MỤC LỤC
A - MỞ ĐẦU
Pháp luật nước ta có rất nhiều chế định để bảo vệ những quyền và lợi ích
hợp pháp của con người, đặc biệt trong pháp luật tố tụng hình sự đối tượng được
đặc biệt quan tâm là người bị hại. Vì vậy, người bị hại cần phải được bảo vệ kịp
thời, thậm chí ngay khi họ bị đe dọa gây thiệt hại. Và một trong những công cụ
pháp lý quan trọng để bảo vệ người bị hại đó chính là pháp luật tố tụng hình sự.
Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng nói
chung và người bị hại nói riêng là một trong những nội dung quan trọng trong
định hướng cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự ở
nước ta hiện nay. Để làm rõ hơn về nội dung này, bài viết sau sẽ đi sâu vào tìm
hiểu đề tài số 03:“Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ
của người bị hại trong TTHS và việc hoàn thiện quy định này.”
B - NỘI DUNG
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI BỊ HẠI
1. Khái niệm người bị hại
Người bị hại là người tham gia tố tụng có mặt hầu hết trong các vụ án
hình sự. Theo từ điển luật học: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất,
về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị hại chỉ có thể là thể
nhân bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể là pháp
nhân”1.
1 Từ
điển Luật học, NXB TĐBK - NXB TP, Trang 571.
1
Để có sự nhận thức đầy đủ và thống nhất về khái niệm người bị hại thì
Từ những phân tích trên thì Điều 51 cần được sửa đổi theo hướng làm rõ
người bị hại để đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong tố tụng hình sự, bảo vệ
tốt các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại.
Để hiểu rõ hơn khái niệm người bị hại, cần phải phân biệt với một số khái
niệm đồng nghĩa hoặc giáp ranh như: người bị hại với nạn nhân, người bị hại với
đối tượng tác động của tội phạm. Đây là những khái niệm gần nhau nhưng
không đồng nhất với nhau.
Thứ nhất: Có quan điểm cho rằng người bị hại chính là nạn nhân của tội
phạm. Nội dung khái niệm người bị hại có nội hàm hẹp hơn so với khái niệm
nạn nhân của tội phạm. Như đã biết, hành vi phạm tội luôn gây ra hoặc đe dọa
gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ.
Để gây ra những thiệt hại cho những quan hệ này, hành vi phạm tội đã tác động
gây thiệt hại cho một số cá nhân, tổ chức. Trong khi đó “Nạn nhân của tội phạm
là những cá nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại, gây ra những
thiệt hại về thể chất, về tinh thần, tài sản hoặc các quyền, lợi ích hợp pháp
khác”.2 Thiệt hại không chỉ dừng ở thiệt hại vật chất và tinh thần mà còn thiệt
hại về các lợi ích khác.
Thứ hai: Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận khách thể của
tội phạm bị hành vi phạm tội tác động đến, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt
hại. Đối tượng tác động của tội phạm không chỉ là con người mà còn bao gồm
các đối tượng vật chất khác và các hoạt động bình thường của chủ thể.
Như vậy, người bị hại là cá nhân, tổ chức bị tội phạm trực tiếp gây ra thiệt
hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản. Người bị hại được
các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng công nhận khi xác định có dấu hiệu
thiệt hại.
2 Trần
Hữu Tráng, Nạn nhân học trong Tội phạm học- một số vấn đề lý luận và thực tiễn,
Luận văn Thạc sỹ Luật học 2000, trang 18.
để người bị hại có thể đảm bảm được quyền và lợi ích của mình.
4
II. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TTHS
2. Nội dung quyền và nghĩa vụ của người bị hại
2.1. Quyền của người bị hại
2.1.1. Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
Được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 BLTTHS năm 2003: “Người
bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền: Đưa ra tài liệu, đồ vật,
yêu cầu”. Theo đó,người bị hại có quyền:
- Thứ nhất, quyền đưa ra tài liệu, đồ vật: Người bị hại trong nhiều trường
hợp là người chứng kiến cụ việc xảy ra, biết các tình tiết liên quan đến hành vi
phạm tội, cho nên những tài liệu, đồ vật mà người bị hại hoặc người đại diện
hợp pháp của họ đưa ra thường có độ chính xác, có ích cho quá trình giải quyết
vụ án. Ví dụ: giấy khám chữa bệnh, hóa đơn tiền viện phí và tiền thuốc...
- Thứ hai, quyền yêu cầu: Người bị hại có thể đưa ra những yêu cầu trong
các giai đoạn tố tụng khác nhau. Ví dụ: yêu cầu cơ quan điều tra thu thập thêm
chứng cứ để định tội, yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu giám
định hoặc giám định lại nếu có căn cứ cho rằng kết quả giám định trước không
đúng sự thật, yêu cầu khởi tố vụ án trong 1 số trường hợp, rút đơn yêu cầu khởi
tố. Cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng quyền được đưa ra tài liệu, đồ vật,
yêu cầu của người bị hại.
2.1.2. Quyền được thông báo về kết quả điều tra
Quyền được thông báo về kết quả điều tra được quy định tại điểm b,
khoản 2 Điều 51 BLTTHS, theo đó: “ Người bị hại được thông báo về kết quả
điều tra để họ biết được những vấn đề thuộc nội dung vụ án, làm cơ sở cho việc
chuẩn bị lý lẽ, yêu cầu buộc tội đối với bị cáo và/hoặc chứng minh thiệt hại mà
bị cáo đã gây ra cho mình.”
