CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN ÔN TẬP MÔN
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
1. NHTW có thể thay đổi mức cung tiền bằng những công cụ nào? Trình
bày nội dung các công cụ đó? Nêu xu hướng sử dụng các công cụ để
điều tiết khối lượng tiền cung ứng hiện nay?
Trả lời:
- Khái niệm: ngân hàng trung ương là một định chế quản lý Nhà nước về tiền
tệ, tín dụng và ngân hàng, độc quyền phát hành tiền tệ, là ngân hàng của các
ngân hàng thực hiện chức năng tổ chức điều hòa lưu thông tiền tệ trong
phạm vi cả nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền.
- Các công cụ mà NHTW có thể sử dụng để thay đổi mức cung tiền đó là: tỷ lệ
dự trữ bắt buộc,lãi suất,nghiệp vụ thị trường “mở”,hạn mức tín dụng, ,công
cụ tái cấp vốn
- Nội dung:
* Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các ngân hàn trung gian phải đưa vào dự
trữu theo luật định. Mức dự trữ bắt buộc cao hay thấp phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ
bắt buộc – do ngân hàng trung ương quy định – cao hay thấp. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
là tỷ lệ phần trăm trên lượng tiền gửi mà ngân hàng trung gian huy động được, phải
để dưới dạng dự trữ. Như vậy, mối ngân hàng chỉ được cho vay số tiền còn lại sau
khi đã trừ phần dự trữ bắt buộc, ngân hàng trung ương có thể hạn chế hoặc bành
trướng khối tiền tệ mà hệ thống ngân hàng có khả năng cung ứng cho nền kinh tế.
Một cách khái quát, khi ngân hàng trung ương tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ
bắt buộc thì ngân hàng trung ương có thẻ làm giảm hoặc tăng hệ số tạo tiền của hệ
thống ngân hàng trung gian, và kết quả là khối tín dụng mà các ngân hàng trung
1
gian có thể cung ứng cho nền kinh té giảm hoặc tăng. Nhìn chung, dự trữ bắt buộc
là công cụ mang tính chất hành chính của ngân hàng trung ương nhằm điều tiết
mức cung tiền tệ của ngân hàng trung gian cho nền kinh tế, thông qua hệ số tạo
tiền.
Ưu điểm của việc sử dụng dự trữ bắt buộc để kiểm soát cung tiền tệ là nó có
lãi suất như vậy là vì trình độ phát triển thị trường tiền tệ còn thấp, năng lực cạnh
tranh các ngân hàng trung gian còn yếu kém.
- Ngân hàng trung ương áp dụng chính sách tự do hóa để lãi suất tự hình
thành theo theo cơ chế thị trường. Và để can thiệp vào lãi suất thị rường,
ngân hàng trung ương có thể gián tiếp can thiệp thông qua các chính sách:
+ Công bố lãi suất cơ bản để hướng dẫn lãi suất thị trường.
+ Sử dụng công cụ lãi suất tái cấp vốn và kết hợp với lãi suất thị trường
mở để can thiệp và điều chỉnh lãi suất thị trường.
Tái cấp vốn là một phương pháp mà qua đó ngân hàng trung ương sẽ cung
ứng tiền cho nền kinh tế thông qua việc cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian
trên cơ sở nhận tái chiết khấu, tái cầm cố các chứng từ có giá của các ngân hàng
trung gian. Nếu chính sách của ngân hàng trung ương là muốn bành trướng khối
tiền tệ , ngân hàng trung ương sẽ khuyến khích các ngân hàng trung gian trong việc
đi vay tái chiết khấu cũng được dễ dãi. Trong trường hợp này, ngân hàng trung
gian đi vay sẽ ít tốn kém hơn nên cũng có khuynh hướng giảm bớt lãi suất cho vay.
Ngược lại, khi ngân hàng trung ương muốn giảm bớt cơ hội làm tăng khối tiền tệ,
3
sẽ thực hiện ngân lãi suất tái chiết khấu, thay đổi điều kiện tái chiết khấu theo
hướng khó khăn hơn. Điều này sẽ hạn chế nhu cầu đi vay của các ngân hàng trung
gian, và gián tiếp gây áp lực buộc các ngân hàng trung gian nâng lãi suất cho vay.
