i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này hoàn toàn là kết quả học tập
và
nghiên cứu của chính bản thân. Nếu có gì gian dối, tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm.
Võ
H
oà
n
H
ải
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp vừa qua, tôi đã
nhận được rất nhiều sự đóng góp ý kiến, động viên, giúp đỡ từ phía gia đình, người
thân, thầy cô, bè bạn… Chính vì thế, trong trang đầu tiên của luận văn này, tôi xin
được gởi lời cảm ơn trân trọng và chân thành nhất đến tất cả mọi người.
Đầu tiên, tôi xin được gởi lời cảm ơn đến quí thầy cô khoa Kinh tế trường
Đại học Nha Trang, quí thầy cô thỉnh giảng ở các trường khác, đã truyền đạt những
kiến thức cơ bản và bổ ích trong suốt quá trình học tập theo chương trình cao học
vừa qua. Đặc biệt là cô PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Anh, với vai trò chủ nhiệm khoa
Kinh tế đã theo sát lớp học ngay từ những buổi đầu tiên và đưa ra những lời khuyên
bổ ích, thiết thực cho cá nhân tôi và toàn thể anh chị em của lớp học trong quá trình
học tập và thực hiện đề án tốt nghiệp.
Tiếp đến, tôi xin chân thành cảm ơn thầy T.S. Dương Trí Thảo, giảng viên
hướng dẫn khoa học, đã giúp tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp của mình, với lòng nhiệt
tâm, sự tận tụy đầy trách nhiệm.
Xin chân thành cảm ơn các anh chị em lớp cao học kinh tế 2005 đã cùng sát
cánh, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài
tốt nghiệp. Tôi cũng không quên cảm ơn những cộng tác viên đã giúp đỡ tôi thực
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 9
1.1 SẢN PHẨM DỊCH VỤ VÀ CÁC ĐẶC TÍNH RIÊNG CỦA NÓ 9
1.1.1. Dịch vụ và vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế. 9
1.1.2. Các đặc tính của dịch vụ. 9
1.2. NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA SẢN PHẨM
DU LỊCH 10
1.2.1. Các khái niệm trong hoạt động du lịch 10
1.2.2. Các điều kiện làm nảy sinh nhu cầu du lịch của du khách 12
1.2.3. Những nét đặc trưng của thị trường du lịch 14
1.2.4. Chức năng của thị trường du lịch 14
1.2.5. Các loại hình du lịch 14
1.3. HÀNH VI TIÊU DÙNG DU LỊCH 16
iv
1.3.1. Khái niệm chung về hành vi tiêu dùng và hành vi tiêu dùng du lịch 16
1.3.2. Tiến trình ra quyết định của người tiêu dùng 18
1.3.3. Các lý thuyết chung và mô hình nghiên cứu hành vi tiêu dùng và hành vi
tiêu dùng du lịch. 20
1.3.4. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn và trung thành
hành vi. 25
1.3.5. Các nhân tố kéo và đẩy trong du lịch 31
1.4. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN DU LỊCH VÀ HÀNH VI
DU LỊCH 31
1.4.1. Các nghiên cứu trong nước 31
1.4.2. Các nghiên cứu ngoài nước 33
1.5. CÁC GIẢ THUYẾT VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 33
CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1. QUI TRÌNH NGHIÊN CỨU. 35
2.2. NGHIÊN CỨU SƠ BỘ 37
2.2.1. Nghiên cứu sơ bộ định tính 37
2.2.2. Nghiên cứu sơ bộ định lượng 42
3.5.1. Đo lường các khái niệm 101
3.5.2. Các thông số thống kê mô tả của các biến quan sát 104
3.5.3. Thủ tục phân tích 105
3.5.4. Kết quả 105
3.6. THẢO LUẬN 115
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 118
KẾT LUẬN 118
CÁC HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 119
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT KHÁCH DU
