đất đá ở tầng khai thác tạo điều kiện cho máy
xúc thực hiện xúc tải lên ô tô.
Nổ mìn lần 2: Phá đá quá cỡ để tạo kích thước phù hợp với thiêt bị bốc
xúc. Thông thường nổ mìn phá đá quá cỡ với chỉ tiêu thuốc nổ 0,13 -
0,15kg/m
3
.
Khi nổ mìn ở trên gương tầng gây tiếng ồn và tạo ra đám mây bụi lớn
có khả năng lan xa. Nhưng do việc khai thác than trong khai trường tại mỏ
15
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
như trong một thung lũng do đó bụi nổ mìn sẽ lắng đọng lại trong thời gian
khu vực này. Mức độ ô nhiễm bụi hiện nay vượt tiêu chuẩn cho phép xấp xỉ
1,5 lần.
Bụi than với những hạt bụi nhỏ khi thâm nhập cơ thể qua đường hô hấp
có thể thâm nhập sâu vào phổi gây ra chứng bệnh bụi phổi. Đây là loại bệnh
thường gặp trong công nhân khai thác than.
Nguyên nhân chính gây bụi ở khu vực này là do:
- Nguyên liệu than khô
- Phễu rót sản phẩm không kín
- Đầu băng tải rót sản phẩm không có thiết bị che gió, vì vậy luồng gió
thổi trực tiếp vào than đã sàng và cuốn theo những hạt bụi nhỏ đi xa.
Quan sát trực quan cho thấy, trong phạm vi công trường sàng tuyển,
công nhân là những người trực tiếp chịu ảnh hưởng của loại bụi này.
* Giao thông trong mỏ:
Không kể đến các thiết bị phục vụ khai thác thường xuyên có mặt trên
công trường, hàm lượng bụi chủ yếu được phát sinh từ đường cho các xe vận
chuyển. Do phương tiện đi lại với vận tốc nhất định đã cuốn theo đất, bụi ở
trên đường tạo thành các đám bụi cao từ 5 đến 10 mét và bị đưa đi xe nếu có
gió mạnh.
Qua phân tích trên cho thấy tất cả các khâu công nghệ trong quá trình
khai thác đều tạo bụi.
Tổng hợp tác động của các hoạt động trên tạo ra hình ảnh về một khu
vực khai thác có mức độ ô nhiễm môi trường bụi khác cao. Việc phân tích các
tác động ảnh hưởng đến môi trường khu dân cư xung quanh từ các nguồn
riêng biệt rất khó thực hiện. Điều này đặt ra yêu cầu cần phải phối hợp đề ra
các biện pháp khắc phục ảnh hưởng ô nhiễm môi trường khu vực này.
4. Ảnh hưởng của bụi:
17
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bụi là một tập hợp nhiều hạt vật chất vô cơ và hữu cơ, có kích thước
ra bệnh thiếu máu, giảm hồng cầu và gây rối loạn thận.
Đối với việc khai thác than, tuỳ từng khu vực và thành phần bụi khác
nhau.
Tại khu vực bãi thải: Thành phần bụi chủ yếu là bụi đất đá.
Tại khu vực khai thác: Bụi than và bụi đất đá.
Tại khu sàng chế biến than: thành phần chủ yếu là bụi than
Qua phân tích hàm lượng bụi cho thấy:
* Khu sàng tuyển than kho 3 có nồng độ bụi cao nhất trong toàn khu
vực.
* Hoạt động vận tải than, đất đá làm phát tán bụi vào môi trường lớn
nhất.
* Tất cả các khâu trong hoạt động khai thác ở mỏ Núi Béo đều phát
sinh bụi gây ô nhiễm môi trường không khí.
Chất lượng không khí ở từng khu vực mỏ như sau:
Trong khai trường:
* Tại nơi máy khoan hoạt động nồng độ bụi cao (vượt tiêu chuẩn cho
phép 1,3 lần), mặc dù đã áp dụng công nghệ khoan có phun nước.
