1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ XUÂN SƠN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ DHA/
EPA
TRONG THỨC ĂN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA
TÔM HÙM XANH GIAI ĐOẠN GIỐNG
VÀ
GIAI ĐOẠN THƯƠNG PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Nha Trang – 2010
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ XUÂN SƠN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ DHA/ EPA
TRONG THỨC ĂN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
TÔM HÙM XANH GIAI ĐOẠN GIỐNG VÀ
GIAI ĐOẠN THƯƠNG PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Chuyên ngành
Mã số
: Công nghệ sau thu hoạch
: 60
.
54
.
MỤC LỤC
TRANG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM HÙM XANH
1.1.1. Phân loại và hình thái
1.1.2. Đặc điểm phân bố
1.1.3. Đặc điểm sinh trưởng
1.1.4. Đặc điểm sinh sản
1.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng
1.1.6. Một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tôm hùm nuôi
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU DINH DƯỠNG CỦA TÔM VÀ GIÁP XÁC
1.2.1. Dinh dưỡng protein và các axít amin cần thiết
1.2.2. Nhu cầu lipid và các axit béo cần thiết (EFA)
1.2.3. Dinh dưỡng Carbohydrate
1.2.4. Dinh dưỡng Vitamin
1.2.5. Dinh dưỡng chất khoáng
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỨC ĂN VIÊN CHO TÔM HÙM
CHƯƠNG II
NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. NGUYÊN VẬT LIỆU
2.1.1. Tôm hùm giống
2.1.2. Thức ăn nuôi tôm hùm
2.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu điều tra
2.3.2. Phương pháp phân tích hóa học
2.3.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm
1
3.1.1. Tình hình nuôi tôm hùm
3.1.2. Tình hình sử dụng thức ăn trong nuôi tôm hùm
3.1.3. Hiệu quả sử dụng thức ăn
3.2. ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ DHA/ EPA TRONG THỨC ĂN ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA TÔM HÙM XANH GIAI ĐOẠN GIỐNG VÀ THƯƠNG PHẨM
3.2.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ DHA/ EPA trong thức ăn đến sự phát triển của tôm
hùm xanh giai đoạn giống
3.2.1.1. Ảnh hưởng của tỉ lệ DHA/ EPA trong thức ăn bổ sung protein Selco
đến sự phát triển của tôm hùm xanh giai đoạn giống
3.2.1.2. Ảnh hưởng của tỉ lệ DHA/ EPA trong thức ăn bổ sung dầu mực và
dầu đậu nành đối với tôm hùm xanh giai đoạn giống
3.2.2. Ảnh hưởng của tỉ lệ DHA/ EPA trong thức ăn đến sự phát triển của tôm
hùm xanh giai đoạn thương phẩm
3.2.2.1. Ảnh hưởng của tỉ lệ DHA/ EPA trong thức ăn bổ sung PS
3.2.2.2. Ảnh hưởng của tỉ lệ DHA/ EPA trong thức ăn bổ sung DM và DĐN
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
47
48
48
48
52
54
54
54
54
60
66
66
72
TĂT 69
Bảng 3.13. Bảng so sánh các chỉ tiêu của tôm giữa TĂCB và TĂT 71
Bảng 3.14. Thành phần sinh hóa của thức ăn ở thí nghiệm 4 72
8
Bảng 3.15. Sinh trưởng của tôm hùm xanh giai đoạn thương phẩm khi cho ăn bằng
thức ăn có có bổ sung DM và DĐN với các mức khác nhau và TĂT 73
Bảng 3.16. Tỉ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn của tôm hùm xanh giai đoạn
thương phẩm khi cho ăn bằng thức ăn có bổ sung DM/DĐN với các mức khác nhau
và TĂT 74
Bảng 3.17. Bảng so sánh các chỉ tiêu của tôm giữa TĂCB và TĂT 76
9
DANH MỤC CÁC HÌNH
Tên hình
Trang
