BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
********Ω
Ω
Ω********
TRẦN CHÂU PHƯƠNG TUẤN HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT NUÔI,
TÌNH HÌNH BỆNH TRÊN CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878),
NUÔI THỊT TRONG AO ĐẤT TẠI 3 HUYỆN CHÂU PHÚ,
PHÚ TÂN VÀ CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
NUÔI THỊT TRONG AO ĐẤT TẠI 3 HUYỆN CHÂU PHÚ,
PHÚ TÂN VÀ CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Nuôi Trồng Thủy Sản
Mã số: 60 62 70
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Hòa
Nha Trang, Tháng 10 năm 2010 i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là kết quả nghiên cứu nghiêm
ii
LỜI CÁM ƠN
Đề tài nghiên cứu của tôi được hoàn thành với sự giúp đỡ của Ban Quản lý
Dự án Hợp phần SUDA - Chương trình FSPS -II của Bộ Nông nghiệp & phát triển
nông thôn và Ban Quản lý Dự án Thủy sản An Giang về đào tạo nguồn nhân lực
thủy sản, hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững. Tôi xin chân thành cám ơn
chương trình đã giúp đỡ tôi về tài chính trong quá trình học tập và làm đề tài này.
Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban
Lãnh Đạo Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo sau Đại
học Trường Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia khóa Đào
tạo bậc Cao học ngành Nuôi trồng Thủy sản niên khóa 2009-2010.
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo Sư Tiến sĩ Đỗ
Thị Hòa là giáo viên giảng dạy và là giáo viên hướng dẫn tôi trong suốt thời gian
thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến toàn thể Quý Thầy Cô tham gia giảng
dạy các môn học trong chương trình đào tạo sau đại học đã truyền đạt những kiến
thức hữu ích để làm hành trang cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài cũng như
trong công tác sau này.
1.1.2. Về phân bố 4
1.1.3. Về hình dạng và sinh thái. 4
1.1.4. Về dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản 5
1.2. Nghề nuôi cá da trơn trên Thế giới và Việt Nam 6
1.2.1. Nghề nuôi cá da trơn trên thế giới. 6
1.2.2. Tình hình nuôi cá tra ở Việt Nam và ĐBSCL 7
1.3. Tình hình bệnh ở cá da trơn nuôi trên Thế giới và ở Việt Nam 11
1.3.1. Tình hình bệnh trên cá da trơn ở Thế giới 11
1.3.2. Tình hình bệnh trên cá da trơn ở Việt Nam 13
Chương 2 17
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 17
2.2. Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu. 18
2.2.2. Phương pháp chọn mẫu điều tra 18
2.2.3. Phương pháp điều tra. 19
2.2.4. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 19
2.2.5. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài 20
Chương 3 21
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN 21
iv
3.1. Tình hình chung của nghề nuôi cá da trơn (cá tra, basa) ở An Giang 21
3.2. Hiện trạng kỹ thuật nuôi cá tra thịt trong ao đất 22
3.2.1. Qui mô diện tích, số ao của mỗi nông hộ 22
3.2.2. Kết cấu nền đáy và độ sâu mực nước ao. 23
3.2.3. Kỹ thuật cải tạo ao và xử lý nước trước mỗi vụ nuôi. 24
3.2.4. Giống, mật độ cá, thời điểm thả và chu kỳ của một vụ nuôi 29
3.2.5. Thức ăn cho cá tra nuôi thịt trong ao đất và cách cho ăn 33 DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Phân bố số mẫu điều tra ở địa bàn nghiên cứu 18
Bảng 3.1. Tình hình nuôi cá tra trong ao đất tại tỉnh An Giang giai đoạn 2005-2009[6] 21
