MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 3
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
ĐẶC ĐIỂM KHÁC BIỆT CƠ BẢN NHẤT GIỮA NHTM VÀ NGÂN HÀNG TRUNG GIAN KHÁC LÀ: TỔNG TÀI
SẢN CÓ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI LUƠN LÀ KHỐI LƯỢNG LỚN NHẤT TRONG TOÀN BỘ HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG. HƠN NỮA, KHỐI LƯỢNG SÉC HAY TÀI KHOẢN TIỀN GỬI KHÔNG KỲ HẠN MÀ NÓ CÓ THỂ
TẠO RA CŨNG LÀ BỘ PHẬN QUAN TRỌNG TRONG TỔNG CUNG TIỀN TỆ M1 CỦA NỀN KINH TẾ 4
NGHIỆP VỤ CƠ BẢN CỦA NHTM XOAY QUANH VIỆC KINH DOANH TIỀN TỆ. CỤ THỂ LÀ CÁC NGHIỆP
VỤ SAU: 7
* NGHIỆP VỤ TÀI SẢN NỢ: 7
NGHIỆP VỤ NỢ CỦA NHTM LÀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN BẰNG NHIỀU HÌNH THỨC KHÁC NHAU ĐỂ
TẠO NGUỒN VỐN HOẠT ĐỘNG. CÁC NGUỒN VỐN CUNG CẤP VỐN CHO NHTM BAO GỒM CÁC LOẠI
TIỀN GỬI CÁ NHÂN, TỔ CHỨC KINH DOANH, TỔ CHỨC PHI THƯƠNG MẠI KHÁC; CÁC LOẠI TIỀN VAY
NGẮN HẠN VÀ DÀI HẠN CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐẦU TƯ VÀ CÁC NGÂN HÀNG KHÁC; TIỀN KỲ PHIẾU, NHỜ
THU, CHẬM TRẢ, … NHỮNG NGUỒN HUY ĐỘNG QUAN TRỌNG NHẤT LÀ: 7
- CÁC LOẠI TIỀN GỬI: 7
+ TIỀN GỬI KHÔNG KỲ HẠN: LÀ SỐ TIỀN NẰM TRONG TÀI KHOẢN VÃNG LAI HOẶC TÀI KHOẢN THANH
TOÁN CỦA KHÁCH HÀNG VÀ CÓ THỂ RÚT RA BẤT CỨ LÚC NÀO 7
+ TIỀN GỬI CÓ KỲ HẠN: GỒM 2 LOẠI, LOẠI TỚI HẠN ĐƯỢC RÚT RA VÀ LOẠI RÚT RA PHẢI BÁO TRƯỚC.
LOẠI THỨ NHẤT SẼ BỊ PHONG TOẢ TOÀN BỘ TRONG THỜI GIAN TRƯỚC KHI TỚI HẠN VÀ CHỊU SỰ CHI
PHỐI CỦA TOÀN BỘ NGÂN HÀNG. NẾU SAU KHI ĐÁO HẠN, KHÁCH HÀNG KHÔNG RÚT TIỀN RA THÌ SỐ
TIỀN ĐÓ SẼ ĐƯỢC XỬ LÝ NHƯ MỘT TÀI KHOẢN TIỀN GỬI KHÔNG KỲ HẠN. LOẠI THỨ HAI LÀ LOẠI
TIỀN GỬI CÓ KỲ HẠN MÀ KHI RÚT RA NGƯỜI GỬI PHẢI BÁO TRƯỚC CHO NGÂN HÀNG THEO CÁC ĐIỀU
KHOẢN MÀ KHÁCH HÀNG VÀ NGÂN HÀNG ĐÃ THOẢ THUẬN. 7
+ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM: TIỀN GỬI TIẾT KIỆM LÀ NGUỒN VỐN QUAN TRỌNG CỦA NGÂN HÀNG. ĐẶC
ĐIỂM CỦA LOẠI TIỀN GỬI NÀY LÀ NGƯỜI GỬI TIỀN ĐƯỢC NGÂN HÀNG GIAO CHO MỘT QUYỂN SỔ TIẾT
KIỆM. SỔ NÀY ĐƯỢC COI NHƯ GIẤY CHỨNG NHẬN CÓ TIỀN GỬI VÀ QUỸ CỦA NGÂN HÀNG 7
- NGUỒN VỐN VAY: NGÂN HÀNG CÓ THỂ HUY ĐỘNG VỐN VAY BẰNG CÁCH VAY NGẮN, TRUNG HOẶC
DÀI HẠN TỪ NGÂN HÀNG HAY TỔ CHỨC TÍN DỤNG KHÁC HOẶC NHẬN UỶ THÁC ĐẦU TƯ CỦA CÁC TỔ
CHỨC TÀI TRỢ (CHÍNH PHỦ HAY QUỐC TẾ) ĐỂ CHO VAY ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC
LỰA CHỌN 7
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NNO&PTNT CHI NHÁNH HÀ TÂY 39
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH NHNO&PTNT-CHI NHÁNH HÀ TÂY. .39
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nền Kinh tế thị trường mở cửa,hội nhập đã mang đến cho các doanh nghiệp
rất nhiều thời cơ thuận lợi,đồng thời nó cũng đặt cho các doanh nghiệp cùng
ngành,cùng quốc gia mà còn cả với các doanh nghiệp thuộc các ngành,các quốc
gia,các khu vực tên toàn cầu.Tài chính-Ngân hàng cũng không nằm ngoài phạm vi
đó.Đặc biệt trong những năm gần đây hoạt động của ngành này có vai trị vô cùng
quan trọng đối với nền tài chính quốc gia,kích thích,ổn định duy trì sự phát triển của
toàn bộ nền kinh tế.Vì vậy,để có nền kinh tế vững mạnh thì điều kiện cần là phải có