Hình 1.1. Tôm hùm xanh (Panulirus homarus) 14
Hình 2.1. Máy nghiền búa Brook Crompton 33
Hình 2.2. Qui trình kỹ thuật sản xuất thức ăn cho tôm hùm xanh 34
Hình 2.3. Máy trộn 20QT Mixer 34
Hình 2.4. Hình ảnh về quá trình tạo sợi thức ăn 35
Hình 2.5. Tủ hấp Stoodart 95C.3 (Úc) 35
Hình 2.6. Thiết bị sấy Moisture Extraction Oven (Úc) 36
Hình 2.7. Kích cỡ viên thức ăn 36
Hình 2.8. Sơ đồ khối bố trí thí nghiệm tổng hợp các nội dung nghiên cứu 39
Hình 2.9. Hình ảnh chụp từ vệ tinh vị trí đặt lồng nuôi tôm hùm 39
Hình 2.10. Hình ảnh về lồng thí nghiệm nuôi tôm hùm 39
Hình 2.11. Hình ảnh về tôm hùm giống 41
Hình 2.12. Hình ảnh về tôm hùm giống giai đọan nuôi thương phẩm 43
Hình 3.1. Các vùng nuôi tôm hùm ở tỉnh Phú Yên 48
Hình 3.2. Tổng số hộ nuôi tôm hùm ở tỉnh Phú Yên 50
Hình 3.3. Tổng số lồng nuôi tôm hùm ở tỉnh Phú Yên 50
Hình 3.20. Hệ số chuyển đổi thức ăn của tôm hùm xanh giai đoạn thương phẩm khi
cho ăn bằng thức ăn có bổ sung PS với các mức khác nhau và TĂT 70
Hình 3.21. Tăng trưởng tương đối về khối lượng của tôm hùm xanh giai đoạn thương
phẩm nuôi bằng thức ăn bổ sung DM/DĐN khác nhau và TĂT 73
Hình 3.22. Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của tôm hùm xanh giai đoạn
thương phẩm với các mức bổ sung DM/DĐN và TĂT 74
Hình 3.23. Tăng trưởng tương đối về khối lượng theo ngày của tôm hùm xanh giai
đoạn thương phẩm với các mức bổ sung DM/DĐN và TĂT 74
Hình 3.24. Tỉ lệ sống của tôm hùm xanh giai đoạn thương phẩm khi cho ăn bằng thức
ăn bổ sung DM/DĐN với các tỷ lệ khác nhau và TĂT 75
Hình 3.25. Hệ số chuyển đổi thức ăn của tôm hùm xanh giai đoạn thương phẩm khi
cho ăn bằng thức ăn bổ sung DM/DĐN với các tỷ lệ khác nhau và TĂT 75
11
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DHA
EPA
DM/DĐN
TĂT
PS
TĂCB
CL
NT
DGC
KLC
WG
FCR
SR
DO
: Docosahexaenoic acid
: Eicosapentaenoic acid
sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên, không qua chế biến này có những bất lợi nhất định
như cạnh tranh nguồn cá tạp sử dụng làm thực phẩm cho con người hay thức ăn gia
súc, gia cầm, cũng như người nuôi không chủ động nguồn thức ăn nhất là vào mùa
mưa bão. Đặc biệt theo nhiều nhà khoa học về nuôi trồng thủy sản, khi sử dụng thức
ăn không qua chế biến có thể làm tăng nguy cơ dịch bệnh và là nguyên nhân gây ô
nhiễm môi trường nước.
Để phát triển nghề nuôi tôm hùm một cách bền vững, an toàn với môi trường,
việc nghiên cứu sản xuất thức ăn tổng hợp để cung cấp cho người nuôi đang là một
yêu cầu cấp thiết. Vì thế, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ
lệ DHA/ EPA trong thức ăn đến sự phát triển của tôm hùm xanh giai đoạn giống
và giai đoạn thương phẩm” với mục đích góp phần vào xây dựng công thức thức ăn
nuôi tôm hùm.
13
Mục tiêu chính của đề tài là tìm ra các thông số tối ưu về nhu cầu DHA
(docosahexaenoic acid) và EPA (eicosapentaenoic acid) cho sự phát triển của tôm
hùm xanh giai đoạn giống và thương phẩm để từ đó làm cơ sở dữ liệu cho việc sản
xuất thức ăn nuôi tôm hùm.
Đề tài chủ yếu được tiến hành trên tôm hùm xanh (P. homarus) giai đoạn giống
và thương phẩm nuôi ở vùng biển Canh Ranh, Khánh Hòa.
Nội dung của đề tài
1) Điều tra về tình hình nuôi và thức ăn cho tôm hùm tại tỉnh Phú Yên trong các
năm từ 2006 đến 2009.