Bảng 3.2. Diện tích, số ao nuôi của hộ nuôi cá tra 22
Bảng 3.3. Kết cấu nền đáy và độ sâu mực nước ao nuôi cá tra. 23
Bảng 3.4. Kỹ thuật cải tạo ao và xử lý nước trước mỗi vụ nuôi 25
Bảng 3.5. Loại và liều lượng sử dụng các chất diệt trùng 27
Bảng 3.6. Các thông tin về giống và thả giống 30
Bảng 3.7. Thức ăn dùng và cách cho ăn trong nuôi cá tra tại An Giang 33
Bảng 3.8. Kỹ thuật quản lý chất lượng môi trường ao nuôi cá tra thịt 36
Bảng 3.9. Một số bệnh thường gặp trên cá tra nuôi ao tại An Giang (n=120). 38
Bảng 3.10. Tương quan đa biến giữa các biến độc lập ảnh hưởng đến bệnh trên cá nuôi. 47
Bảng 3.11. Việc phơi đáy ao ảnh hưởng đến tỉ lệ % hao hụt 49
Bảng 3.12. Mật độ thả nuôi ảnh hưởng đến tỉ lệ % hao hụt. 50
Bảng 3.13. Số lần hút bùn ảnh hưởng đến tỉ lệ % hạo hụt 52
Bảng 3.14. Diện tích ao nuôi ảnh hưởng đến tỉ lệ % hao hụt. 53
Hình 3.14. Quyết định sử dụng thuốc trong nuôi cá tra thâm canh 45
Hình 3.15. Nguồn thông tin kỹ thuật được dùng trong nuôi cá tra thâm canh 45
Hình 3.16. Thao tác pha thuốc và trộn thuốc vào thức ăn cho cá ăn. 46
Hình 3.17. Mối tương quan giữa phơi đáy cải tạo ao với tỉ lệ % hao hụt của cá nuôi. .48
Hình 3.18. Mối tương quan giữa mật độ giống thả nuôi với tỉ lệ % hao hụt. 49
Hình 3.19. Số lần hút bùn đáy ao ảnh hưởng đến bệnh (tỉ lệ % hao hụt). 51
Hình 3.20. Diện tích ao nuôi ảnh hưởng đến tỉ lệ % hao hụt (bệnh). 52
vii
DANH SÁCH PHỤ LỤC I/ Phiếu phỏng vấn nông hộ. 63
II/ Hiện trạng nuôi và bệnh ở cá tra nuôi thương phẩm trong ao đất tại An giang 77
III/ Một số hình ảnh được ghi nhận: 85
IV/ Danh sách hộ điều tra. 87
MỞ ĐẦU
Tỉnh An Giang có diện tích tự nhiên là 3.406 km
2
, với hệ thống kênh rạch
chằng chịt và có 02 nhánh sông chính là sông Tiền và sông Hậu điều tiết nước cho
toàn vùng với chiều dài 170 km. Đây là vùng đất giàu tiềm năng được thiên nhiên
ưu đãi về nông nghiệp và thủy sản đã tạo cho tỉnh An Giang có lợi thế lớn trong
phát triển nuôi trồng thủy sản. Năm 2004 sản lượng thủy sản nuôi của An Giang đạt
154.675 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu là 128,7 triệu USD chiếm gần 50% tổng
giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh là 260 triệu USD [24].
Trong những năm gân đây, sản lượng cá tra nuôi ở Đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL) tăng liên tục, trong đó An Giang là tỉnh luôn đứng đầu về sản lượng
và kim ngạch xuất khẩu, trong năm 2007 với sản lượng là 216.326 tấn, kế đến là
Đồng Tháp là 200.000 tấn, dự kiến xuất khẩu cá tra đạt khoảng 1,2 tỷ USD vào năm
2008 [1].
Mặc dù nuôi cá tra trong các ao đất là một nghề đã và đang mang lại hiệu
quả kinh tế xã hội lớn cho người dân của địa phương, nhưng việc phát triển nhanh
diện tích nuôi cá tra, cùng với việc sử dụng đa dạng nguồn thức ăn, phương pháp
cho ăn chưa hợp lý đã dẫn đến ô nhiễm môi trường và biến đổi chất lượng nước của
các dòng sông, rạch do chất thải từ thức ăn thừa trong các ao nuôi cá được đổ ra
sông, rạch không qua xử lý và sau đó nguồn nước này lại được cấp lại cho các ao
nuôi cá. Đây là nguy cơ tạo điều kiện cho bệnh xuất hiện ngày càng nhiều và tác hại
do bệnh gây ra cho cá nuôi ngày càng lớn, dẫn đến hiện tượng sử dụng thuốc và hóa
chất trở nên phổ biến, đa dạng và tùy tiện [17].
Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá tra thịt trong ao đất ở An Giang nói
riêng và Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) nói chung đã và đang gặp nhiều khó
khăn; đặc biệt là dịch bệnh trên cá tra nuôi ao hầm thường xuyên xảy ra, cá nuôi
chậm lớn, tỷ lệ sống giảm, chất lượng thịt kém, tồn lưu hóa chất, kháng sinh, đã
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người nuôi. Thiệt hại trong nghề nuôi cá tra thịt
ngày càng lớn, do vậy công tác quản lý bệnh của các ngành các cấp, nhà quản lý,
giả W.Rainboth xếp cá tra nằm trong giống cá tra dầu. Cá tra dầu rất ít gặp ở nước
ta và còn sống sót rất ít ở Thái lan và Campuchia, đã được xếp vào danh sách cá cần
được bảo vệ nghiêm ngặt (sách đỏ). Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và ba
sa (Pangasius bocourti) nuôi ở ĐBSCL khác hoàn toàn với loài cá nheo Mỹ
(Ictalurus punctatus) thuộc họ Ictaluridae.
Cá tra được mô tả lần đầu bởi Sauvage năm 1898 ở Campuchia, tên khoa học
của cá tra có nhiều tên dựa trên các tài liệu của tác giả nước ngoài mô tả các khu hệ
cá lân cận như Thái Lan [68]. Trước đây, cá tra được xếp vào họ Shilbeidae và tên
khoa học của chúng là Pangasius micronemus Bleeker, 1847 [47]; [14]. Ngoài ra, ở
Thái Lan, Indonesia và Malaysia cá tra có tên khoa học khác là Pangasius sutchi
[52].
Theo Nguyễn Văn Thường (2008), tên loài Pangasianodon hypophthalmus
được Rainboth, W.J. sử dụng lần đầu v ào năm 1996 để chỉ định cho loài cá Tra
và sau đó được nhiều tác giả khác sử dụng phổ biến đến nay. Tuy nhiên tên khoa
học Pangasius sutchi thì không còn sử dụng nữa. Tên đặt cho loài này khác nhau
theo các nước trong vùn g nó p hân bố. Ở Campuchia là Treypra (tên Khmer),
Lào là Pa souay kheo, pa suay, Thái Lan là Pla saa wha, pla suey và Việt Nam là
Cá Tra [45].
1.1.1. Về phân loại cá tra
Bộ cá nheo Siluriformes
Họ cá tra Pangasiidae
Giống cá tra dầu Pangasianodon
Loài cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)
Các đồn g danh của loài cá Tra : (synonyms)
4
- Helicop hagus hy pop hthalmus (Sauvage, 1878)
- Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)
0
độ mặn), có thể chịu đựng được nước phèn với pH ≥ 4 (pH dưới 4 thì cá
bỏ ăn, bị sốc), ít chịu đựng được nhiệt độ thấp dưới 15
0
C, chịu nóng tới 39
0
C [42].
Theo Phạm Văn Khánh (2000), môi trường sống thích hợp cho cá tra phát
triển là môi trường nước ngọt, không bị nhiễm mặn, không bị nhiễm phèn, pH từ 7 -
8, nhiệt độ 26 - 30
0
C, oxy trên 3mg/l. Tuy nhiên, cá tra nhờ có cơ quan hô hấp phụ
nên vẫn sống được ở môi trường khắc nghiệt như: đất nhiễm phèn, pH từ 4 - 4,5,
nước bị nhiễm bẩn từ nước thải sinh hoạt, môi trường dưỡng khí thấp với oxy hoà
tan trên 2 mg/l. Cá tra có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng, nhiều
chất hữu cơ, oxygen hòa tan thấp và có thể nuôi với mật độ rất cao [13].
