1
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Chương 1: Một số vấn đề liên quan đến biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo
đảm trong tố tụng hình sự
I. Tổng hợp lý thuyết về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo trong
tố tụng hình sự
1. Khái niệm biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
1.1Khái niệm biện pháp ngăn chặn
1.2Khái niệm biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
2. Mục đích và căn cứ áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản
2.1Mục đích
2.1.1 Mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn
2.1.2 Mục đích áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản
2.2Căn cứ áp dụng
2.2.1 Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn
2.2.2 Căn cứ áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản
3. Đối tượng áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản
4. Thẩm quyền, thủ tục, thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá
trị để bảo đảm
4.1Thẩm quyền áp dụng
4.2Thủ tục áp dụng
4.3Thời hạn áp dụng
5. Giá trị tiền, tài sản và việc quản lý tiền, tài sản do bị can, bị cáo đặt
6. Hậu quả pháp lý khi bị can, bị cáo không thực hiện đúng nghĩa vụ khi cam
kết
II. Lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có
giá trị để bảo đảm
1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988
2. Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003
III. Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự một số
biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Bài tiểu luận này nghiên cứu những
vấn đề cơ bản, thực tiễn liên quan đến biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
dưới góc nhìn của Luật Tố tụng hình sự, hi vọng nó sẽ đem lại những kiến thức bổ ích cho
tất cả chúng ta.
Nội dung cơ bản của bài tiểu luận gồm:
Chương I: Một số vấn đề liên quan đến biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để
bảo đảm.
Chương II: Thực trạng áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
Chương III: Dự báo và giải pháp.
TP HCM ngày 12 tháng 12 năm 2012
4
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN BIỆN PHÁP ĐẶT TIỀN
HOẶC TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ
5
I. TỔNG HỢP LÝ THUYẾT VỀ BIỆN PHÁP ĐẶT TIỀN HOẶC TÀI
SẢN CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1. Khái niệm biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng
hình sự
1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn
Từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhằm bảo vệ
Chính quyền mới, bảo vệ thành quả Cách Mạng và quyền lợi của công dân, Nhà nước ta đã
ban hành các văn bản về Tố tụng hình sự trong đó có quy định cụ thể về biện pháp ngăn
chặn. Hiện nay, biện pháp ngăn chặn vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó, được quy định
thành một chế định riêng trong Bộ luật tố tụng Hình sự. Chế định biện pháp ngăn chặn là
một chế định quan trọng của Luật Tố tụng Hình sự nhằm góp phần đấu tranh, ngăn ngừa,
trấn áp tội phạm, bảo vệ an ninh Quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Trước đây, những
biện pháp này được quy định trong nhiều văn bản pháp luật như: Luật 103- SL/005 ngày
20/5/1976, Sắc luật 002- SLt ngày 18/6/1957 và Sắc Luật 02-SL ngày 15/3/1976 bao gồm
không áp dụng những biện pháp ngăn chặn thì người đó sẽ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ”.
Theo hai tác giả Phạm Thanh Bình, Nguyễn Văn Nguyên thì “ Biện pháp ngăn chặn
là biện pháp cường chế do các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị
can, bị cáo và trong một số trường hợp được pháp luật quy định, có thể áp dụng cả đối với
người chưa bị khởi tố (Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang)
nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngằn ngừa họ tiếp tục phạm
tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi
hành án”.
Theo Từ điển Luật học, “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế về mặt tố
tụng do Điều tra viên, Kiểm sát viên và Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo nếu có đủ
căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, cản trở
việc xác minh sự thật về vụ án hoặc sẽ tiếp tục hoạt động phạm tội, cũng như để bảo vệ
việc thi hành án”.
Tập bài giảng Luật TTHS của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh cho rằng
“Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế được quy định trong pháp luật TTHS
7
và được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố (Trong trường hợp khẩn
cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm kịp thời ngăn chặn những hành vi nguy hiểm đối với xã
hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, hoặc có hành động gây khó khăn, cản trở cho
việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”.
Từ những khái niệm trên, có thể thấy cho đến nay, khoa học pháp lý ở nước ta vẫn
chưa có khái niệm thống nhất về các biện pháp ngăn chặn.
Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thấy biện pháp ngăn chặn có những đặc điểm chung
sau:
Thứ nhất, Biện pháp ngăn chặn là một trong những biện pháp cưỡng chế TTHS;
Thứ hai, Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế TTHS có tính nghiêm
khắc;
Thứ ba, Biện pháp ngăn chặn có tính lựa chọn.
1.2.Khái niệm biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
Chế định đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm được quy định tại Điều 93
cưỡng chế TTHS. So với các biện pháp cưỡng chế Tố tụng khác thì có thể xem biện pháp
ngăn chặn là những biện pháp nghiêm khắc nhất bởi vì khi áp dụng chúng sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ của công dân được ghi nhận trong
Hiến pháp như quyền bất khả xâm phạm, quyền tự do đi lại…Theo Điều 79 Bộ Luật TTHS
năm 2003 thì biện pháp ngăn chặn có mục đích là:
- Ngăn chặn kịp thời hành động phạm tội;
- Ngăn chặn việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử;
- Ngăn chặn không để cho bị can, bị cáo tiếp tục thực hiện tội phạm;
- Để đảm bảo thi hành án (Ngăn chặn không để cho bị cáo trốn tránh trách
nhiệm pháp lý).
Mục đích của các biện pháp ngăn chặn được phản ánh ngay trong tên gọi của nó.
Ngược lại, nếu áp dụng sai mục đích đối với các biện pháp ngăn chặn thì đây là áp dụng
Luật không đúng căn cứ, sai mục đích. Biện pháp ngăn chặn không phải là những biện
pháp được áp dụng một cách tràn lan mà phải thật sự là kết quả của việc cân nhắc, so sánh,
lực chọn giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của công dân. Khi áp dụng các biện pháp
9
ngăn chặn thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp
luật để bảo đảm sự tôn trọng các quyền của công dân, góp phần nâng cao hiệu quả trong
công cuộc phòng ngừa tội phạm.
Với mục đích trên, việc quy định các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật TTHS có ý
nghĩa rất quan trọng. Các biện pháp ngăn chặn đảm bảo cho hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng được thực hiện thuận lợi, việc chứng minh vụ án đạt kết quả tốt, góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phòng và chống tội phạm. Ngoài ra, chúng còn góp
phần bảo đảm việc thực hiện dân chủ, tôn trọng các quyển cơ bản của công dân được pháp
luật bảo vệ.
2.1.2 Mục đích áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm là một biện pháp ngăn chặn độc
lập trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Bộ luật TTHS, do đó biện
pháp này cũng mang đầy đủ mục đích của biện pháp ngăn chặn nói chung. Bao gồm: Kịp
thời ngăn chặn tội phạm; ngăn chặn bị can, bị cáo gây khó khăn cho hoạt động điều tra,
mỗi tội phạm xảy ra đều có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho một hoặc nhiều
quan hệ xã hội là khách thể được Luật Hình sự bảo vệ. Việc kịp thời ngăn chặn tội phạm,
không để tội phạm xảy ra hoặc không để người phạm tội có điều kiện kết thúc hành vi
phạm tội của mình gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội là việc làm rất cần thiết và cấp bách.