2) Xác định ảnh hưởng của tỉ lệ DHA/EPA trong thức ăn đến sự sinh trưởng của
tôm hùm xanh giai đoạn giống và thương phẩm.
3) Xác định ảnh hưởng của tỉ lệ DHA/EPA trong thức ăn lên tỉ lệ sống của tôm
hùm xanh giai đoạn giống và thương phẩm.
Ý nghĩa khoa học của đề tài
Các số liệu nghiên cứu của đề tài là số liệu thực tế bổ sung cho sự hiểu biết về
nhu cầu thức ăn của tôm hùm xanh nuôi giai đoạn giống và thương phẩm, làm cơ sở
dữ liệu cho sản xuất thức ăn của tôm hùm tại Trường Đại Học Nha Trang.
Năm đôi chân bò có những vòng ngang màu vàng nhạt. Các đốt bụng có rãnh ngang,
mép trước của rãnh ngang có dạng lượn sóng thành những vòng nhỏ có nhiều lông
mịn. Hai cặp gai ở phiến gốc râu 1 xếp cách đều nhau tạo thành hình vuông, giữa có
nhiều gai nhỏ (Hình 1.1) [6].
1.1.2. Đặc điểm phân bố
Phân bố của tôm hùm được quyết định bởi tính di truyền và quá trình thích nghi
của loài với các điều kiện tự nhiên, môi trường ở từng vùng biển. Chu kỳ sống của
15
tôm hùm trải qua nhiều lần thay đổi môi trường sống khác nhau, nghĩa là mỗi giai
đoạn sống của chúng gắn với một điều kiện sinh thái nhất định và tạo nên quần thể ấu
trùng riêng biệt.
Giai đoạn ấu trùng Phyllosoma sống trôi nổi như những sinh vật phù du trên
biển và đại dương vì thế khả năng phát tán là rất lớn do tác dụng của sóng, gió, dòng
chảy,… Hầu như trong suốt thời kỳ này chúng luôn di chuyển và phụ thuộc hoàn
toàn vào điều kiện thủy văn môi trường biển khơi. Sau khi ấu trùng Phyllosoma trải
qua 12 – 15 lần lột xác biến thái chúng chuyển sang giai đoạn hậu ấu trùng Puerulus
và bắt đầu đời sống định cư. Ấu trùng Puerulus thường phân bố ở vùng gần dân cư,
nguồn thức ăn khá phong phú. Giai đoạn này ấu trùng Puerulus bơi chủ động hơn
chúng thích bám trên rong trên đá và các vật trong nước.
Sau khoảng 4 lần lột xác và biến thái ấu Puerulus chuyển sang giai đoạn tôm
con (Juveline). Màu sắc hình thái giống với tôm trưởng thành. Chúng sống trong các
vịnh, vũng, đầm,… ven biển.
Tôm hùm khi đạt tới kích cỡ trưởng thành có xu hướng di chuyển ra khỏi các
đầm, vũng, vịnh,… để đến những vùng rạn sâu hơn. Nơi những điều kiện sinh thái
phù hợp với sự sinh trưởng và sinh sản của loài.
Ở Việt Nam, dọc bờ biển từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Ninh Thuận, Bình
Thuận có sự hình thành và phát triển của các kiểu dạng vũng, vịnh trên các đoạn bờ
biển khác nhau, thích hợp cho quá trình sinh sống, nhập cư và di cư của tôm hùm con
từ biển khơi vào vịnh, rồi từ vịnh trở lại biển khơi. Tuy nhiên khác với giai đoạn ấu
trùng, tôm hùm con sống đáy ổn định hơn và thường tập trung ở những vùng rạn
nhau thì chu trình lột xác hoàn toàn khác nhau. Ví dụ như với nhóm kích thước từ 8 -
13 mm (CL), thời gian giữa 2 lần lột xác khoảng 8 - 10 ngày, còn nhóm kích thước
63 - 68 mm (CL) thì chu kì lột xác khoảng 40 ngày ở cả 2 loài tôm hùm bông
(P.ornatus) và tôm hùm xanh (P. homarus) [9].
Qua mỗi lần lột xác thì tỉ lệ phần trăm khối lượng tăng, tỉ lệ chiều dài giáp đầu
ngực của tôm giảm xuống, độ dài vỏ của cá thể tăng.
17
Nhìn chung thì tôm hùm có chu kỳ lột xác dài hơn so với các loài giáp xác
khác, do vậy tốc độ tăng tưởng của chúng tương đối chậm.