1.1.4. Về dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản.
Theo Dương Nhựt Long (2003), Cá Tra là loài ăn tạp, trong tự nhiên cá ăn
được mùn bã hữu cơ, rễ cây thủy sinh, rau quả, tôm tép, cua, côn trùng, ốc và cá. Cá
nuôi trong ao sử dụng được các loại thức ăn khác nhau như cá tạp, thức ăn viên,
cám, tấm, rau muống thức ăn có nguồn gốc động vật sẽ giúp cá lớn nhanh. Cá tra
có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, cá còn nhỏ phát triển nhanh về chiều dài. Cá
ương trong ao sau 2 tháng đã đạt chiều dài 10 - 12 cm, trọng lượng 14 - 15 gram,
sau một năm cá đạt 0,7 - 1,5 kg, đến 3 - 4 tuổi cá đạt 3 - 4 kg. Khi cá đạt 2,5 kg là
bước vào thời kỳ tích mỡ, cần phải có chế độ nuôi dưỡng thích hợp để cá phát dục
tốt. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng còn tùy thuộc vào mật độ nuôi, chất lượng và số
lượng thức ăn cung cấp [18].
Năm 2007, trong một nghiên cứu khác Dương Nhật Long cho biết, Cá Tra
lớn nhanh khi nuôi trong ao, sau 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng 1 - 1,2 kg/con. Cá
nuôi trong ao từ 10 - 12 tuổi có thể đạt khối lượng 20 - 25 kg/con. Cá Tra không đẻ
thập niên 70 - 80 của thế kỷ [25]
Ở Thái Lan và Campuchia thì cá Pangasius sutchi được nuôi trong ao và bè.
Từ xưa cá Pangasius được nuôi trong những bè nổi bằng tre ở Thái Lan và
Campuchia. Hệ thống nuôi này cũng được áp dụng ở Châu Âu và Mỹ [63]. Trước
đây, nhu cầu về sản phẩm cá catfish đối với người dân Mỹ còn rất hạn chế, sau khi
các chiến dịch tiếp thị của các trại nuôi cá catfish và doanh nghiệp chế biến thủy sản
7
thì nhu cầu đối với các sản phẩm chế biến từ catfish tăng lên. Mỹ là một trong
những nước sản xuất cá da trơn lớn trên thế giới.
Ở Mỹ, cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) là đối tượng được nuôi phổ biến
nhất, một số loài khác cũng được nuôi nhưng với số lượng giới hạn bao gồm Blue
Catfish và Channel-bluehyrid [70] . Nếu như năm 1970 các nhà chăn nuôi ở Mỹ chỉ
sản xuất 2.580 tấn thì năm 2001 con số này tăng lên tới 271.000 tấn, doanh số trên
nửa tỷ đôla, các trại nuôi cá catfish chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Mississippi
tại các bang Mississippi, Alabama, Arkansas và Louisiana [41]. Tuy nhiên, sản
lượng nuôi cá này đang có xu hướng giảm ở các năm gần đây. Năm 2003, sản lượng
đạt mức kỷ lục khoảng 300.000 tấn, nhưng năm 2007 số ước tính chỉ đạt khoảng
200.000 tấn. Nguyên nhân tình trạng này do nông dân đang dần chuyển sang xu
hướng sản xuất các sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn [46].