Ngoài việc gián tiếp làm thay đổi lãi suất, chính sách tái chiết khấu của ngân hàng
trung ương còn có vai trò quan trọng khi nó giúp các ngân hàng trung gian khai
thông ăng lực thanh toán,nhờ đó có thể cứu vãn được những cơn sụp đổ tài chính
– ngân hàng. Cụ thể , khi các ngân hàng bị đe dọa phát sản, ngân hàng trung ương
sẽ cấp dự trữ cho chúng thông qua tái chiết khấu, tái cầm cố các chứng từ có giá, từ
đó khôi phục được khả năng thanh toán của những ngân hàng này. Vài trò này
ngày càng trở nên quan trọng hơn, bởi vì chúng ta đang trải qua những khó khăn
ngày càng nhiều của hệ thống ngân hàng hiện nay.
Tuy nhiên chính sách tái chiết khấu cũng có những hạn chế nhất định:
- Thứ nhất, có thể tạo cho các ngân hàng trung gian tính ỷ lại mà chúng ta đã
Có thể nói, lãi suất vừa là đối tượng quản lý, vừa là một công cụ quan trọng
của chính sách tiền tệ. Lãi suất nếu được sử dụng đúng đắn và phù hợp với những
điều kiện, tình hình kinh tế trong từng thời kỳ nhất định, sẽ có tác dụng trực tiếp
đến kiểm soát lạm phát, kích thích tiết kiệm và đầu tư phát triển, cũng như ảnh
hưởng đến những thay đổi của tỷ giá hối đoái trong mối quan hệ với cán cân thanh
toán quốc tế. ngược lai, nếu sử dụng nó cứng nhắc, không phù hợp với điều kiện
5
thực tế của nền kinh tế, lãi suất lại trở thành vật cản kìm hãm, trói buộc nền kinh
tế.
* Thị trường mở
Công cụ thị trường mở phản ánh việc ngân hàng trung ương mua hoặc bán
chứng từ có giá trên thị trường tài chính công cộng, nhằm đạt đến mục tiêu điều
chỉnh lượng tiền trong lưu thông. Các chứng từ có giá mà các ngân hàng trung
ương thường sử dụng để tiến hành nghiệp vụ thị trường mở là các chứng khoán
kho bạc, bởi vì thị trường của những chứng khoán này rất “lỏng” và có dụng lượng
kinh doanh lớn.
Khi ngân hàng trung ương đem chứng khoán ra thị trường mở bán nó sẽ thu
được tiền mặt và séc về. Điều này có nghĩa là khối lượng tiền mặt cung ứng cho
lưu thông giảm, dự trữ của các ngân hàng trung gian giảm, làm giảm khả năng
cung ứng tín dụng cả các ngân hàng trung gian và như thế, cung ứng tiền trong nền
kinh tế bị thắt chặt hơn. Bên cạnh đó, việc ngân hàng trung ương bán chứng khoán
ra thị trường mở sẽ làm tăng cung chứng khoán, trong điều kiện các nhân tố khác
không đổi, giá chứng khoán này sẽ hạ và đo vậy, lãi suất của chứng khoán tăng lên.
Lãi suất chứng khoán tăng buộc các ngân hàng trung gian phải tăng lãi suất ngân
hàng lên theo để tránh tình trạng công chúng rút tiền ra khỏi ngân hàng đem đầu tư
vào chứng khoán, nghĩa là gián tiếp thắt chặt thêm khối tiền tệ.