một hệ thống Ngân hàng ổn định,hiện đại đủ khả năng đáp ứng nhu cầu vốn và điều
tiết nền kinh tế.
Thực chất hoạt động của Ngân hàng bao gồm rất nhiều nghiệp vụ,nhưng quan
trọng nhất là nghiệp vụ tín dụng vì nó là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển
của Ngân hàng.Do đó,thực hiện công tác tín dụng có hiệu quả,chất lượng tốt,giảm
thiểu rủi ro có ý nghĩa vô cùng quan trọng.Điều này góp phần quảng bá,nâng cao
hình ảnh thương hiệu,uy tín,tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường lien ngân hàng nói
riêng và thị trường tài chính nói chung,giúp Ngân hàng thu hút được khách hàng về
phía mình.
Việt Nam là một đất nước đang phát triển,trong khi đó ngành Ngân hàng còn
rất yếu về chuyên môn,nghiệp vụ và công nghệ.Do đó,nâng cao chất lượng hoạt
động tín dụng luôn là công tác được quan tâm hàng đầu,nhằm hạn chế tối thiểu
những rủi ro tối thiểu có thể xảy ra,tác động xấu đến nền kinh tế.
Đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo&PTNT-chi nhánh
Hà Tây” là một hệ thống những lý luận khái niệm về chất lượng hoạt động tín dụng
của Ngân hàng.Mặt khác,nó gắn liền với thực tiễn:đi sâu tìm hiểu,nghiên cứu thực
trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng từ đó phân tích,tìm ra yếu tố hợp lý,những
tồn tại và các căn nguyên đưa ra các giải pháp khắc phục,đổi mới sao cho phù hợp
hơn,hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của chi nhánh.
trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền
hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng
nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện
thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy
nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách
hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
Đặc điểm khác biệt cơ bản nhất giữa NHTM và ngân hàng trung gian khác là:
Tổng tài sản Có của ngân hàng thương mại luơn là khối lượng lớn nhất trong toàn
bộ hệ thống ngân hàng. Hơn nữa, khối lượng séc hay tài khoản tiền gửi không kỳ
hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền tệ M1 của
nền kinh tế.
1.1.2.Vai trò của NHTM trong nền kinh tế
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổ biến nhất
hiện nay. Đây là tổ chức nhận tiền gửi (depository institutions) đúng vài trị là trung gian
tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông qua các dịch vụ nhận tiền gửi rồi cung cấp cho
những chủ thể cần vốn chủ yếu dưới hình thức các khoản vay trực tiếp. Các ngân hàng
thương mại huy động vốn chủ yếu dưới dạng: tiền gửi thanh toán (checkable deposits),
tiền gửi tiết kiệm (saving deposits), tiền gửi có kỳ hạn (time deposits). Vốn huy động
được dựng để cho vay: cho vay thương mại (commercial loans), cho vay tiêu dùng
(consumer loans), cho vay bất động sản (mortage loans) và để mua chứng khoán chính
phủ, trái phiếu của chính quyền địa phương. Ngân hàng thương mại dự ở quốc gia nào
cũng đều là nhóm trung gian tài chính lớn nhất, cũng là trung gian tài chính mà các chủ
thể kinh tế giao dịch thường xuyên nhất.