Trong năm 2005, cá tra của Trung Quốc được nhắc đến rất nhiều trên báo chí
Mỹ. Bang Mississippi và Alabama của Mỹ đã cấm nhập khẩu cá tra từ Trung Quốc
sau khi các kiểm nghiệm cho thấy cá có chứa ciprofloxacin và enrofloxacin và các
chất kháng sinh bị cấm sử dụng ở Mỹ. Bang Louisiana cũng bắt đầu tiến hành kiểm
nghiệm chất kháng sinh trong thủy sản của Trung Quốc. Có thể tìm thấy nguyên
nhân của động thái trên thông qua những số liệu thống kê so sánh trong 2 năm 2005
và 2006, nhập khẩu của Mỹ từ Trung Quốc tăng hơn 5 lần. Trong ba tháng đầu năm
2007, đã có 5.700 tấn catfish Trung Quốc được nhập khẩu vào Mỹ, tăng gấp 6 lần
so với cùng kỳ năm 2006 và bằng khoảng 80 % tổng nhập khẩu catfish từ Trung
Trong giai đoạn phát triển này, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về
cá tra như: nghiên cứu tình hình dịch bệnh, khả năng thích ứng với các điều kiện
môi trường, các loại thức ăn và thành phần thức ăn liên quan đến tỉ lệ sống và tốc
độ tăng trưởng,…. Đây là những nghiên cứu rất có giá trị là cơ sở để nghề nuôi cá
tra phát triển mạnh, đạt được những kết quả như ngày nay. Việc phát triển nuôi cá
tra ở ĐBSCL đã góp phần duy trì nguồn thực phẩm chính yếu, có mặt trên thị
trường quanh năm. Cá tra là đối tượng được nuôi phổ biến trong ao/hầm và nuôi
lồng/bè. Những năm gần đây, nuôi cá tra phát triển mạnh nhằm phục vụ tiêu thụ nội
địa và cung cấp nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu. Đặc biệt từ khi các nhà khoa
học thủy sản hoàn toàn chủ động về giống nhân tạo thì nghề nuôi càng ổn định và
có những bước phát triển vượt bậc.
9
Theo Nguyễn Phú Son (2007), năm 2002 diện tích nuôi cá tra ao hầm là
2.720 ha đến năm 2005 diện tích này đã tăng lên đến 3.548 ha, tăng bình quân 18,6
%. Đến năm 2007 có gần 5.000 ha mặt nước nuôi cá tra, có khoảng 50 nhà máy chế
biến cá tra có công suất thiết kế đạt trên 300.000 tấn/năm [31].
Sản lượng cá tra/basa gia tăng rất nhanh từ 45.000 tấn trong năm 1997 tới
65.600 tấn năm 1998 và lên đến 200.000 tấn trong năm 2003. ĐBSCL chiếm 300.000
tấn trong tổng sản lượng 315.000 tấn cá tra/basa của Việt Nam năm 2004 [3]
Năm 2005, Bộ Thủy sản đã dự kiến có khoảng 1 triệu tấn cá tra/basa sẽ được
sản xuất ở vùng ĐBSCL vào năm 2010. Để đạt được sự phát triển lâu dài cho ngành
thủy sản, đặc biệt là nuôi cá tra/basa, phải cân bằng sự phát triển về sản lượng, thị
trường, môi trường và những dịch vụ khác như cung cấp con giống, thức ăn, thuốc
thú y, tín dụng và mức độ hợp pháp, … Vì vậy, sản lượng cá tra/basa gần đây được
yêu cầu không vượt quá 600.000 tấn vào năm 2010 [4].
Tuy nhiên, năm 2007 đã đạt 1 triệu tấn tăng 34,4 % so năm 2006 [1]. Theo
Nguyễn Văn Ngô (2009) việc nuôi cá tự phát ở vùng ĐBSCL đã vượt ngoài tầm
kiểm soát của ngành chuyên môn và thiếu sự gắn kết giữa người nuôi và nhà doanh
4
+
, H
2
S cao hơn
trong môi trường cho ăn bằng thức ăn công nghiệp. Nguồn nước nuôi chứa nhiều
hợp chất nitơ cũng gây tác hại cho các nguồn nước xung quanh khi thải ra môi
trường ngoài [18]. Ô nhiễm dinh dưỡng sẽ tích tụ nhiều vật chất hữu cơ, gây ra hiện
tượng phú dưỡng hóa và sẽ kéo theo sự nở hoa của các loài tảo, trong đó có những
loài tảo có khả năng gây độc.