Ngược lại, khi ngân hàng trung ướng đem tiền mặt hoặc séc mua chứng
khoán trên thị trường mở, thì lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên, dự trữ của
các ngân hàng thương mại tăng lên. Mặt khác, việc ngân hàng trung ương mua
chứng khoán sẽ làm tăng cầu về chứng khoán, trong điều kiện các nhân tố khác
* Hạn mức tín dụng:
Bằng công cụ hạn mức tín dụng, ngân hàng trung ương quy định cho các
ngân hàng trung gian một hạn mức tăng tín dụng tối đa. Như vậy, biện pháp này
cho phép ngân hàng trung ương ấn định trước khối lượng tín dụng phải cung cấp
cho nền kinh tế trong một thời gian hất định. Đây là một biện pháp mạnh, có hiệu
lực đáng kể.Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị rường, cung cầu tín dụng luôn biến
động không ngừng. Do đó, công cụ này ít được áp dụng.
*Công cụ tái cấp vốn:
là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các Ngân hàng
thương mại. Khi cấp 1 khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, Ngân hàng
Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng
thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ.
xu hướng sử dụng các công cụ để điều tiết khối lượng tiền cung ứng hiện nay
sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra ở Mỹ và Châu Âu đã làm cho Việt
Nam cũng không thoát khỏi vòng xoáy của sự suy giảm kinh tế. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam suy giảm mạnh, từ mức 8,48% năm 2007 xuống còn
6,52% năm 2008 và chỉ còn 5,32% năm 2009
(1)
. Đây là mức suy thoái tồi tệ nhất
của Việt Nam trong hơn 10 năm trở lại đây
Trước tình huống đó, NHNN đã có hàng loạt các biện pháp quyết liệt và
đúng đắn để ngăn ngừa suy thoái kinh tế và dần lấy lại đà phục hồi cho nền kinh tế
Việt Nam. Nhìn chung, trong khoảng thời gian 3 năm 2007-2009, NHNN đã có
những biện pháp khá linh hoạt trong điều hành CSTT từ “thắt chặt” trong khoảng
thời gian 2007-2008 và “nới lỏng” từ đầu năm 2009-nay.
Giai đoạn “thắt chặt” CSTT
8
Năm 2007-2008 đánh dấu thời điểm lạm phát “phi mã” sau nhiều năm tốc
độ lạm phát ở mức “vừa phải”. năm 2008 nước ta được coi là “nhập khẩu lạm
phát” tức là nguyên nhân gây ra lạm phát năm 2008 chủ yếu là lạm phát do chi phí
dụng, bắt buộc các TCTD mua 20.300 tỷ tín phiếu bắt buộc có kỳ hạn 12 tháng với
lãi suất chỉ có 7,58%/năm và không được sử dụng để tái chiết khấu tại NHNN,
thực hiện các phiên giao dịch thị trường mở (OM-Open market) để “hút” tiền về.
Đồng thời Chính phủ cũng thực hiện CSTK “thắt lưng buộc bụng” nhằm hạn
chế lượng tiền trong lưu thông như tạm hoãn, giãn tiến độ các dự án đầu tư xây
dựng cơ bản kém hiệu quả (tiết kiệm hơn 40.000 tỷ VND). Dồn vốn cho các dự án
đầu tư mang lại hiệu quả tức thời cho nền kinh tế như các dự án nhà máy lọc dầu,
nhà máy điện, xi măng Chính phủ còn giao các đơn vị hành chính sự nghiệp và
doanh nghiệp nhà nước phải tiết kiệm chi thường xuyên 10%, tăng cường chống
thất thu thuế và nuôi dưỡng nguồn thu, cơ cấu lại các khoản nợ và rà soát lại các
khoản vay của các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức đánh giá hiệu quả hoạt động
đầu tư của các tập đoàn, tổng công ty thuộc sở hữa nhà nước
Giai đoạn “nới lỏng” CSTT từ cuối năm 2008 tới nay