Vì vậy, Bộ luật TTHS quy định việc kịp thời ngăn chặn tội phạm là một trong các căn cứ áp
dụng biện pháp ngăn chặn. Căn cứ này thường được áp dụng để bắt người trong những
trường hợp sau:
+ Bắt người trong trường hợp khẩn cấp khi có các căn cứ để cho rằng một người nào
đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
(Điểm a Khoản 1 Điều 81 BLTTHS năm 2003)
+ Bắt người phạm tội quả tang khi phát hiện một người đang thực hiện tội phạm
(Khoản 1 Điều 82 BLTTS năm 2003)
- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy
tố, xét xử: Việc bị can, bị cáo có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án cũng như quản lý giám sát được bị can, bị cáo về con người hay hành vi của họ
11
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Nếu bị can, bị cáo trốn
tránh hoặc có những hành vi gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì việc
xác định sự thật khách quan của vụ án sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, Bộ luật TTHS
quy định khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố,
xét xử là một trong các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn. Đối tượng áp dụng căn cứ này
thường là bị can, bị cáo, người bị truy nã. Tuy nhiên trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm
tội quả tang còn áp dụng đối với những người chưa bị khởi tố khi có căn cứ để cho rằng họ
sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, khám phá tội phạm như bỏ trốn, làm giả chứng cứ hoặc
tiêu hủy chứng cứ, sự câu kết, bàn bạc giữa những người đồng phạm với nhau nhằm trốn
tránh pháp luật, mua chuộc, đe dọa, khống chế người làm chứng, người bị hại…
- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội: Đối với bị can, bị
cáo có biểu hiện tiếp tục phạm tội thì việc áp dụng biện pháp cách ly họ với xã hội hoặc
hạn chế các điều kiện để họ không thể tiếp tục phạm tội là rất cần thiết. Những căn cứ
chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội có thể xác định trên những phương diện sau:
thì bị cáo có thể bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội, HĐXX có thể quyết định bắt tạm giam bị
cáo ngay tại phiên tòa để bảo đảm thi hành án;
+ Đối với bị cáo không bị tam giam nhưng bị HĐXX của Tòa án cấp phúc thẩm
tuyên hình phạt tù thì HĐXX ra quyết định bắt tạm giam ngay để bảo đảm thi hành án, trừ
trường hợp bị cáo có lí do để hoãn thi hành án phạt tù.
2.2.2. Căn cứ áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
Nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm và thực hiện
nhiệm vụ của TTHS, pháp luật TTHS cho phép các cơ quan Tố tụng, người tiến hành Tố
tụng áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết, trong đó có biện pháp đặt tiền hoặc tài
sản có giá trị để bảo đảm, theo đó cơ quan, người có thẩm quyền phải cân nhắc lựa chọn áp
dụng biện pháp này với biện pháp bảo lĩnh. Để có thể làm được điều đó, trách nhiệm của
cơ quan có thẩm quyền là phải đưa ra những căn cứ xác đáng để bảo đảm đúng quy định
của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo.
Điều 76 Bộ luật TTHS năm 1988 chỉ quy định đối tượng áp dụng là người nước
ngoài bị khởi tố, truy tố mà không nêu rõ căn cứ về nội dung nên dẫn đến nhận thức rất
13
khác nhau. Còn Điều 93 Bộ luật TTHS năm 2003 chỉ nêu có thể cho bị can, bị cáo đặt tiền
hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập. Vì vậy, có thể hiểu
biện pháp này chỉ áp dụng cho bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm
trọng nhưng vì yêu cầu chính trị và chính sách đối ngoại của nhà nước mà không áp dụng
biện pháp ngăn chặn khác. Bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng, biện pháp này được áp
dụng khi không đủ căn cứ tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc bảo lĩnh thì không thể bảo
đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập. Khoản 1 Điều 93 Bộ luật TTHS năm
2003 quy định. Việc phân tích, giải thích Điều 93 không nên chỉ căn cứ vào câu chữ mà
phải hiểu theo cả tinh thần và điều văn. Như vậy, ta có thể hiểu một cách khái quát căn cứ
để áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo Điều 93 BLTTHS bao
gồm:
- Bị can, bị cáo không có căn cứ thuộc diện đối tượng tam giam nhưng có căn
cứ để cho thấy rằng bị can, bị cáo có thể gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án: Trong trường hợp này bị can, bị cáo không có hành vi cố tình chống lại, đối
người có điều kiện sẽ được tại ngoại, người nghèo, người không có điều kiện vì không có
tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sẽ bị bắt giữ, tạm giam…Như vậy, vấn đề tồn tại ở
đây là thiếu sự công bằng của pháp luật, kéo theo hệ quả những người xấu sẽ lợi dụng vào
kẽ hở đó mà thực hiện những hành vi xấu cho xã hội. Ngoài ra, số lượng, chất lượng, mức
phạt của tiền và tài sản cũng là một vấn đề phức tạp mà pháp luật cần phải xem xét lại khi
xử lý các trường hợp cụ thể.