1.1.3.Chức năng của NHTM:
Hiện nay các ngân hàng thương mại có rất nhiều chức năng nhưng khóa luận đề cập
tới 3 chức năng chính và cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.3.1.Chức năng trung gian tín dụng:
khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản
tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khác thu khác theo lệnh của họ.
Việc ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý
nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Với chức năng này, các ngân hàng
thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc,
ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,…Tùy theo
nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ
đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ
nợ, gặp người phải thanh toán dự ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương
thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết
kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng
này mô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tố
độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Đồng thời việc thanh toán
không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông,
dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản,
…
Ngân hàng thương mại thu phí thanh toán. Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn
cho vạy của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng.
1.1.3.3.Chức năng tạo tiền :
Chức năng này được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của Ngân hàng
thương mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng
trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền
cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong
khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ
phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ…
Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện
thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Rõ
ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do NHTW phát
hành mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các ngân
hàng thương mại tạo ra.
phát hành các loại chứng khoán (kỳ phiếu, trái phiếu, …) để huy động vốn từ dân
cư hay tổ chức, công ty nào đó …
* Nghiệp vụ tài sản có:
Nghiệp vụ có là nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn huy động của NHTM vào các
hoạt động kinh doanh chủ yếu sau:
- Nghiệp vụ cho vay: Là việc NHTM cho khách hàng vay một số tiền để họ sử
dụng trong một thời gian nhất định và khi hết hạn vay, người vay phải trả ngân hàng
một khoản tiền bao gồm cả gốc và lãi.
- Nghiệp vụ bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết trả thay cho khách hàng
trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán. Cách cho vay như vậy
gọi là tín dụng bảo lãnh.
- Nghiệp vụ trung gian: trong hoạt động ngân hàng, các dịch vụ ngân hàng
được coi là các nghiệp vụ bên thứ ba bên cạnh nghiệp vụ có và nghiệp vụ nợ. Thông
thương ngân hàng cung cấp các dịch vụ trung gian như:
+ Thanh toán, ngoại hối, vàng bạc đá quý, nhờ thu, …
+ Nhận uỷ thác, ký gửi, …
Trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ của mình, ngân hàng phải đối diện
với rất nhiều rủi ro: rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro quản lý, …
1.2. Tín dụng ngân hàng
1.2.1. Khái niệm:
-Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị( dưới hình
thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian
nhất định thu hồi về một lượng gía trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
-Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dựng một
tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các
nghiệp vụ cho vay, chiết khấu(tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ khác
1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế thường xuyên có một số các doanh nghiệp trong quá trình
sản xuất kinh doanh có 1 bộ phận vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi được tách ra khỏi
1.2.3. Phân loại tín dụng ngân hàng
1.2.3.1. Căn cứ vào thời hạn
Theo căn cứ này tín dụng được chia ra làm ba loại:
- Tín dụng ngắn hạn: Loại tín dụng này có thời hạn đến 1 năm và được sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và phục
vụ các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: Loại tín dụng này có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm. Và
chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết
bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ
và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn
là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở,
các thiết bị, phương tiện vận tải có qui mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
1.2.3.2. Căn cứ vào mức độ đảm bảo
Theo căn cứ này tín dụng được chia thành:
- Tín dụng không có đảm bảo: Là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa và uy tín của bản
thân khách hàng.
- Tín dụng có đảm bảo: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở các quan hệ đảm bảo
như: cầm cố, thế chấp hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba.
1.2.3.3. Căn cứ vào mục đich sử dụng tiền vay
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: Là loại tín dụng cấp cho các nhà
doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá.
- Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân như:
du lịch, mua sắm…
1.2.3.4. Căn cứ vào phương thức cấp tín dụng
- Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng cấp vốn trực
tiếp cho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả
nợ vay cho ngân hàng.