CSTT bao giờ cũng có độ trễ thời gian nhất định. Việc “thắt chặt” tiền tệ mạnh
tay của Chính phủ đã có tác dụng làm giảm lạm phát nhanh nhưng cũng làm cho
tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại vì luồng tiền dành cho nhu cầu đầu tư, tiêu
dùng giảm, lãi suất vay vốn quá cao làm cho các doanh nghiệp không thể tiếp cận
với nguồn vốn của ngân hàng, hàng loạt doanh nghiệp vừa và nhỏ rơi vào tình
trạng khó khăn, thậm chí phá sản. Cùng với việc nền kinh tế thế giới rơi vào khủng
10
hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ do “cho vay dưới chuẩn” trong lĩnh vực bất động
sản gây ra. Mỹ, Nhật, EU và nhiều quốc gia khác rơi vào suy thoái khiến cho nhu
cầu nhập khẩu hàng hoá giảm, chu chuyển vốn đầu tư FDI, FII giảm gây khó khăn
cho việc xuất khẩu và nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam đã càng làm cho kinh tế
nước ta rơi vào suy thoái trầm trọng hơn. Vì vậy, cuối năm 2008 khi lạm phát có
xu hướng “hãm phanh” thì cũng là lúc NHNN quay lại thực hiện mục tiêu tăng
trưởng kinh tế. Việc thực hiện “thắt chặt” tiền tệ đòi hỏi kết hợp chặt chẽ giữa
CSTT và CSTK mới đem lại hiệu quả tốt nhất thì việc “nới lỏng” tiền tệ cũng đòi
hỏi việc làm tương tự. Điều đó thể hiện ở việc Chính phủ tiến hành thực hiện 5
nhóm giải pháp cấp bách nhằm “ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng
chiết khấu giảm từ 12%/năm xuống 5%/năm).
- Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND từ 11% xuống 3%; điều
hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở và hoán đổi ngoại tệ để hỗ trợ thanh khoản
cho NHTM; điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc từ 10%/năm xuống
1,2%/năm.
- Điều hành linh hoạt tỷ giá USD/VND (điều chỉnh tăng tỷ giá giao dịch
USD/VND bình quân thị trường liên ngân hàng, tăng biên độ tỷ giá giữa VND với
USD từ +3% lên +5% đối với giao dịch mua bán của các NHTM); can thiệp mua
bán ngoại tệ và thực hiện các biện pháp chống đầu cơ ngoại tệ.
- Cho phép các TCTD được xin chiết khấu, tái chiết khấu và thanh toán trước
hạn 20.300 tỷ tín phiếu bắt buộc đã mua trước hạn. Thực hiện các phiên giao dịch
thị trường mở mua vào các GTCG nhằm cung thêm vốn cho nền kinh tế thông qua
các TCTD. NHNN tiến hành nghiệp vụ bán ngoại tệ làm giảm tỷ giá để hỗ trợ nhu
12
cầu nhập khẩu thiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống, điều hoà cung cầu
ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
2. Có quan điểm cho rằng: “ Không chỉ có NHTW có chức năng phát hành
tiền vào lưu thông” quan điểm trên đúng hay sai? Vì sao?
Trả lời: sai (gợi ý như vậy thôi,tự chém gió tiếp nhá…há há)
Ngân hàng nhà nước việt nam(hay còn gọi là NH dự trữ hay cơ quan hữu
trách tiền tệ) là cơ quan quản lý hệ thống tiền tệ quốc gia,thi hành chính sách
tiền tệ,phát hành tiền,ổn định giá trị đồng tiền,ổn định cung tiền,kiểm soát
lãi suất,là cứu cánh của các NHTM đang có nguy cơ đổ vỡ…
Nếu tổ chức tín dụng nào cũng phát hành được tiền thì nền kinh tế không thể
ổn định,gây ra loạn tỷ giá và còn nhiều vấn đề khách nữa nảy sinh
3. Trình bày nội dung các khối tiền trong nền kinh tế? Trong tương lai cơ
cấu các khối tiền sẽ thay đổi như thế nào?