LỊCH NỘI ĐỊA ĐẾN THÀNH PHỐ NHA TRANG 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC 124
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Đề mục
Trang
Bảng 1.1: Trung thành là sự kết hợp giữa thái độ tương đối và trung thành hành vi
(Dick và Basu 1994) 28
Bảng 2.1: Tiến độ thực hiện đề tài 36
Bảng 2.2: Các câu hỏi phỏng vấn sơ bộ 38
Bảng 3.1 : Lượng khách du lịch đến Khánh Hoà đến năm 2008 61
Bảng 3.2 : So sánh khách du lịch đến Khánh Hoà với các tỉnh lân cận và Hà Nội,
TPHCM 62
Bảng 3.3 : Số liệu thực tế và dự báo khách du lịch đến Khánh Hòa (1998 – 2005) 62
Bảng 3.4: Thống kê tình hình du lịch từ năm 2006 đến năm 2008 63
Bảng 3.5: Thống kê thành phần kinh tế từ năm 2006 đến năm 2008 64
Bảng 3.6: Bảng liệt kê các khái niệm nghiên cứu và ký hiệu 74
Bảng 3.7: Bảng liệt kê các khái niệm, chỉ báo và ký hiệu 75
Bảng 3.8: Bảng cơ cấu nghề nghiệp của các đối tượng nghiên cứu 76
Bảng 3.9: Bảng cơ cấu trình độ học vấn của các đối tượng nghiên cứu 76
Bảng 3.34: Ảnh hưởng của các nhóm tham khảo khi đi du lịch đến thành phố
Nha Trang 95
Bảng 3.35: Ảnh hưởng của các nhóm tham khảo khi đi du lịch đến thành phố Nha
Trang theo các nhóm tuổi 97
Bảng 3.36: Phân tích ANOVA về ảnh hưởng của các nhóm tham khảo khi đi du lịch
đến TP Nha Trang theo nhóm tuổi 98
Bảng 3.37: Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ đến việc đi du lịch đến thành phố
Nha Trang 99
Bảng 3.38: Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ đến việc đi du lịch đến thành phố
Nha Trang theo các nhóm tuổi 100
Bảng 3.39: Phân tích ANOVA về chất lượng dịch vụ đến việc đi du lịch đến TP
Nha Trang theo nhóm tuổi 101
Bảng 3.40: Các thông số thống kê mô tả của các biến quan sát 104
Bảng 3.41: Hệ số KMO và Bartlett 105
Bảng 3.42: Ma trận xoay nhân tố ( Pattern Matrix ) và hệ số Cronbach Alpha 106
Bảng 3.43: Các chỉ số thống kê phản ảnh độ phù hợp của mô hình đo lường 109
Bảng 3.44: Các thang đo, trọng số nhân tố và độ tin cậy các thang đo khái niệm . 110
Bảng 3.45: Hệ số tương quan, trung bình và sai số chuẩn của các khái niệm 112
Bảng 3.46: So sánh mô hình 1 nhân tố với mô hình 2 nhân tố 113
Bảng 3.47: Kiểm định các quan hệ cấu trúc trong mô hình 114
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 1.1: Mô hình đơn giản việc ra quyết định của người tiêu dùng 20
Hình 1.2. Mô hình lý thuyết TRA (Fishbein & Ajzen, 1975) 22
Hình 1.3. Mô hình lý thuyết TPB cơ bản (Ajzen, 1985) 23
Hình 1.4: Mô hình sự thoả mãn và lòng trung thành (Olsen, 2002) 30
Hình 1.5: Mô hình đề xuất nghiên cứu 34
Hình 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa 46
Hình 3.2: Kết quả CFA mô hình đo lường tới hạn 108
Hình 3.3: Sơ đồ đường dẫn chuẩn hóa của các quan hệ cấu trúc 115
Mặc dù lý thuyết TPB được sử dụng rất nhiều trong nghiên cứu hành vi
người tiêu dùng, nhưng việc áp dụng lý thuyết này với việc kết hợp với nhân tố chất
lượng dịch vụ trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam đã làm cho nghiên cứu này có
2
một ý nghĩa nhất định. Đồng thời góp phần củng cố và làm hoàn thiện hơn việc vận
dụng lý thuyết TPB vào giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi du lịch của du
khách nội địa đến thành phố Nha Trang. Kết quả nghiên cứu này sẽ đưa ra một số
hàm ý cho các nghiên cứu tương lai.