Theo tính toán của Trương Quốc Phú (2007), với diện tích ao nuôi 5.600 ha,
sản lượng ước đạt 1,5 triệu tấn thì lượng chất thải ra môi trường khoảng 1 triệu tấn
trong đó 900.000 tấn chất hữu cơ, 29.000 tấn chất nitơ, 9.500 tấn photpho (tính trên
vật chất thô), khoảng 250-300 triệu m
3
nước thải và 8-9 triệu tấn bùn thải [26]
Theo Bùi Quang Tề (2006), tỉ lệ thay nước khoảng 30% trong các tháng cuối
của ao nuôi cá tra có tác dụng giảm chất thải trong ao, cải thiện môi trường nước và
kích thích sự phát triển của cá [38]. Tuy nhiên, hoạt động thay nước của ao nuôi cá
tra thâm canh sẽ đưa một lượng lớn chất thải từ ao nuôi vào môi trường xung quanh
và hiện tại chưa có biện pháp hữu hiệu nào để giảm thiểu tác hại của những chất
thải, bùn thải này. 11
1.3. Tình hình bệnh ở cá da trơn nuôi trên Thế giới và ở Việt Nam.
khác như mang nhợt nhạt, màu da tối (da sậm màu).
12
Dấu hiệu bên trong: dạ dày, khoang bụng và ruột bị sưng phồng và chứa đầy
chất dịch màu vàng nhạt hay đỏ máu (đôi khi là trong suốt). Ngoài ra, sự sinh khí
cũng là một nguyên nhân khiến cho ruột cá bị bệnh có hiện tượng sưng phồng. Gan
đặc trưng bởi những vùng màu sắc nhợt nhạt do sự hoại tử của mô, hay sự xuất hiện
của những đốm đỏ và trắng. Lách, tiền thận và hậu thận mềm, màu sắc nhợt nhạt,
với các điểm xuất huyết. Sự xuất huyết có thể được tìm thấy ở cơ, ruột và mỡ cá.
ESC có các dấu hiệu bệnh tương tự như bệnh ở cá da trơn do chủng VK
gram (-) Edwardsiella tarda, nhưng khác nhau ở vài đặc điểm. ESC được mô tả
trong các báo cáo từ 1979, và đến 1981, chủng vi khuẩn gây bệnh được xác định là
một loài mới thuộc họ Enterobacteriaceae, có quan hệ gần gũi với E. tarda được
đặt tên là E. Ictaluri [61]. Tác nhân gây bệnh ESC ở cá Nheo được xác định là Vi
khuẩn Edwardsiella ictaluri. Đây là chủng Vi khuẩn Gram (-), di động yếu, có dạng
hình que (0.75x1.25µm). E. ictaluri từng được cho là đối tượng gây bệnh bắt buộc
do chỉ có thể tồn tại 1 thời gian ngắn trong nước. Tuy nhiên, các mô tả sau này cho
thấy, loài VK này có thể sống đến 95 ngày trong bùn đáy ao ở 25
o
C [61]. Mặc dù
được xem là tác nhân gây bệnh chủ yếu ở cá Nheo Ictalurus punctatus, tuy nhiên E.
ictaluri cũng được tìm thấy trên các loài cá da trơn khác, đặc biệt các loài thuộc họ
Ictaluridae. E. ictaluri cũng đã được phân lập trên một số loại cá cảnh (green knife
fish, danios and feeder guppies) [51],[64],[67]. Tuy nhiên biểu hiện bệnh ở các đối
tượng này là bệnh liên quan đến thần kinh và VK chỉ có thể được phân lập từ não
[67].
Bệnh Edwardsiella septicaemia xuất hiện đầu tiên trên các loài cá nhiệt đới ở
Châu Mỹ và Châu Á [66], tác nhân gây bệnh là E. tarda. Đặc điểm của E.tarda
được mô tả như sau: là vi khuẩn gram âm, hình que, di động yếu, đường kính
ở vùng da có màu tối, mang sưng, lồi cầu mắt. Nội quan cá bệnh chứa dịch, phù
đục, thận, tụy tạng sưng to, gan có nhiều đốm hoại tử. Theo nghiên cứu của
Ferguson et al, (2001) bệnh mủ gan được ghi nhận xuất hiện đầu tiên trên cá tra
nuôi ở ĐBSCL vào cuối năm 1998 và có tên là BNP (Bacillary necrosis of
Pangasius). Bệnh này gây hại nghiêm trọng về kinh tế trên cá tra nuôi thâm canh
[57].