* Tại nơi có máy xúc làm việc: Máy xúc làm việc trong điều kiện than
ướt nhưng nồng độ bụi vẫn cao (vượt tiêu chuẩn cho phép 1,76lần).
* Vận tải than, đất đá đã gây phát tán bụi với nồng độ cao (vượt tiêu
chuẩn cho phép 1,3 lần), mặc dù đã được tới nước.
Do khai trường khai thác sâu dưới mực nước biển rất lớn, khu vực khai
thác là một hố sâu do đó toàn bộ bụi đã được lắng đọng tại khu khai trường
khai thác, không ảnh hưởng tới dân cư mà ảnh hưởng đến người lao động trực
tiếp tham gia sản xuất trong các khâu này.
19
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tại bãi thải: Khi ô tô đổ đất nồng độ bụi đo được là lớn nhất, vượt tiêu
chuẩn cho phép. Nhưng do thành phần bụi chủ yếu là bụi lắng và mật độ xe
20
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các kết quả phân tích khí độc khu vực mỏ Núi Béo cho thấy tại các
điêm có xe cơ giới, khí CO đều nằm trong giới hạn cho phép, do việc khai
thác than lộ thiên trên một vùng rộng nên khí thải dễ phát tán ra xung quanh.
Như vậy, chất lượng không khí bị ô nhiễm khí CO ở mức thấp. Việc ảnh
hưởng của khí độc ở mức cho phép, không đáng kể, chưa cần có các biện
pháp để xử lý.
Tại các khu vực đường ra cảng các số liệu đo đạc cho thấy chất độc hại
do thiết bị vận chuyển xảy ra vẫn nằm trong giới hạn cho phép.
1. Nguồn gây ra tiếng ồn: Tất cả các thiết bị tham gia hoạt động trong
quá trình sản xuất như: máy xúc, máy khoan, máy nghiền sàng, ô tô và các
công tác khác như nổ mìn, đổ đất đá thải, than...
2. Ảnh hưởng của tiếng ồn:
Tiếng ồn là tập hợp các âm thanh có cường độ và tần số khác nhau, sắp
xếp không có trật tự, gây cảm giác khó chịu cho người nghe, cản trở con
người làm việc và nghỉ ngơi. Tiếng ồn có một tác động duy nhất và nguy
hiểm là gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, đặc biệt là bộ phận thính
giác.
* Tác động đối với thính giác.
Nếu cường độ âm thanh quá cao sẽ tác động mạnh đến thính giác. Mức
âm 100dB tác động trong khoảng thời gian ngắn gây ảnh hưởng xấu đối với
phần tai trong. Thông thường thính giác bắt đầu ảnh hưởng từ mức độ âm
thanh 90dB trở lên.
* Tác động với thể lực, tâm thần và hiệu quả làm việc của con người:
Tiếng ồn còn ảnh hưởng tới các bộ phận của cơ thể gây rối loạn sinh lý
và bệnh lý như thần kinh, tim mạch, nội tiết. Tiếng ồn có thể gây bệnh tâm
thần, mất trí, điên.
21
8 0.5 110
9 0.25 115
Tiêu chuẩn TCVN 5949 - 1995 quy định mức ồn cho phép ở khu vực
sản xuất xen kẽ khu dân cư trong thời gian từ 6h00 đến 18h00 là 75dBA. Còn
theo TCVN 5948 - 1995 cho phép mức ồn tối đa của xe hạng nặng là 90dBA.