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Động cơ để đi du lịch là một phạm trù quan trọng của nghiên cứu các tài liệu
về du lịch qua nhiều thập kỷ. Biết được lý do tại sao mọi người đi du lịch và những
nhân tố nào ảnh hưởng đến ý định hành vi của việc lựa chọn điểm đến du lịch sẽ có
ích cho dự định và marketing du lịch. Một mô hình phổ biến về tìm hiểu động cơ du
lịch là mô hình “đẩy và kéo” (Crompton, 1979). Mô hình động cơ du lịch này đã
được trích dẫn nhiều trong các tài liệu du lịch (Crompton, 1979; Uysal và Hagan,
1993). Khái niệm cơ bản của mô hình đẩy và kéo là phân tích sự lựa chọn địa điểm
đi du lịch của một cá nhân với 2 ảnh hưởng. Ảnh hưởng đầu tiên là nhân tố đẩy, nó
đẩy một người nào đó xa nhà và cố gắng bộc lộ ý muốn đến một nơi nào khác mà
không định rõ nơi nào. Ảnh hưởng thứ hai là nhân tố kéo, nó kéo một cá nhân đến
một địa điểm vì sức hấp dẫn của một miền cụ thể, hay nhận thức thực sức thu hút
của điểm đến. Từng nhân tố đẩy và kéo minh hoạ cho việc con người đi du lịch vì
họ bị đẩy bởi những động cơ chủ quan của họ và bị kéo bởi những ảnh hưởng bên
ngoài của nơi đến. Tuy nhiên, những nhân tố đẩy và kéo dẫn dắt được thái độ của
mọi người như thế nào và những thái độ đó dẫn đến ý định hành vi của việc chọn
điểm đến du lịch rất ít được nghiên cứu.
Quá trình ra quyết định đến lựa chọn điểm đến du lịch là một quá trình rất
phức tạp. Để nghiên cứu quá trình này, đề tài nghiên cứu đã áp dụng mô hình TPB
như là cơ sở nghiên cứu để dự đoán tần số của việc chọn điểm đến du lịch. Mô hình
sinh và cần được thỏa mãn. Qua nghiên cứu cho thấy du lịch là một nhu cầu lớn
nhất của con người cần được thỏa mãn sau nhu cầu vật chất. Thành phố Nha Trang
là một thị trường khá lớn đầy tiềm năng với dân số đông, trẻ nhu cầu được đi du
lịch để lấy lại tinh thần sau những ngày làm việc vất vả hay học tập, tìm hiểu, khám
phá những điều mới lạ … là rất lớn. Trong những năm vừa qua thị trường du lịch ở
Nha Trang hầu như ít được quan tâm chú ý nhưng hiện tại các công ty du lịch lữ
hành đã nhận thấy sức hấp dẫn rất lớn của thị trường đầy tiềm năng và đã vào cuộc.
Du lịch là một nhu cầu rất đa dạng và phức tạp của con người đòi hỏi một sự nghiên
cứu sâu mới có được những đầu tư đúng hướng, mới có thể thỏa mãn được một
cách tốt nhất nhu cầu này.
Vì vậy hiểu và giải thích được các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi du lịch của
du khách nội địa đến thành phố Nha Trang là vấn đề cần thiết không chỉ đối với các
5
công ty du lịch lữ hành mà còn gợi ý chính sách cho các cơ quan quản lý về du lịch
của thành phố Nha Trang. Xuất phát từ lý do đó, tôi quyết định chọn đề tài:
“Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi du lịch của du khách nội địa
đến thành phố Nha Trang” làm đề tài tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Từ những phân tích trên, ta nhận thấy việc nghiên cứu, xác định các nhân tố
ảnh hưởng đến động cơ của du khách khi chọn 1 điểm đến là vô cùng có ý nghĩa.
Nghiên cứu này vận dụng mô hình TPB với 1 số tiền tố mở rộng nhằm xem xét ảnh
hưởng của chúng đến động cơ và tần số đi du lịch của các du khách đến thành phố
Nha Trang.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu khám phá các nhân tố cụ thể tác động đến ý định và tần số đi
du lịch của du khách nội địa đến thành phố Nha Trang.
- Kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố trong lý thuyết TPB tác động đến ý
định và tần số đi du lịch của du khách nội địa đến thành phố Nha Trang.
- Đưa ra các gợi ý chính sách cho các công ty du lịch lữ hành, các cơ quan
Giai đoạn 4: Điều tra nghiên cứu chính thức
Bảng câu hỏi được điều tra trên một mẫu thuận tiện bằng phương pháp
phỏng vấn trực tiếp các du khách Quy tắc kinh nghiệm khi sử dụng SEM trong
nghiên cứu hành vi là kích thước mẫu tối thiểu 200 và tỷ lệ số mẫu trên tham số ước
lượng tối thiểu là 5 và 10 là phù hợp nhất. Với mô hình đề xuất của đề tài, số tham
số tự do cần ước lượng trong một mô hình tối đa là 30 tham số, do đó đề tài này cần
300 mẫu, đạt tỷ lệ 10 mẫu trên một tham số tự do, là khá hợp lý để nghiên cứu.
Dữ liệu sau đó được mã hóa, nhập máy tính, làm sạch với sự hỗ trợ của phần
mềm SPSS 15.0.
3.2. Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp được lấy thông qua quá trình phỏng vấn
trực tiếp, vì đề tài sẽ tiến hành trên cơ sở nghiên cứu du khách nội địa đến thành phố
Nha Trang để du lịch nên cần thiết phải tiến hành những cuộc phỏng vấn du khách
nội địa và phân tích các số liệu đó.
- Số liệu thứ cấp: Bên cạnh các số liệu sơ cấp, đề tài còn sử dụng nhiều số liệu thứ
cấp được lấy từ:
+ Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Khánh Hòa.
7
+ Các giáo trình chuyên ngành.
+ Các tạp chí, sách báo chuyên ngành.
+Các trang web về du lịch: vietnamtourism.gov.vn , saigontourism.com,
dulichvn.org.vn, baokhanhhoa.com.vn ….
4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này thực hiện liên quan đến hành vi của du khách khi đi du lịch
đến thành phố Nha Trang và lấy bối cảnh là sự đánh giá của du khách khi sử dụng
các dịch vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch làm đối tượng nghiên cứu chính.
Mặt khác, do giới hạn về thời gian, chi phí và kiến thức nên đề tài chỉ hướng đến
việc nghiên cứu du khách nội địa (khách trong nước, từ những tỉnh – thành phố
khác đến tham qua du lịch tại Nha Trang). Bên cạnh đó, do thực tế nhận thấy rằng
du khách nội địa, hơn 80 triệu dân, với mức sống và những đòi hỏi trong thưởng
dung đề tài: thực hiện nghiên cứu sơ bộ, tiến hành xây dựng thang đo đánh giá hành
vi của du khách, nghiên cứu định lượng chính thức, thiết lập các bảng hỏi điều tra,
quá trình tổ chức thực hiện và hoàn thành các bảng câu hỏi điều tra…
Chương 3 : Kết quả nghiên cứu
Trong phần này trình bày chủ yếu về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
(hoạt động kinh doanh du lịch tại Nha Trang, điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh du lịch, chính sách và quá trình phát triển du lịch của Nha
Trang…), phân tích đánh giá kết quả sơ bộ và kết quả nghiên cứu chính thức, từ đó
đưa ra một số thảo luận hàm ý.
♦ Kết luận – kiến nghị
Trong phần này sẽ kết luận, tổng kết lại những kết quả nghiên cứu bao gồm
các kết quả đạt được và chưa được của đề tài, chỉ ra các hạn chế của đề tài, các kiến
nghị tiếp theo…
9
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 SẢN PHẨM DỊCH VỤ VÀ CÁC ĐẶC TÍNH RIÊNG CỦA NÓ.