- Tín dụng gián tiếp: Là hình thức tín dụng được thực hiện thông qua việc mua
hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách
hàng và đảm bảo khả năng thu nợ. Nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi,
tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Bước 5: Giám sát tín dụng
Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của
khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng, để
đảm bảo khả năng thu nợ.
Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng
1.3. Chất lượng tín dụng ngân hàng
1.3.1. Khái niệm về chất lượng tín dụng
Trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển, quy mô và số lượng các doanh
nghiệp trong nền kinh tế càng ngày càng gia tăng. Để đứng vững trong điều kiện
cạnh tranh gay gắt của thị trường thì ngoài vấn đề số lượng và giá cả, vấn đề chất
lượng hàng hóa cũng là yếu tố quan trọng góp phần duy trì sự ổn định và phát
triển lâu dài của doanh nghiệp. Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề chất
lượng. Theo quan niệm của một số nhà kinh tế, “ chất lượng là sự phù hợp mục
đích của người sản xuất và người sử dụng về một loại hàng hóa nào đó” hay “ chất
lượng là năng lực của một sản phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn nhu cầu khách hàng”.
Trên cơ sở đó, chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại là sự đáp ứng
nhu cầu của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của chính ngân hàng,
phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội. Chất lượng tín dụng được hình thành và
đảm bảo từ hai phía: ngân hàng và khách hàng. Bởi vậy, chất lượng tín dụng của
ngân hàng không những phụ thuộc vào bản thân ngân hàng mà còn phụ thuộc vào
chất lượng hoạt động của khách hàng. Khi nghiên cứu chất lượng tín dụng của
ngân hàng có thể nghiên cứu trên ba giác độ: từ phía khách hàng, từ phía nền kinh
tế và từ bản thân ngân hàng thương mại.
Thứ nhất, đối với khách hàng: chất lượng tín dụng thể hiện đã thỏa mãn
được bao nhiêu trong số những yêu cầu đặt ra của khách hàng. Từ khía cạnh
của khách hàng vay vốn, chất lượng tín dụng tốt đảm bảo được các yêu cầu
như thủ tục đơn giản, giải ngân nhanh chóng, lãi suất thấp, ngân hàng cung
Một khoản tín dụng có chất lượng sẽ đáp ứng được nhu cầu của khách
hàng về cả khối lượng, thời hạn vay, các thủ tục liên quan. Khách hàng có thể
tiếp cận vốn tín dụng dễ dàng thuận tiện. Hơn thế nữa để đảm bảo an toàn cho
vốn tín dụng của mình ngân hàng sẽ thường xuyên kiểm tra, giám sát tình
hình sử dụng vốn của khách hàng. Nếu có khâu nào trong quá trình kinh
doanh còn yếu kém hay thị trường biến động gây bất lợi cho hoạt động của
khách hàng, ngân hàng sẽ có góp ý điều chỉnh và đưa ra lời khuyên cho khách
hàng. Từ đó, hoạt động kinh doanh của khách hàng sẽ tốt hơn, hiệu quả đạt
được sẽ cao hơn.
1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng
1.3.3.1. Chỉ tiêu định tính
- Chất lượng tín dụng được thể hiện qua việc chấp hành pháp luật và quy định
về hoạt động tín dụng của NHTM như: luật ngân hàng nhà nước, luật tổ chức tín dụng,
việc chấp hành văn bản chỉ đạo của Nhà nước, Chính phủ và của ngân hàng, chấp hành
quy chế, quy trình nghiệp vụ, chế độ, thể lệ tín dụng trong quá trình thực hiện quy trình
cho vay.
-Chất lượng tín dụng thể hiện qua công tác quan hệ với khách hàng:
không những duy trì được những khách hàng truyền thống mà còn thu hút
được nhiều khách hàng mới đến vay vốn. Ngoài ra, thiện chí trong việc trả nợ của
khách hàng cũng là một yếu tố quan trọng cần phải xem xét khi đánh giá chất lượng
tín dụng.Chất lượng tín dụng có được cải thiện hay không một phần phụ thuộc vào
thiện chí trong việc trả nợ của khách hàng.