3. Đối tượng áp dụng của biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
So với BLTTHS năm 1998 thì đối tượng áp dụng của biện pháp đặt tiền hoặc tài sản
có giá trị để bảo đảm trong BLTTS năm 2003 mở rộng áp dụng biện pháp này với công dân
Việt Nam. Về vấn đề này, chúng ta nhận thấy đã có sự công bằng trong ý tưởng và quan
điểm giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài. Xuất phát từ yêu cầu cải cách tư pháp
của nhà nước, đây là một quy định đúng đắn, phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, không phải
bất kì bị can, bị cáo nào cũng được Nhà nước cho phép áp dụng biện pháp này mà còn phải
dựa trên những căn cứ nhất định. Như vậy, theo quy định của BLTTHS hiện hành thì nhân
15
thân của bị can, bị cáo sẽ không là đối tượng áp dụng của biện pháp này. Song, trong thực
tế thì Bộ luật TTHS vẫn chưa quy định cụ thể, chặt chẽ các điều kiện đối với người phạm
tội để được bảo đảm, nhất là về tính chất loại tội phạm, nhân thân người phạm tội, trách
nhiệm của người phạm tội…Tuy đây là một quy định có phần mở rộng diện đối tượng áp
dụng nhưng khi ban hành văn bản hướng dẫn nên đưa nội dung này vào và quy định một
cách cụ thể, chi tiết hơn.
4. Thẩm quyền, thủ tục, thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá
trị để bảo đảm
4.1. Thẩm quyền áp dụng
Trong PLTTHS thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn được hiểu là quyền hạn và
nghĩa vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ có quyền
quyết định áp dụng, thay thế, hủy bỏ một trong các biện pháp ngăn chặn cụ thể.
Tại Khoản 2 Điều 93 BLTTHS năm 2003 quy định “Những người quy định tại
khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền
ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Quyết định của những
pháp luật quy định.
Việc quy định thủ tục rõ ràng, trình tự khoa học sẽ góp phần hạn chế những phát
sinh không mong muốn, là cơ sở để xem xét, giải quyết các thắc mắc, khiếu nại của bị can,
bị cáo nếu họ có yêu cầu. Do vậy thủ tục là vấn đề quan trong và cốt lõi nhất trong việc áp
dụng biện pháp ngăn chặn.
4.3. Thời hạn áp dụng
Mặc dù thời hạn áp dụng là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng vì nó xác định khoảng
thời gian trong đó người bị áp dụng phải chịu sự ràng buộc của pháp luật, sự hạn chế nhất
định về quyền đồng thời còn có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm của người đặt tiền
và tài sản có giá trị để bảo đảm nhưng Bộ luật TTHS năm 2003 không quy định thời hạn áp
dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là bao lâu và thời điểm chấm dứt
là khi nào. Do Luật không quy định cụ thể nên dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau như sau:
17
- Thời hạn áp dụng bắt đầu từ khi công bố văn bản áp dụng, kéo dài suốt cả
quá trình tiến hành tố tụng đến khi bản án có hiệu lực pháp luật;
- Cơ quan nào ra quyết định áp dụng biện pháp này thì thời hạn áp dụng là thời
hạn tiến hành tố tụng mà cơ quan đó thực hiện;
- Nghĩa vụ của người đặt tiền hoặc tàn sản có giá trị để bảo đảm xuất hiện từ
lúc việc đặt tiền hoặc tài sản đó được chấp thuận và chấm dứt khi giai đoạn xét xử kết thúc.
- Thời hạn áp dụng tùy thuộc từng giai đoạn tiến hành tố tụng gắn với cơ quan
tiến hành tố tụng.
Vì có nhiều cách hiểu khác nhau như trên nên khi áp dụng thời hạn rất lúng túng, có
nhiều quan điểm và cách làm khác nhau.
Tuy là biện pháp ngăn chặn không được áp dụng nhiều trong thực tế nhưng rõ ràng
đây là một thiếu sót của Luật mà các cơ quan có thẩm quyền cần phải lưu tâm.