1.1.1. Dịch vụ và vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế.
Dịch vụ chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân về cả
mặt giá trị và lao động xã hội. Các hoạt động dịch vụ không chỉ quan hệ trực tiếp tới
phát triển sản xuất xã hội mà còn tác động và liên quan chặt chẽ tới phát triển, hoàn
thiện các nhu cầu vật chất, văn hóa, tinh thần và sự phát triển toàn diện của con
người. Xã hội càng phát triển, thu nhập của mỗi người dân ngày càng tăng lên thì
nhu cầu đối với dịch vụ ngày càng đa dạng và càng đòi hỏi dịch vụ nâng cao chất
lượng. Vì vậy, quản lý chất lượng dịch vụ ngày càng có ý nghĩa quan trọng.
Có những quan điểm khác nhau về dịch vụ nhưng tựu trung lại có mấy cách
hiểu chủ yếu sau :
- Theo quan điểm truyền thống, những gì không phải nuôi trồng, không phải
sản xuất là dịch vụ, nó bao gồm các hoạt động : Khách sạn, tiệm ăn, hiệu sửa chữa;
Giải trí và bảo tàng; Chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm; Tư vấn giáo dục, đào tạo; Tài
chính, ngân hàng; Bán buôn, bán lẻ; Giao thông vận tải, các phương tiện công cộng
1.2.1. Các khái niệm trong hoạt động du lịch
- Sản phẩm du lịch (Tourism Product): là tổng hợp của nhiều thành phần
khác nhau bao gồm những vật hữu hình và vô hình. Hầu hết sản phẩm du lịch là
những dịch vụ và những kinh nghiệm.
- Đơn vị cung ứng du lịch (Tourism Suppliers): là các cơ sở kinh doanh,
cung cấp sản phẩm du lịch cho khách du lịch.
- Khách du lịch (Visitors): Khách du lịch còn gọi là khách viếng. Theo tổ
chức du lịch thế giới (World Tourism Organization) ”một khách viếng là một người
từ quốc gia này đi tới một quốc gia khác vì lý do nào đó, có thể là kinh doanh, thăm
viếng hoặc làm một việc gì khác, ngoại trừ hành nghề lãnh lương”. Bao gồm :
+ Du khách (Tourists): là khách du lịch, còn gọi là khách ở lại qua đêm
(Overnight Visistors), lưu trú tại một quốc gia trên 24 giờ đồng hồ và ngủ qua đêm
ở đó, với các lý do khác nhau.
+ Khách tham quan (Excursionists): là khách du lịch đến viếng thăm ở một
nơi nào đó dưới 24 giờ và không ở lại qua đêm, với các lý do khác nhau, còn gọi là
khách du ngoạn hay khách ở trong ngày (Day Visistors).
11
- Mục đích chuyến đi (Purpose of Visit): Thực tế, một người đi du lịch không
đơn thuần vì một mục đích mà có thể được kết hợp bởi nhiều mục đích nhưng sẽ có
một mục đích chính. Bao gồm các mục đích sau:
+ Mục đích hưởng thụ: những ngày nghỉ, kỳ nghỉ, văn hóa, hoạt động thể
thao, thăm nhân thân bạn bè hay những mục đích hưởng thụ khác.
+ Mục đích đi du lịch vì nghề nghiệp: hội họp, công tác kinh doanh
+ Mục đích khác: nghiên cứu, chữa bệnh, chuyển giao công nghệ, lý do khác
…
- Những người được ghi vào thống kê du lịch và những người không được
ghi vào thống kê du lịch (Included/Not Included in Tourism Statistics) :
+ Những người được ghi vào thống kê du lịch là những khách du lịch.
+ Những người không được ghi vào thống kê du lịch: những người định cư
thường xuyên, những người định cư tạm thời, những nhà ngoại giao, đại diện lãnh
hiện các dịch vụ đưa đón, đăng ký nơi lưu trú, vận chuyển, hướng dẫn tham quan,
bán các chương trình du lịch của các doanh nghiệp lữ hành, cung cấp thông tin du
lịch và tư vấn du lịch nhằm hưởng hoa hồng.