-Chất lượng tín dụng thể hiện qua thiện chí trả nợ của khách hàng: Khách
hàng cũng là một yếu tố quan trọng cần phải xem xét khi đánh giá chất lượng tín
dụng, họ chính là một phần trong quan hệ tín dụng, góp phần vào sự thành công của
ngân hàng. Chất lượng tín dụng có được cải thiện hay không một phần phụ thuộc
vào thiện chí trong việc trả nợ của khách hàng. Mà để đánh giá một khách hàng có
thiện chí trong việc trả nợ hay không là một vấn đề không hề đơn giản. Bởi lẽ, sự
thiện chí trong việc trả nợ là một chỉ tiêu định tính, khó lượng hoá được.
Chỉ tiêu định tính rất khó lượng hóa nên trong quá trình thực tế để đánh giá chất
Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng còn yếu kém, không có khả
năng mở rộng khách hàng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém, trình độ cán bộ công
nhân viên thấp…Mặc dù vậy, chỉ tiêu này cao thì chưa hẳn chất lượng khoản vay tốt.
Song nếu tổng dư nợ tăng liên tục qua các năm thì lại cho thấy chiều hướng tăng lên của
chất lượng tín dụng.
Chỉ tiêu thứ ba: Hiệu suất sử dụng vốn
Hiệu suất sử dụng vốn =
Tổng dư nợ cho vay
X 100
Tổng nguồn vốn huy động
Chỉ tiêu này cho ta biết trong một đồng vốn huy động được thì bao nhiêu đồng
được sử dụng trong cho vay. Đây là chỉ tiêu phản ánh quy mô, khả năng tận dụng
nguồn vốn trong cho vay của các ngân hàng thương mại. Hiệu suất sử dụng càng cao
thì hoạt động kinh doanh ngày càng có hiệu quả và ngược lại.
Chỉ tiêu thứ tư: Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn doanh số thu nợ
tín dụng =
dư nợ bình quân
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng, phản ánh tốc độ
luân chuyển vốn nhanh hay chậm. Vòng quay của vốn tín dụng càng cao càng
chứng tỏ nguồn vay ngân hàng luân chuyển càng nhanh, tham gia càng nhiều vào
chu kì sản xuất và lưu thông hàng hoá. Hệ số này cao phản ánh tình hình sản xuất
kinh doanh của khách hàng tốt, có tình hình tài chính vững chắc, đây là cơ sở để
khách hàng thực hiện những cam kết trên hợp đồng tín dụng. Về phía Ngân hàng,
vòng quay của vốn tín dụng thể hiện khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng, chất
lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng giải quyết hợp lý giữa ba
lợi ích: Nhà nước, khách hàng và Ngân hàng. Chỉ tiêu này được các NHTM tính
toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín
dụng. Chỉ tiêu này cao là do doanh số thu nợ cao và dư nợ bình quân thấp.
Chỉ tiêu thứ tư: Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng
hàng là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp.
- Chi trả kiều hối, kinh doanh nghoại tệ.
- Thanh toán quốc tế và tài trợ XNK.
- Chuyển tiền nhanh qua mạng điện tử.
- Thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh.
- Chi trả lương cán bộ, công nhân viên
- Ủy thác đầu tư trong và ngoài tnước.
Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, NHNo&PTNT Hà Tây đã không
ngừng hoàn thiện nguyên tắc tổ chức, đào tạo cán bộ, trang thiết bị phương tiện kĩ
thuật để phục vụ hoạt động ngân hàng ngày càng tốt hơn.
NHNo&PTNT Hà Tây là ngân hàng đầu tiên của tỉnh Hà Tây trước đây được phong
tặng danh hiệu Anh hùng lao động và chi nhánh luôn làm tốt hoạt động của mình để xứng
đáng với danh hiệu do Chủ tịch nước ban tặng.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của chi nhánh NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây
Bảng 2.1. Sơ đồ tổ chức NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây
( Nguồn: theo C/V 1034/NHNo-HCSH v/v mô hình tổ chức NHNo Hà Tây)
Đến nay chi nhánh NHNo&PTNT Hà Tây có 17 chi nhánh loại 3, 58 phòng
giao dịch ở 14 huyện, thành phố. Với mạng lưới rộng khắp cùng với sự chỉ đạo
giám sát của ban lãnh đạo NHNo&PTNT Hà Tây đã có những bước tiến vượt bậc,
thị phần của chi nhánh chiếm tới 60% trên địa bàn hoạt động.