5. Giá trị tiền, tài sản và việc quản lý tiền, tài sản do bị can, bị cáo đặt
Tại Khoản 5 Điều 93 BLTTHS năm 2003 quy định: “Trình tự, thủ tục, mức tiền
hoặc giá trị tài sản phải đặt để bảo đảm, việc tạm giữ, hoàn trả, không hoàn trả số tiền
hoặc tài sản đã đặt được thực hiện theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, các nội dung
nêu trên cho đến nay vẫn là quy định chung chung, chỉ quy định “tài sản có giá trị”, chưa
tài sản của bị can, bị cáo là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với bị can, bị cáo đặc biệt
là vấn đề về quyền sở hữu nhưng Luật lại không quy định rõ ràng, đây quả là một vấn đề
khúc mắc chưa được giải quyết trong Luật cần phải làm rõ.
- Về trình tự áp dụng: Điều Luật cũng không nêu rõ cụ thể trình tự như thế
nào, cách thức ra sao, việc chứng minh tiền và tài sản được thực hiện như thế nào, ai có
nghĩa vụ chứng minh, việc thẩm định tài sản do cơ quan nào phụ trách, thủ tục ra sao? Tất
cả Luật đều không quy định cụ thể
6. Hậu quả pháp lý khi bị can, bị cáo không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết
Trong trường hợp bị can, bị cáo đã được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án
triệu tập mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì số tiền hoặc tài sản đã đặt sẽ bị sung
quỹ nhà nước và trong trường hợp này bị can, bị cáo sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn
khác.
19
Trong trường hợp bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết thì cơ
quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm trả lại cho họ số tiền hoặc tài sản đã đặt.
Quy định này như một sự ràng buộc tích cực cho họ, nếu họ không thực hiện nghĩa
vụ thì sẽ bị mất tiền, tài sản và ngược lại, nếu họ thực hiện đúng nghĩa vụ thì số tiền, tài sản
sẽ được hoàn trả mà bị can, bị cáo không bị tạm giam. Như vậy, về bản chất thì biện pháp
đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là việc bị can, bị cáo mang tiền hoặc tài sản của
mình cho cơ quan tiến hành tố tụng để đổi lấy sự tự do đi lại, tự do thân thể của bản thân
đồng thời cam kết với cơ quan tiến hành tố tụng về sự có mặt của bị can, bị cáo trong các
giai đoạn tố tụng. Tuy nhiên, một điều tồn tại ở đây là khi cơ quan tiến hành tố tụng áp
dụng biện pháp này thì không thể đồng thời áp dụng thêm biện pháp ngăn chặn nào khác.
Do đó, dẫn đến việc bị can, bị cáo có thể trốn khỏi lãnh thổ Việt Nam thì mục đích của biện
pháp này không đạt được. Vì vậy, Luật cần phải có thêm một biện pháp bổ sung đi kèm với
biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm nhằm đảm bảo sự có mặt của bị can, bị
cáo khi được triệu tập.
II. Lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có
giá trị để bảo đảm.
1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988
hai đều là những biện pháp được áp dụng để thay thế cho biện pháp tạm giam. Tuy nhiên
quy định này còn quá đơn giản, chưa có những quy định mang tính ràng buộc cũng như
không có ý nghĩa ngăn chặn hay đề phòng họ cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử mà
đó chỉ là những đặc điểm mang tính tiền đề để nghiên cứu, phát triển các biện pháp ngăn
chặn không giam giữ sau này. Từ đó cho thấy, thời kỳ này, quy định để đặt tiền và tài sản
có giá trị để bảo đảm chưa được đề cập đến.