1.3.2. Tình hình bệnh trên cá da trơn ở Việt Nam
Ngành nuôi trồng thủy sản đã và đang phát triển rất mạnh ở cả nước nói
chung và ở Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng. Người nuôi đã tận dụng mọi
nguồn lực có thể huy động được nhằm đạt hiệu quả cao. Điều này dẫn đến mật độ
nuôi cao, nhưng nguồn thức ăn không đảm bảo dinh dưỡng, khả năng quản lý ao
nuôi thấp, chất lượng nước dùng cho thủy sản ngày càng kém do xả thải từ sinh hoạt
14
và sản xuất, mức độ ô nhiễm môi trường ao nuôi tăng cao … dễ làm cá suy yếu tạo
cơ hội cho mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gây bệnh cho cá nuôi.
Theo Lê Xuân Sinh và Nguyễn Thanh Phương (2005), trong một năm có ba
khoảng thời gian mà cá tra, basa mẫn cảm với điều kiện môi trường. Tháng 10 - 12,
đây là thời gian lũ rút, nông dân làm đất chuẩn bị cho vụ lúa Đông - Xuân và nhiệt
độ nước thường thấp trong thời gian này. Tháng 1 - 4, đây là thời gian có mực nước
thấp trên các con sông cùng với việc phóng thích các chất thải từ việc thu hoạch lúa
Đông - Xuân và chuẩn bị xuống lúa Hè - Thu. Tháng 5 - 6, đây là thời kỳ chấm dứt
mùa khô và bắt đầu mùa mưa, nhiệt độ nước thường cao không tốt cho nuôi trồng
thủy sản [65].
Bệnh do ký sinh trùng
Bùi Quang Tề và ctv (1993) đã thông báo, cá tra và cá basa nuôi ở ĐBSCL
thường bị cảm nhiễm một số bệnh do ký sinh trùng, như: bệnh thích bào tử trùng
Myxococosis, bệnh trùng quả dưa Ichthyophthiriosis, bệnh trùng bánh xe
Trichodinosis, bệnh do Monogenia ký sinh…, thường làm cá chết nhiều ở giai đoạn
sự lại cho rằng trực khuẩn gram âm Hafnia alvei mới chính là tác nhân gây ra bệnh
này [35]. Đến năm 2007, Lý Thị Thanh Loan lại trình bày một báo cáo khoa học về
kết quả nghiên cứu của tác giả này về bệnh đốm trắng ở gan, thận cá tra Việt Nam
và cho rằng trực khuẩn gram dương Clostridium sp mới chính là tác nhân gây bệnh
[17]. Các mâu thuẫn trong kết quả nghiên cứu của các tác giả khác nhau về bệnh mủ
gan thận ở cá tra đã đòi hỏi cần có một hội thảo khoa học về vấn đề này. Cuối năm
2009, vụ khoa học công nghệ (Bộ NN & PTNT) đã tổ chức hội thảo tại Cần Thơ và
các nhà khoa học đã thống nhất rằng, tác nhân chính gây bệnh mủ gan thận ở cá tra
Việt Nam là vi khuẩn Edwarsiella ictaluri. Hiện nay, các đề tài nghiên cứu sản xuất
vaccine để phòng bệnh cho loài cá da trơn này ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn
thử nghiệm.
Theo Phạm Thanh Tuấn (2004), tại Đồng Tháp cá tra nuôi xuất hiện một số
bệnh như sau: Phù đầu, gan thận có mủ, đỏ hầu-mỏ-kỳ-mắt-hậu môn, đốm đỏ, ký
sinh trùng, rong mé, vàng da, xuất huyết đường ruột, nổ mắt, bệnh đường ruột, tuột
nhớt, lở loét, nấm thủy my, trắng mang, trắng đuôi [40].
Đồng bằng sông Cửu Long có 2 mùa khí hậu khác nhau rõ rết trong một năm
(mùa mưa và mùa khô), do vậy một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng bệnh ở cá tra nuôi
ở vùng này cũng có tính mùa vụ. Cao Thị Thanh Tâm (2003), cho rằng từ tháng 7 -
12 cá tra nuôi thường xuất hiện bệnh đốm trắng trên gan, thận; tháng 1-5 xuất hiện