Trả lời:
* nội dung các khối tiền trong nền kinh tế
Khối lượng tiền trong lưu thông là tất cả các phương tiện được chấp nhận
trong đó quan trọng nhất là:
- Số lượng các phương tiện được phát hành từ ngân hàng
- Các phương tiện được phát hành từ các tổ chức tài chính không phải ngân
hàng
- Các phương tiện được phát hành từ doanh nghiệp
14
- Các phương tiện được phát hành từ chính phủ
Nếu tài sản tích lũy của dân cư và doanhn ghiệp đưa vào đầu tư lớn, thì số
lượng các phương tiện lưu thông sẽ tăng lên. Nếu tài sản này bị lưu giữ thì không
những các phương tiện lưu thông bị giảm thấp, mà còn làm cho nền kinh tế bị trì
trệ.
* Trong tương lai cơ cấu các khối tiền sẽ thay đổi như thế nào?
4. Nguyên nhân của lạm phát là gì? Giải pháp kiểm soát lạm phát? Vận
dụng vào thực tế ở Việt Nam hiện nay?
Trả lời:
- lạm phát là hiện tượng phát hành tiền vào lưu thông quá lớn, vượt quá
số lượng tiền cần thiết trong lưu thông, làm cho sức mua của đồng tiền
giảm sút không phù hợp với giá trị danh nghĩa mà nó đại diện.
- Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng lạm phát trong nền kinh tế:
Khi xem xét nguyên nhân dẫn đến lạm phát, người ta thường chia thành các
nhóm nguyên nhân như sau:
- Nhóm nguyên nhân liên quan đến các chính sách của Nhà nước: Lạm phát do
nguyên nhân này thường xảy ra khi có những thay đổi về chính sách tài chính-tiền
tệ của Chính phủ như chính sách thu chi NSNN, chính sách tiền tệ, chính sách giá
cả, chính sách tỷ giá,…làm cho khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế biến động hay
làm cho giá ngoại tệ tăng lên. Nhìn chung, Chính phủ chỉ ra những quyết định thay
đổi các chính sách trên nhằm mục đích điều tiết vĩ mô theo hướng có lợi cho nền
kinh tế, nhưng đôi khi do không lường trước được những biến động thực tế nên đã
gây ra tình trạng lạm phát. Chẳng hạn, trong một số trường hợp do sự thay đổi
15
Thông thường, một nền kinh tế xảy ra lạm phát không thể chỉ bắt nguồn bởi
một hoặc một nhóm nguyên nhân, mà sẽ là kết quả của tổng hợp tác động của
nhiều nguyên nhân nêu trên.
Các biện pháp kiểm soát lạm phát.
Về dài hạn, việc kiềm chế lạm phát, giữ giá trị tiền tệ ổn định sẽ tạo điều
kiện tăng sản lượng thực tế và giảm thất nghiệp. Vì thể duy trì sự ổn định tiền tệ là
mục tiêu dài hạn của bất kỳ nền kinh tế nào. Nhưng trong từng thời kỳ việc lựa
chọn cac giải pháp kiềm chế lạm phát cũng như mức độ tác động của nó phải phù
hợp với yêu cầu tăng trưởng và các áp lực xã hội mà nền kinh tế phải gánh chịu.
Chính phủ các nước có thể chọn chiến lược giảm lạm phát từ từ, ít gây biến động
cho nền kinh tế hoặc chiến lược giảm tỷ lệ lạm phát nhanh chóng tạo nên sự giảm
mạnh về sản lượng trong quá trình điều chỉnh.
a. Giải pháp cấp bách:
Đây được coi là những giải pháp tình thế, được áp dụng với mục đích giảm
tức thời "cơn sốt" lạm phát để có cơ sở áp dụng các giải pháp chiến lược lâu dài.
- Biện pháp về tiền tệ- tín dụng: Mục đích là giảm bớt lượng tiền mặt trong
lưu thông, và kiểm soát được quá trình lưu thông tiền tệ.
+ Quản lí chặt chẽ việc cung ứng tiền, thực hiện chính sách đóng băng tiền
tệ.
+ Quản lí và hạn chế thật mạnh khả năng "tạo tiền" của NHTM bằng cách
tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, xiết chặt tín dụng,…
17
+ Nâng cao lãi suất tín dụng: Để biện pháp này thật sự có hiệu quả thì mức
lãi suất phải đủ "hấp dẫn" và biến động theo tỷ lệ lạm phát, đảm bảo lãi suất thực
phải lớn hơn 0.