Lúc này bên cạnh những văn bản pháp luật do Chính phủ Việt Nam ban hành, để
duy trì và bảo vệ chính quyền của mình, Chính phủ Việt Nam Cộng hoà cũng đã ban hành
Bộ luật hình sự tố tụng năm 1972, trong đó tại Điều 146, Phụ tiết 2, Chương 1, Thiên 3 quy
định về tạm giam có đề cập đến tiền bảo chứng, xem nó như điều kiện để được tự do. Tiền
bảo chứng không những được dùng khi chấm dứt sự tạm giam mà còn được dùng cả khi bị
can chưa bị tống giam. Tiền bảo chứng sẽ phải hoàn lại cho bị can nếu y được miễn tố hay
21
tha bổng, ngược lại nếu y không đến hầu một khi có lệnh đòi hay bất tuân các nghĩa vụ
trong biện pháp kiểm soát tư pháp và không thi hành án Toà tiền bảo chứng sẽ sung vào
công quỹ. Thẩm phán phải ghi điều này trong phần dẫn lý và truyền tịch thu phần bảo
chứng này sau khi kết phạt. Căn cứ vào các quy định nêu trên, có thể thấy, bộ luật hình sự
tố tụng 1972 của chính phủ Việt Nam Cộng hoà đã có quy định về tiền bảo chứng là một
trong các biện pháp kiểm soát tư pháp, về bản chất việc dùng tiền bảo chứng là nhằm đổi
lấy sự tại ngoại tránh bị tạm giam. Mục đích áp dụng là nhằm bảo đảm sự có mặt của bị
can khi có lệnh trình diện (giấy triệu tập). Thời gian áp dụng do Thẩm phán, dự thẩm quyết
định áp dụng bất kỳ lúc nào trong suốt thủ tục tố tụng, trước hoặc đang bị tạm giữ. Nghĩa là
trước khi bị tạm giam, họ có quyền đặt tiền bảo chứng để không bị tạm giam hoặc sau khi
tạm giam, họ dùng tiền để được tự do. Tiền bả chứng được sử dụng như một khoản kinh
phí phát sinh trong thời gian thụ lý vụ án, dùng để bồi thường thiệt hại, các nghĩa vụ dân sự
khác có liên quan. Nếu bị phạt tiền, cơ quan tố tụng cũng có quyền sử dụng khoản tiền đó
để thi hành án. Như vậy, biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm đã xuất hiện trong luật,
dù tên gọi khác nhau nhưng nhìn chung về bản chất, chế định này được quy định khá rõ
ràng. Tuy nhiên, do đây là điều luật do chính phủ Việt Nam Cộng hoà ban hành thể hiện ý
chí của giai cấp cầm quyền đối lập với chính phủ Việt Nam nên những quy định này không
định tương đối rõ ràng về trình tự, thủ tục, chủ thể áp dụng mà quy định dùng chung,
không giới hạn tội phạm mà họ thực hiện có mức độ nghiêm trọng như thế nào. Tài sản
được nêu trong điều luật mang tính khái quát, đơn giản không ghi nhận là tài sản gì, có giá
trị như thế nào. Mặc dù bộ luật TTHS 1988 lần đầu tiên ghi nhận và quy định chế định này
vào trong luật nhưng cần phải nhìn nhận, thời kỳ này việc quy định biện pháp đặt tiền hoặc
tài sản có giá trị để bả đảm là một quy định tiến bộ, phù hợp với sự tiến bộ của xã hội.
23
III. Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự một số
nước trên thế giới
Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là một quy định tương đối phổ
biến trên thế giới. Tuy tên gọi ở mỗi nước có khác nhau nhưng nhìn chung biện pháp này
đều được các nước ghi nhận là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. Các quốc
gia phát triển, những nước có bề dày lịch sử và kinh nghiệm lập pháp đều ghi nhận và quy
định biện pháp này vào trong luật. Một số nước quy định là biện pháp bảo lĩnh, tại ngoại,
một số nước quy định là biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Việc tìm
hiểu, đối chiếu quy định về biện pháp này của các quốc gia khác nhau giúp chúng ta có
thêm nhiều thông tin; trên cơ sở phân tích quy định của pháp luật tố tụng hình sự các nước
về biện pháp đặt tiền, chúng ta sẽ lựa chọn, rút ra những điểm hay, tiến bộ và qua đó lựa
chọn những quy định phù hợp để hoàn thiện chế định đặt tiền trong pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam trong thời gian tới .