1.1.4. Đặc điểm sinh sản
Tôm hùm thuộc giống Panulirus nói chung, con tôm đực luôn có kích thước lớn
hơn con tôm cái khi đạt đến giai đoạn thành thục sinh dục và cá thể đực có đôi chân
bò dài hơn hẳn cá thể cái. Quá trình cặp đôi giao vĩ chia làm 2 pha khá rõ rệt. Pha
trước giao vĩ kéo dài khoảng 5 - 13 giờ và pha giao vĩ kéo dài khoảng 3 - 12 giờ, tuy
nhiên thời gian giao vĩ hoàn toàn khoảng 1 - 2 phút. Sau khi giao vĩ xong, buồng
trứng tiếp tục phát triển, con cái có xu hướng chuyển đến những vùng có rạn đá sâu,
nhiều hang hóc để đẻ trứng. Khi tôm hùm đẻ, trứng thụ tinh bám dính các nhánh
trong chân bụng thứ nhất đến thứ tư của tôm mẹ, ở đây trứng phát triển qua các giai
đoạn phôi khác nhau cho đến khi nở ra ấu trùng. Từ lúc trứng nở đến giai đoạn “tôm
trắng” kéo dài khoảng 10 - 12 tháng. Tôm hùm xanh loài (P. homarus) sinh sản tập
trung vào tháng 4 và tháng 5 hàng năm [9].
1.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng
Nguồn cung cấp năng lượng duy nhất cho tôm hùm sinh trưởng và phát triển là
các loại thức ăn. Song tùy theo loài và các giai đoạn phát triển mà phổ thức ăn của
chúng thay đổi khác nhau. Ngoài tự nhiên tôm hùm thường kiếm mồi vào ban đêm,
thích mồi sống, ăn cả mồi chết, ngay cả thịt gia súc, gia cầm chết. Nghiên cứu về phổ
thức ăn của tôm hùm cho thấy, đây là loài thuộc nhóm giáp xác ăn thịt nhưng ít đi
kiếm ăn, trong dạ dày của chúng có tới 65 loài sinh vật làm thức ăn, chiếm ưu thế là
động vật thân mềm một mảnh vỏ và hai mảnh vỏ. Tuy nhiên, khả năng đồng hóa thức
ăn của tôm hùm tương đối thấp.
o
.
* Thức ăn
Trong nuôi tôm hùm thương phẩm thức ăn chiếm tới 50 – 70% giá thành sản
xuất. Thức ăn phải đảm bảo giá trị dinh dưỡng và được tôm chấp nhận. Để bảo đảm
cho sự phát triển bền vững của nghề nuôi tôm hùm thì thức ăn phải đáp ứng được các
yêu cầu về dinh dưỡng, tính sẵn có, giá rẻ, dễ bảo quản. Yêu cầu của người nuôi lúc
này là tìm ra loại thức ăn, chế độ cho ăn phù hợp giúp tôm tăng trưởng nhanh, hệ số
thức ăn thấp và ít tác động tiêu cực đến môi trường.
19
* Chất lượng nước
Amonia chiếm từ 60 – 100% tổng lượng nitrogen mà giáp xác thải ra, lượng
amonia tăng lên cùng với việc gia tăng lượng thức ăn, khối lượng cơ thể tôm và nhiệt
độ nước. Lượng amonia trong nước bị ảnh hưởng bởi mức protein có trong thức ăn,
nhịp điệu ngày đêm, độ mặn, giai đoạn lột xác và hàm lượng lượng oxy hoà tan. Khi
ở nồng độ cao amonia gây độc hoặc ức chế tăng trưởng cho tôm và hàm lượng
amonia tổng số khi nuôi loài tôm hùm Jasus edwardsii nuôi trong hệ thống tuần hoàn
nước nên nhỏ hơn 0,5 mg/L, NH3-N không nên vượt quá 0,1 mg/L, NO2-N bằng hoặc
nhỏ hơn 1 mg/L, NO3-N nhỏ hơn 100 mg/L, pH 7,8 – 8,2 [7].