1.2.2. Các điều kiện làm nảy sinh nhu cầu du lịch của du khách
1.2.2.1. Thời gian rỗi
Một trong các tiêu chí được xác định trong định nghĩa du lịch là chuyến đi
thực hiện trong thời gian rỗi của con người (ngày nghỉ cuối tuần, kỳ nghỉ phép, thời
gian rỗi trong các chuyến công tác …) Không có thời gian rỗi, chuyến đi của con
người không được gọi là đi du lịch. Hiện tượng du lịch tăng lên khi thời gian rỗi của
mọi tầng lớp xã hội gia tăng. Con người không thể đi du lịch nếu không có thời gian
rỗi. Do vậy, thời gian rỗi là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để có thể tham gia và
hoạt động du lịch. Trong kinh tế học thông thường, quỹ thời gian được chia làm hai
phần: thời gian làm việc và thời gian ngoài giờ làm việc. Thời gian rỗi của người
lao động ở từng nước được quy định trong luật lao động hoặc theo hợp đồng lao
động ký kết.
Xu hướng chung trong điều kiện phát triển hiện đại là giảm bớt thời gian làm
việc và tăng số thời gian rỗi. Nhiều nước trên thế giới đã chuyển sang chế độ làm
việc tuần 5 ngày (trong đó có Việt Nam). Như vậy, thời gian ngoài giờ làm việc
ngày càng chiếm ưu thế trong quỹ thời gian đang trở thành vấn đề quan trọng đặc
biệt. Để tìm cách gia tăng thời gian rỗi của du khách tiềm năng, nhiều chuyên gia
kinh tế du lịch chia thời gian ngoài giờ làm việc thành các khỏang thời gian có mục
đích khác khau, bao gồm: thời gian đi lại và chuẩn bị cá nhân; thời gian cho công
13
việc gia đình; và thời gian còn lại là thời gian thỏa mãn các nhu cầu tự nhiên như
ăn, uống, sinh lý …
Trong sự phân chia trên thời gian rỗi là đối tượng cần nghiên cứu của khoa
học du lịch. Mối quan tâm của xã hội hiện nay không chỉ là thời gian rỗi của con
người. Điều quan trọng hơn là con người sử dụng thời gian đó vào mục đích gì và
sử dụng như thế nào. Trên cơ sở đó ngành du lịch sẽ đưa ra các chiến lược quảng bá
của mình nhằm hướng người dân sử dụng thời gian rỗi vào mục đích nâng cao hiểu
cho người mua.
- Trong thị trường du lịch bao gồm những mối quan hệ kinh tế gắn liền với
địa điểm, thời gian, điều kiện của việc bán các dịch vụ du lịch và hàng hóa, do sự
phát triển đô thị, kinh tế các vùng, do nâng cao đời sống ở các vùng, do thời gian
nhàn rỗi.
- Trên thị trường du lịch, đối tượng mua bán ngoài hàng hóa vật chất và dịch
vụ, còn có những đối tượng mua bán mà ở thị trường khác không coi là hàng hóa,
đó là các gía trị nhân văn, tài nguyên thiên nhiên: phong cảnh, khí hậu, mặt trời.
- Quan hệ thị trường giữa người mua và người bán được bắt đầu từ khi khách
quyết định mua hàng đến khi khách về đến nơi cư trú của họ.
- Sản phẩm du lịch không bán được thì không thể lưu kho.
- Thị trường du lịch mang tính chất thời vụ rõ rệt.
1.2.4. Chức năng của thị trường du lịch
Chức năng của thị trường du lịch cũng sẽ bao gồm các mặt sau:
- Thỏa mãn nhu cầu của xã hội về du lịch, nghĩa là thực hiện việc mua bán
hoặc trao đổi các dịch vụ du lịch và hàng hóa. Người bán là các công ty, các hãng
du lịch bán các dịch vụ du lịch và hàng hóa. Người mua là khách du lịch, tiêu thụ
các dịch vụ du lịch và hàng hóa.
- Thị trường du lịch tham gia vào quá trình tái sản xuất của xã hội, thông qua
việc bán các dịch vụ du lịch và hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của xã hội về du lịch.