• Ở Nga, biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm được quy đinhk tại Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự Liên Bang Nga năm 2001. Theo điều này thì đối tượng áp
dụng có thể là người bị tình nghi thực hiện tội phạm, bị can đã bị khởi tố, ngoài ra những
thế nhân, pháp nhân cũng có thể đặt tiền để được tại ngoại. Luật quy định việc đặt tiền
nhằm bảo đảm sự có mặt của họ khi được triệu tập và phòng ngừa họ thực hiện tội phạm
mới. Điều luật này không quy định hình thức và mức tiền cụ thể, tuy nhiên hình thức đặt
như thế nào và bao nhiêu, pháp luật trao quyền cho người có thẩm quyền quyết định dựa
vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của vụ án, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can,
người bị tình nghi. Biện pháp ngăn chặn này được áp dụng ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào.
Ngoài ra, ở Nga còn có quy định cho đặt tiền để được giam giữ tại nhà. Bên cạnh đó, pháp
thực hiện tội phạm mà không có nơi ở cố định hoặc nơi thường trú trong phạm vi lãnh thổ
mà bộ luật tố tụng hình sự có hiệu lực và các căn cứ cho việc ra lệnh bắt giam không được
thỏa mãn thì thẩm phán có thể ban hành một quyết định nhằm đảm bảo thủ tục tố tụng hình
sự được tiến hành đối với người bị áp dụng,cụ thể là buộc họ nộp một khoản tiền đủ cho
25
tiền phạt có thể được tuyên và án phí. Trong trường hợp bị cáo không thực hiện theo nghĩa
vụ có mặt theo giấy triệu tập của tòa án thì số tiền đã đặt sẽ bị tịch thu. Trong trường hợp
khẩn cấp, cơ quan công tố cũng có quyền ra quyết định cho tại ngoại qua hình thức bảo
lĩnh bằng tiền .
• Ở Nhật luật không quy định thành biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo
đảm như Nga và Việt Nam. Khoản 1 điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản 1991 quy
định “ Khi các căn cứ, sự cần thiết để tạm giam không còn nữa thì tòa án theo yêu cầu của
công tố viên, bị cáo đang bị tam giam hoặc luật sư bào chữa của họ, người đại diện hợp
pháp, người phụ trách, vợ hoặc chồng, người thân, anh, chị, em của bị cáo hoặc tự mình
hủy bỏ việc tạm giam bằng một quyết định”. Luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy định một
cách chặt chẽ biện pháp bảo lĩnh, đây là một quy định tiến bộ được áp dụng phổ biến ở
Nhật Bản. Theo quy định thì khi có đơn yêu cầu cho phép bảo lĩnh thì công tố viên, thẩm
phán phải giải quyết cho bị cáo được bảo đảm. Luật quy định các trường hợp không được
áp dụng biện pháp bảo lĩnh tương đối cụ thể và rõ ràng, cụ thể là trừ một số loại tội có cùng
hình phạt lên đến tử hình hoặc có đủ căn cứ để nghi ngờ rằng bị cáo có thể hủy chứng cứ.
Bị cáo hoặc người thân của họ đều có quyền đứng ra dùng tiền để bảo lĩnh tại ngoại, chỉ có
tòa án mwosi có quyền quyết định việc cho bảo lĩnh hay không trước khi tham khảo ý kiến
của công tố viên. Khi quyết định cho bảo lĩnh thì tòa án xác định số tiền bị cáo sẽ đặt ra
bao nhiêu, khoản này đủ để bảo đảm sự có mặt của bị cáo, có xem xét đến bản chất của vụ
án và các tình tiết khác có liên quan đến hoạt động phạm tội của bị cáo, cũng như chứng cứ
chống lại người đó, có xem xét đến đạo đứa, hạnh kiểm và khả năng tài chính của họ. Khi
được bảo lĩnh, bị cáo còn có thể bị hạn chế đi lại trong một phạm vi nhất định. Ở Nhật, luật
quy định không nhất thiết phải là bị cáo mới có quyền bảo lĩnh, tòa án có thể cho phép một
người không phải là bị cáo được tòa thừa nhận là hợp lý đệ trình các séc có thể đổi thành
tiền mặt hoặc giấy bảo đảm để thay thế cho khoản tiền bảo lĩnh. Về hậu quả pháp lý mà bị