* Hàm lượng oxy hoà tan
Hàm lượng oxy hoà tan rất quan trọng đối với thuỷ sinh vật nói chung và tôm
hùm nói riêng. Lượng oxy tôm tiêu thụ phụ thuộc vào giới tính của tôm, khối lượng
cơ thể, giai đoạn lột xác, hoạt động bắt mồi, nhiệt độ nước và độ mặn, khi độ mặn và
nhiệt độ nước cao thì hàm lượng oxy hoà tan thấp, các loại thức ăn dễ phân rã, thức
ăn thừa cũng làm tăng nhu cầu oxy hoá sinh học, tỷ lệ tiêu thụ oxy ban đêm cao hơn
ban ngày. Hàm lượng Oxy hòa tan trong nước vùng nuôi tôm hùm lồng trong khoảng
6,2 – 7,2(mg/lít) [5].
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU DINH DƯỠNG CỦA GIÁP XÁC VÀ
TÔM HÙM
Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về nhu cầu dinh
(Liou and Yang, 1994) và nhu cầu threonine là 1,4% thức ăn hay 3,5% mức protein
(Millamena et al., 1996b) và valine là 3,75% protein (Millamena et al., 1996). Do đó,
việc sử dụng các axít amin tổng hợp để cân đối nhu cầu axít amin trên tôm sú không
hiệu quả bằng việc sử dụng các nguồn nguyên liệu bổ sung các thiếu hụt axít amin
cần thiết.
Ngoài ra, các axít amin tự do trong thức ăn có tác dụng dẫn dụ làm cho tôm
phát hiện thức ăn từ xa và kích thích tôm ăn nhiều hơn. Nhiều thí nghiệm cho thấy
các axít amin như glycine, taurine và betaine là những thành phần dẫn dụ trong thức
ăn có nhiều trong bột nhuyễn thể, dịch thủy phân cá, bột gan mực. Sử dụng các axít
21
amin tổng hợp như betaine vào thức ăn tôm có tác dụng làm tăng độ hấp dẫn của thức
ăn viên cho các loài tôm và giáp xác khác [4].
Nhu cầu protein và các axít amin cần thiết tối ưu của một loài phụ thuộc vào
nguồn nguyên liệu làm thức ăn (tỉ lệ protein, thành phần axít amin), trạng thái sinh lí
của vật nuôi, môi trường, lượng và nguồn thức ăn hằng ngày của chúng. Do đó, cần
nghiên cứu tỉ mỉ để tìm tỉ lệ thích hợp cho từng trường hợp cụ thể.
1.2.2. Nhu cầu lipid và các axit béo cần thiết (EFA)
* Nhu cầu lipid tổng số
Ngoài chức năng là nguồn cung cấp năng lượng [1], nguồn lipid trong thức ăn
cho cá và giáp xác cung cấp các axít béo (FA), đặc biệt là các axít béo cần thiết
(EFA). EFA rất cần cho sự trao đổi chất, tham gia vào quá trình sinh tổng hợp màng
tế bào. Ngoài ra lipid còn có một vai trò như là dung môi để hòa tan, vận chuyển và
hấp thu một số vitamin tan trong chất béo (A, D, K, E) và carotenoid (sắc tố) [2].
Thành phần quan trọng nhất của lipid trong dinh dưỡng động vật là
triacylglycerol và phospholipid. Đối với các động vật thủy sinh sống trong môi
trường nước mặn ngoài hai thành phần trên sterol đóng vai trò quan trọng trong dinh
dưỡng cho giáp xác[2]. Nhiều nghiên cứu cho thấy: lipid có ảnh hưởng rất lớn đến
sinh trưởng của tôm, đặc biệt là ở giai đoạn ấu tr ùng và tôm giống.
Theo David M. Smith, CSIRO (2007) hàm lượng tối ưu của lipid thùy thuộc vào
hàm lượng đạm trong thức ăn, chất lượng lipid (sự cân đối với và axít béo), lượng và
CH3-(CH2)4-CH=CH-CH2-CH=CH-(CH2)7 –COOH kí hiệu 18:2n-6
Ở đây, số nguyên tử carbon là 18, số nối đôi có trong mạch carbon là 2, vị trí
nối đôi đầu tiên là carbon thứ 6.
(Chữ n trong kí hiệu trên có thể thay bằng chữ ω).
Các axít béo được chia làm hai nhóm: axít béo no và axít béo không no. Axít
béo no là những axít béo mà trong mạch carbon không có nối đôi, axít béo không no
là những axít béo mà trong mạch carbon có một hay nhiều nối đôi. Tùy thuộc vào tỉ
lệ các axít béo no hay không no trong thành phần của lipid mà hình thành mỡ (ở động
vật) hay dầu (ở thực vật).