+ Các NHTM phải đa dạng hoá các hình thức huy động vốn nhàn rỗi trong
công chúng: phát hành các loại trái phiếu, tín phiếu ngân hàng,…
- Biện pháp về tài chính ngân sách: Mục đích là làm giảm bớt tình trạng mất
cân đối trong thu chi NS tiến tới cân bằng ngân sách.
+ Tiết kiệm chi NS bằng cách cắt giảm các khoản chi không tác động một
nước.
- Nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lí Nhà nước, vì vai trò của Nhà nước
đối với quản lí kinh tế vĩ mô là rất to lớn. Nhà nước là người duy nhất đảm bảo
tính công bằng và ổn định trong kinh tế, đồng thời Nhà nước có thể tác động để
thúc đẩy hiệu quả và tăng trưởng kinh tế.
Để thực hiện được mục tiêu này cần phải tinh giản biên chế, kiện toàn bộ
máy hành chính, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi NSNN, ổn định
ngân sách vững chắc và ổn định tiền tệ.
Vân dụng vào thực tế ở việt nam
19
1. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam thời gian qua
Trong quá khứ Việt Nam có thời gian phải chịu lạm phát phi mã, với mức sụt giá
của tiền đồng lên đỉnh hơn 700% vào năm 1987. Kể từ năm 1993, lạm phát đã
được khống chế khá tốt và thường dưới 2 con số.
Giai đoạn từ năm 1999 đến 2001 là thời kỳ lạm phát thấp nhất của Việt Nam.
Trong khoảng thời gian này, CPI lần lượt chỉ ở mức 0.1%, -0.6% và 0.8%. Thời kỳ
này gắn liền với giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 – 1998.
Lạm phát ở Việt Nam bắt đầu tăng cao từ năm 2004, cùng với giai đoạn bùng nổ
của kinh tế thế giới và việc tăng giá của nhiều loại hàng hóa. Năm 2007, chỉ số CPI
tăng đến 12.6% và đặc biệt tăng cao vào những tháng cuối năm.
Năm 2008 là một năm đáng nhớ đối với kinh tế vĩ mô cũng như tình hình lạm phát
ở Việt Nam. CPI đã liên tục tăng cao từ đầu năm, và mức cao nhất của CPI tính
theo năm của năm 2008 đã lên đến 30%. Kết thúc năm 2008, chỉ số CPI tăng
19.89%, tính theo trung bình năm tăng 22.97%.
Năm 2009, suy thoái của kinh tế thế giới khiến sức cầu suy giảm, giá nhiều hàng
hóa cũng xuống mức khá thấp, lạm phát trong nước được khống chế. CPI năm
2009 tăng 6.52%, thấp hơn đáng kể so với những năm gần đây. Tuy vậy, mức tăng
này nếu so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới lại cao hơn khá nhiều.
Năm 2010, chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát CPI cuối kỳ khoảng 7%. Mục tiêu
này có thể không được hoàn thành khi 2 tháng đầu năm CPI đã tăng 3.35%. Ngoài
nhiên liệu như xăng dầu, sắt thép, và lương thực đều tăng mạnh, kích hoạt cho một
đợt tăng giá mạnh mẽ của hầu hết các hàng hóa và dịch vụ trong nước. Lạm phát
cao nhất tính theo năm đã lên tới 28% vào tháng 8/2008. Cuối năm 2008, với sự
lao dốc của hầu hết các hàng hóa trên thế giới, lạm phát trong nước cũng được
chặn đứng. Lạm phát giảm xuống mức thấp nhất chỉ còn 1.97% (YoY) vào tháng
8/2009.
Lạm phát các tháng đầu năm 2011 có các nguyên nhân chủ yếu như sau.
Thứ nhất doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tăng giá 2 lần (ngày 24/2 và ngày
29/3), mỗi lít xăng tăng khoảng 30%, dầu tăng khoảng 38% đã tác động trực tiếp
tăng chỉ số giá nhóm giao thông vận tải và gián tiếp nhiều vòng đến hoạt động sản
xuất của các lĩnh vực khác.