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHNo&PTNT chi
nhánh Hà Tây
2.1.3.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Hà Tây các năm từ
2008 đến 2010
Huy động tiền gửi là công việc đầu tiên, làm nền tảng cho những hoạt động
tiếp theo của quá trình kinh doanh ngân hàng. Muốn mở rộng hoạt động tín dụng
của mình thì Ngân hàng cần phải mở rộng hoạt động huy động tiền gửi, vì thế bất
kỳ Ngân hàng nào cũng chú trọng đến hoạt động này. Với vị trí và uy tín đã tạo
dựng, NHNo&PTNT Hà Tây đã hoàn thành tốt công tác huy động tiền gửi theo kế
hoạch đã xây dựng.
VND
768 10,08 738 9,26 765 8,44
III. Theo kỳ hạn 7621 100 7974 100 9060 100
1. Tiền gửi KKH 1727 22,66 1834 23 1513 17
2. Tiền gửi có kì hạn 5894 77,34 6140 77 7547 83
( Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của NHNNo&PTNT chị
nhánh Hà Tây năm2008,2009,2010)
Qua bảng trên ta thấy hoạt động huy động tiền gửi của Chi nhánh Hà Tây có
nhiều thay đổi nhưng nhìn chung tăng qua các năm. Năm 2008, tổng nguồn vốn huy
động được là 7621 tỷ đồng, năm 2009 tăng thành 7947 tỷ đồng, tăng 4,27% so với
2008 và đến năm 2010 là 9060 tỷ đồng, tăng 14% so với năm trước.
Năm 2008 là năm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ và lan rộng ra
toàn cầu khiến cho nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng
cũng ảnh hưởng ít nhiều đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động của
ngành ngân hàng nói riêng. Hoạt động của Chi nhánh Hà Tây cũng ảnh hưởng ít
nhiều. Tuy nhiên, sau hơn một năm hoạt động, với những biện pháp thu hút tiền
nhàn rỗi từ dân cư như tăng lãi suất cùng xác chương trình khuyến mại, tiết kiệm dự
thưởng, ưu đãi đặc biệt với khách hàng khi gửi tiết kiệm, tổng tiền gửi huy động
được cả năm 2008 đạt 7621 tỷ đồng.
Xác định được huy động tiền gửi là một hoạt động quan trọng của ngân hàng
nên sang năm 2009, Chi nhánh Hà Tây đã đưa ra hàng loạt các biện pháp như đẩy
mạnh hoạt động chăm sóc khách hàng, phát triển nhiều kênh huy động vốn hấp dẫn
hơn, tăng cường triển khai quảng bá thương hiệu và nâng cao chất lượng cơ sở vật
chất nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng cùng với thái độ phục vụ tận
tình, chu đáo, tổng tiền gửi huy động được cả năm 2009 là 7947 tỷ đồng
Với vai trò trụ cột đối với nền kinh tế đất nước, chủ đạo, chủ lực trên thị
trường tài chính nông nghiệp, nông thôn, NHNo & PTNT Việt Nam chú trọng mở
rộng mạng lưới hoạt động xuống khắp các huyện, xã nhằm tạo điều kiện cho khách
hàng ở mọi vùng miền đất nước dễ dàng và an toàn được tiếp cận giao dịch với
ngân hàng. Hiện nay NHNo & PTNT Việt Nam có số lượng khách hàng đông đảo
Có được kết quả tích cực trên là do ngân hàng có chủ trương huy động linh
hoạt, hợp lý với về lãi suất, kỳ hạn cũng như hình thức huy động phù hợp. Đối với
khách hàng tổ chức kinh tế, tuy là nguồn vốn có tính ổn định thấp song cũng rất
quan trọng nhằm thu hút các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ của ngân hàng.
NHNo&PTNT Hà Tây có một lợi thế khá mạnh so với các NHTM khác trên
địa bàn là thu hút được nguồn vốn ủy thác đầu tư từ nguồn tiền của kho bạc Nhà
nước. Những nguồn vốn này khá rẻ so với các nguồn vốn khác song lại chiếm tỷ
trọng không nhỏ, nó góp phần làm tăng lợi nhuận cho chi nhánh.
Bên cạnh nguồn vốn nội tệ huy động được, chi nhánh cũng thúc đẩy việc huy
động nguồn vốn ngoại tệ, bởi vì nguồn vốn này đóng vai trị quan trọng trong việc