23
Căn cứ vào số lượng nối đôi người ta người ta chia các axít béo không no thành
các dạng sau:
- MUFA (monounsaturated fatty acids) axít béo không no có một nối đôi.
- PUFA (Polyunsaturated fatty acids) trong mạch carbon có ít nhất 2 nối đôi.
- HUFA (highly unsaturated fatty acids) trong mạch carbon có 4 – 6 nối đôi.
Tất cả động vật đều có thể tổng hợp được các axit béo no chuỗi dài từ axetat:
n CH3COO¯→ CH3CH2CH2COO¯→ CH3CH2CH2CH2CH2CH2…
Tất cả các loài động vật cũng tổng hợp được các axit béo chưa no bằng cách
thêm những nối đôi vào phía đầu chuỗi chứa nhóm cacboxyl nhưng không có thể
thêm những nối đôi vào phía đầu chuỗi chứa nhóm methyl [1].
Ở giáp xác, quá trình tổng hợp các axít béo thực hiện ở gan bởi tổ hợp các enzyme
có vai trò là chất xúc tác giống như động vật có vú. Cũng giống như cá, giáp xác không
có khả năng tổng hợp các axít béo họ linoleic axít (18:2n-6) và axít linolenic (18:3n-3).
Từ các axít béo này giáp xác sẽ tổng hợp nên các axít béo không no có mạch carbon dài
hơn và số nối đôi trong mạch carbon nhiều hơn (PUFA). Tuy nhiên, phần lớn các loài cá
biển ăn động vật, do ngoài tự nhiên các sinh vật làm thức ăn của chúng rất giàu 22:6n-3
(DHA) và 20:5n-3 (EPA) nên chúng mất khả năng kéo dài mạch carbon và tạo thêm nối
đôi từ 18:3n-3 để tạo thành các HUFA tương ứng. Những loài thủy sản ăn động vật vì
thế phải được cung cấp DHA và EPA qua thức ăn nhằm giúp chúng sinh trưởng tốt [12].
Vai trò của các
và ctv (2001), cho biết tỷ lệ giữa tối ưu cho tôm phát triển (n-3 và n-6) là 2.5 và 1 và
mặc dù con số này có thể có sai lệch trong quá trình chế biến thức ăn là 2:1 hay 3:1
đều không ảnh hưởng gì đến tốc độ tăng trưởng của tôm.
Mức độ tăng trưởng của P. japonicus sẽ gia tăng khi bổ sung 1% của 18:2n-6 và
18:3n-3 vào thức ăn. Shewbart và Mies (1973) thử nghiệm mức độ từ 0,5 - 5% 18:3n-
6 vào thức ăn công nghiệp cho tôm giống P. aztecus, kết quả là mức 2% cho tốc độ
tăng trưởng cao nhất, dưới mức 2% sẽ làm giảm khả năng tăng trưởng của loài tôm
này. Read (1981) đã tìm thấy bổ sung 1% của 18:2n-6 hoặc 18:3n-3 vào thức ăn sẽ
cải tiến được mức độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm P. indicus. Sinh trưởng của
tôm P. japonicus ăn thức ăn chứa nhiều 18:3n-3 thì tốt hơn là nhiều 18:2n-6 (Gury và
25
ctv, 1976). Trong khi đó Xu và ctv (1994) lại cho biết tốc độ sinh trưởng của tôm P.
chinensis được cải thiện khi kết hợp hai nhóm axít béo này hơn là chỉ bổ sung một
loại. Nhiều nghiên cứu cho thấy nhóm axít béo 20 - 22 Cacbon-HUFA được coi là có
giá trị dinh dưỡng cao hơn nhóm 18 Carbon-PUFA.
Việc đáp ứng nhu cầu axít béo không no thông qua thức ăn lipid, vì vậy trong sản
xuất giống và nuôi thương phẩm cá và giáp xác các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến
vai trò và nhu cầu của axít béo cần thiết đối với vật nuôi.
Giới thiệu về EPA (eicosapentaenoic acid) và DHA(docosahexaenoic
acid)
Công thức cấu tạo
O
ω
6 3 1
HO
1 5 8 11 14 17 20
Công thức cấu tạo của EPA (eicosapentaenoic acid)
O
ω
HO