Nguyên nhân thứ hai là giá điện cho sản xuất và sinh hoạt cũng được điều chỉnh
tăng khoảng 15,3% áp dụng từ 1/3.
Thứ ba là ảnh hưởng của tỷ giá giữa VND và USD, đồng Việt Nam mất giá mạnh
trong 3 tháng đầu năm đã làm tăng giá nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu (trong
điều kiện nước ta còn phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu từ
22
nước ngoài để sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước). Đây là nguyên
nhân chúng ta bị tăng giá kép từ giá thế giới và thay đổi tỷ giá.
Thứ tư là ảnh hưởng từ những tháng cuối năm 2010 chi đầu tư từ ngân sách và của
các doanh nghiệp tăng khá nhanh làm cho lượng tiền trong lưu thông lớn.
Thứ năm là yếu tố tâm lý (cả người tiêu dùng và người bán lẻ) từ việc nhà nước
điều chỉnh tăng tiền lương tối thiểu cho khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu
vực hành chính sự nghiệp từ 1/1 và 1/5/2011.
3.giải pháp kiểm soát lạm phát
- Điều chỉnh mục tiêu kinh tế xã hội nước ta trong ngắn hạn và dài hạn.
+ Giải pháp ngắn hạn: thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, tăng dự trữ bắt buộc,
giảm số nhân tiền tệ, tăng lãi suất chiết khấu- tái chiết khấu, tái cấp vốn, giảm cung
tiền , kiểm soát dư nợ tín dụng, giảm giá USD theo tín hiệu thị trường quốc tế để
hạn chế một phần tác động của lạm phát quốc tế (nhiều nước đã làm từ tháng
doanh nghiệp trong nước, đảm bảo an ninh lương thực, khuyến khích và hỗ trợ tích
cực cho việc phát triển nông nghiệp- nông thôn, phòng trừ dịch họa và thiên tai,
tăng cường công tác dự báo để có chính sách kịp thời, tăng dự trữ ngoại hối quốc
gia…
24
Ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế xã hội? Liên hệ thực tế Việt Nam
hiện nay?
Trả lời:
Nhìn chung, lạm phát có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế xã
hội tuỳ theo mức độ của nó.
- Nếu lạm phát ở mức độ vừa phải thì nó sẽ có tác dụng kích thích nền kinh
tế xã hội phát triển. Thậm chí nhiều nước còn coi đây là như là một chính
sách của Nhà nước để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
LP vừa phải tạo nên một sự chênh lệch giá cả hàng háo,dịch vụ giữa các
vùng làm cho thương mại năng động hơn.Do chênh lệch giá giữa các vùng
thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng thị trường để tìm kiếm thị trường mang
lại nhiều lợi nhuận hơn.Chính việc mở rộng thị trường của các DN gây ra
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp(cùng sx một loại mặt hàng và những
doanh nghiệp sx kinh doanh những mặt hàng khác nhau).Cạnh tranh khiến
các dn muốn tồn tại và phát triển thì phải đưa ra thị trường nhiều sp có chất
lượng cao hơn,giá cả hấp dẫn hơn.Do vậy thương mại năng động hơn.
LP vừa phải làm cho nội tệ mất giá nhẹ so với ngoại tệ.Đây là lợi thế để các
dn đẩy mạnh xk tăng thu ngoại hối.khuyến khích sx trong nước ptrien.Muốn
đẩy mạnh xk thì phải tạo được thương hiệu của sp trên thị trường thế giới,tạo
đc uy tín thương hiệu.
LP vừa phải thường tương đồng với một tỷ lệ thất nghiệp nhất định.Đó là
yếu tố buộc người lao động muốn có việc làm thì pahri nâng cao trình độ
chuyên môn,cạnh tranh chỗ làm việc.Như vậy người sử dụng ld có cơ hội
tuyển chọn đc lao đông có chất lượng cao hơn.
25