- Thị trường du lịch cũng tạo ra những kích thích kinh tế để mở rộng sản xuất
và tiêu thụ các dịch vụ du lịch: như luôn luôn đổi mới các chương trình du lịch cả
về nội dung và giá cả như giá khuyến mại, hoa hồng, tỷ giá ngoại tệ ưu đãi, tỷ lệ
hoa hồng cho các hãng du lịch môi giới.
1.2.5. Các loại hình du lịch
Hoạt động du lịch có thể được phân thành các nhóm khác nhau tùy thuộc tiêu
chí đưa ra. Về phần mình các tiêu chí được đưa ra phụ thuộc vào mục đích việc
15
phân loại và quan điểm chủ quan của tác giả bài viết. Ta có thể chia các loại hình du
lịch theo các tiêu chí sau: môi trường tài nguyên, mục đích chuyến đi, lãnh thổ hoạt
du khách, tham gia các lễ hội du khách như hòa mình vào bầu không khí tưng bừng,
quên đi những khó chịu của cuộc sống đời thường.
- Du lịch thăm thân nhân: Loại hình du lịch này rất phổ biến, nó đáp ứng nhu
cầu giao tiếp, thăm hỏi của những người thân giữa các vùng, các quốc gia … Đây là
loại hình được các ngoại kiều coi trọng.
- Những loại hình khác: bao gồm du lịch khám phá, du lịch thể thao và du
lịch thể thao kết hợp.
1.3. HÀNH VI TIÊU DÙNG DU LỊCH
1.3.1. Khái niệm chung về hành vi tiêu dùng và hành vi tiêu dùng du lịch
Thuật ngữ hành vi tiêu dùng để chỉ hành vi mà người tiêu dùng thể hiện
trong việc tìm kiếm mua, sử dụng, đánh giá và loại bỏ các sản phẩm dịch vụ mà
người tiêu dùng mong muốn sẽ thỏa mãn nhu cầu của họ. Hành vi tiêu dùng tập
trung vào việc cá nhân ra quyết định như thế nào để sử dụng các nguồn lực hiện có
(thời gian, tiền bạc, công sức) vào việc tiêu thụ các mặt hàng có liên quan. Nó bao
gồm việc họ mua gì, tại sao mua, khi nào mua, mua ở đâu, họ có thường mua
chúng, có thường sử dụng chúng, đánh giá chúng ra sao sau khi mua và ảnh hưởng
của những đánh giá này đến những lần mua tới và họ vứt bỏ chúng như thế nào.
Hành vi tiêu dùng bao hàm cả hai khía cạnh, đó là những quyết định mang
tính trí óc (ý nghĩ) và những hành động vật chất của cơ thể được tạo ra từ những
quyết định/ý nghĩ đó. Mặc dù một số nhà khoa học xã hội thường giới hạn định
nghĩa của họ về ”hành vi” trong các hành động có thể quan sát được, nhưng rõ ràng
là các lý do và những quyết định nằm sau những hành động (tức là các quyết định
suy tính) là có liên quan chặt chẽ với hành vi con người nói chung và người tiêu
dùng nói riêng. Do đó, để hiểu được hành vi, chúng ta cần phải nghiên cứu một
cách đầy đủ cả hai khía cạnh của nó.
Người tiêu dùng là những người mua và/hoặc sử dụng các sản phẩm hàng
hóa và dịch vụ cung ứng trên thị trường. Người tiêu dùng nói chung thường được
phân chia thành hai nhóm cơ bản là: Người tiêu dùng cá nhân (personal consumers)
và người tiêu dùng tổ chức (organizational consumers). Người tiêu dùng cá nhân là
những người mua hàng hóa, dịch vụ để sử dụng cho chính cá nhân họ (ví dụ kem
marketing nhằm tác động lên các quyết định tiêu dùng. Là một lĩnh vực mới nên
nghiên cứu hành vi người tiêu dùng dựa trên việc sử dụng và ”vay mượn” rất nhiều
thuật ngữ, khái niệm và mô hình nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác như
tâm lý học, xã hội học, tâm lý xã hội học, nhân loại học và kinh tế học. Do đó hành
vi người tiêu dùng được coi là một khoa học liên ngành. Cũng như bất kỳ ngành