Qua phân tích các ảnh hưởng của tiếng ồn cho thấy mức độ ồn tại mỏ
Núi Béo luôn luôn xấp xỉ hoặc vượt tiêu chuẩn cho phép nhưng kéo dài trong
22
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
suốt thời gian làm việc nên sẽ tác động nhất định đến sức khoẻ của một bộ
phận công nhân khu vực máy nghiền, sàng, khoan. Đặc biệt khu vực nghiền
vừa có nồng độ bụi cao và mức độ tiếng ồn lớn nhất sẽ tác động xấu đến
người lao động ở đây. Tiếng ồn là một trong những yếu tố tác động môi
trường chính của hoạt động mở rộng sản xuất tại mỏ Núi Béo.
Hiện tại các hoạt động gây ồn gồm tất cả các khâu công nghệ, từ khoan,
nổ mìn, bốc xúc, vận tải, đổ thải đất đá, chủ yếu xảy ra trong ranh giới mỏ do
vậy chỉ gây ảnh hưởng cục bộ đến công nhân làm việc tại mỏ. Việc vận
chuyển than qua khu dân cư làm ảnh hưởng tiếng ồn tới dân cư hai bên đường
nhưng do mỏ sử dụng phương tiện vận chuyển đã được kiểm định về tiếng ồn
do đó tiếng ồn tại khu vực này là 75dB đạt tiêu chuẩn cho phép. Với việc nổ
mìn, hiện nay mỏ đã áp dụng nổ mìn dùng phương pháp vi sai từng lỗ và sử
dụng lượng thuốc nổ hợp lý (xác định dưới sự giám sát của dân cho phép nổ 1
đợt nổ là 2000kg) nên việc nổ mìn như không còn ảnh hưởng đến khu dân cư
lân cận.
6. Tác động tới môi trường đất, tài nguyên sinh vật và các hệ sinh
thái
Khi mở rộng khai trường khai thác lộ thiên thì việc mất đi tài nguyên
rừng, sinh vật và hệ sinh thái trong khu vực là điều không thể tránh khỏi.
Trong phần "Tài nguyên đất, rừng" đã nêu lên hiện trạng tài nguyên đất, rừng
cửa mỏ.
6.1. Biến động của các nguồn tài nguyên.
* Tài nguyên đất
Mặt đất là đều dễ nhìn thấy do việc mở rộng mỏ và phát triển các cơ sở
hạ tầng mỏ. Diện tích mỏ Núi Béo đang quản lý 650ha trong đó:
*Diện tích khai thác tre tiếp 186ha
* Diện tích chiếm làm bãi thải ngoài 103ha
* Diện tích chiếm đất cho các công trình phục vụ sản xuất là 78,15ha
24
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
* Diện tích đất còn lại không sử dụng trong đó trồng cây.
* Tài nguyên rừng
Việc mất đát cũng dẫn đến mất tài nguyên rừng trong khu vực. Các dải
rừng thứ sinh sẽ bị cày ủi, vùi lấp dần, ngày càng thu hẹp nhường chỗ cho
diện tích đất trống, đồi trọc ngày càng tăng.Rừng mất đi nhưng phải hàng
chục năm sau mới được phục hồi. Sau khi kết thúc mỏ phải cần tới 20 năm
tiếp theo để phục hồi rừng.
Trong phạm vi quản lý của mỏ trước đây chủ yếu là rừng nhiệt đới và
đồi trọc. Trong quá trình khai thác phần lớn thảm thực vật đã bị phá huỷ. Hiện
nay diện tích còn được phủ bởi thảm thực vật cấp thấp khoảng 25,35ha. Phần
còn lại bị phá huỷ hoàn toàn.
*Tài nguyên nước và hệ thống thuỷ văn trong vùng:
Dự báo tác động của hoạt động khai thác than đến nguồn nước mặt và
nước ngầm như sau:
Suy giảm nguồn nước ngầm trong khu vực:
Mở rộng khai thác than không chỉ gây ra ảnh hưởng đến hạ nguồn mà
còn gây ảnh hưởng cả đến thượng nguồn hệ thống thuỷ văn, làm giảm mực
nước ngầm.
Nguồn nước ngầm ở khu vực này đã bị biến đổi rất lớn do trong khu