Trong quá trình điều tra, cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp
quyền quan trọng, cơ bản, bởi vì nó đáp ứng được động cơ, mục đích chủ yếu
của hai chủ thể này trong TTHS. Điểm d Khoản 2 Điều 51 quy định người bị
hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền “ Đề nghị mức bồi
6
thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường”. Có thiệt hại do tội phạm gây ra
cho người bị hại không khôi phục được hoàn toàn mà chỉ khắc phục được một
phần nên pháp luật quy định cho người bị hại được đề nghị mức bồi thường để
bù đắp cho những mất mát của mình. Đưa ra mức bồi thường như thế nào là thỏa
đáng và Tòa chấp thuận hiện đang là vấn đề khó khăn với người bị hại. Pháp
luật chưa quy định cụ thể về vấn đề bồi thường cho người bị hại mà nhất là vấn
đề bồi thường về tính mạng, sức khỏe hay tinh thần khiến người dân chưa thực
sự hiểu và khó áp dụng. Vì vậy cơ quan có thẩm quyền phải có trách nhiệm
hướng dẫn và giải thích pháp luật cho người bị hại.
Người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền đề nghị các
cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp để đảm bảo bồi thường như kê
biên tài sản (Điều 146 BLTTHS), Việc đảm bảo bồi thường thiệt hại rất quan
trọng vì đảm bảo được khả năng thực tế mà người phạm tội có thể bồi thường
cho người bị hại.
2.1.5. Tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa
Phiên tòa chính là nơi kiểm tra công khai các chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án và các phán quyết đối với bị cáo. Người
bị hại có quyền tham gia phiên tòa để thực hiện các quyền của mình. Tại điểm đ
Khoản 2 Điều 51 BLTTHS quy định người bị hại, người đại diện hợp pháp của
người bị hại có quyền : “Tham gia phiên toà; trình bày ý kiến, tranh luận tại
phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Theo đó người bị hại
có thể đưa ra các yêu cầu, các tài liệu chứng minh cho thiệt hại là cơ sở để đề
nghị mức bồi thường. Đồng thời việc tham gia cũng đảm bảo cho người bị hại
biết được các quyết định của Tòa án để xem xét có nên kháng cáo và thời hạn
còn mối quan hệ giữa bị can, bị cáo và người bị hại chỉ là quan hệ dân sự trong
việc bồi thường những thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra. Hậu quả pháp lí
của việc kháng cáo là những phần của bản án bị kháng cáo thì chưa được đưa ra
thi hành và tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo cho phúc thẩm
trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo.
2.1.7. Quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự
Đây là quyền đặc thù của người bị hại, là quan điểm mới của nhà nước
thể chế hóa sự quan tâm tới người bị hại vào pháp luật, được áp dụng phổ biến ở
8
khá nhiều nước. Trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại được quy
định tại khoản 3 Điều 51 BLTTHS.Theo đó,tại phiên tòa người bị hại hoặc
người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa. Khởi tố vụ
án theo yêu cầu của người vị hại là trường hợp do tính chất của vụ án và vì
quyền lợi của người bị hại nên các cơ quan có thẩm quyền không tự mình khởi
tố vụ án hình sự mà việc khởi tố chỉ được thực hiện khi có yêu cầu của người bị
hại, mặt khác cũng có quyền rút đơn “nhằm mục đích động viên, khuyến khích
các công dân tự hòa giải, tự thu xếp, dàn hòa ổn thỏa, đồng thời tạo quan hệ
đoàn kết, thân ái giữa các công dân với nhau khi xảy ra mâu thuẫn”4.
Về yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại có thể bằng văn bản hoặc bằng lời
trình bày tại Cơ quan điều tra. Khi đó, người có thẩm quyền phải ghi lại và yêu
cầu người bị hại kí vào văn bản đó. Về thời hạn giải quyết các yêu cầu khởi tố
cụ án hình sự của người bị hại thì theo Thông tư liên tịch 05/2005/TTLTVKSTC-BCA-BQP ngày 7/9/2005 thì thời hạn giải quyết là 20 ngày, trường hợp
có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn tối đa không quá 2 tháng.
2.1.8.Quyền rút yêu cầu khởi tố
Khoản 2 Điều 105 quy định “trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố
rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ” tuy
nhiên cũng có giới hạn đó là chỉ khi người bị hại rút yêu cầu trước ngày mở
phiên tòa sơ thẩm vụ án mới bị đình chỉ; còn người bị hại mà rút yêu cầu khởi tố
2.1.10. Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, các quyền và lợi ích hợp pháp
khi tham gia tố tụng
Thực tiễn giải quyết vụ án hình sự cho thấy không ít trường hợp người bị
hại hoặc người thân thích của họ bị người phạm tội, người thân của người phạm
tội đe doạ, khống chế, mua chuộc để ngăn chặn việc người bị hại khai báo phục
vụ việc xác định sự thật vụ án. Để khắc phục tình trạng này, đảm bảo cho người
bị hại thực hiện nghĩa vụ khai báo theo quy định pháp luật, BLTTHS nên bổ
sung các quy định về bảo vệ người bị hại khi người bị hại yêu cầu và cơ quan
tiến hành tố tụng có cơ sở cho rằng người bị hại bị đe dọa.
2.1.11. Quyền đối với kết luận giám định
Đây là một quyền mới của người bị hại. Kết luận giám định là một trong
những chứng cứ giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác minh sự thật khách quan của
10
vụ án. Được quy định tại khoản 1 Điều 158 BLTTHS: “Bị can, những người
tham gia tố tụng khác được trình bày những ý kiến của mình về kết luận giám
định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại..” Theo đó, người bị hại có
quyền trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ
sung hoặc giám định lại. Nếu các kết quả giám định không chính xác sẽ ảnh
hưởng đến giải quyết vụ án quyền và lợi ích của người bị hại.
2.1.12. Quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bảo vệ
quyền lợi cho mình
Đây là một trong những quyền năng quan trọng nhất của người bị hại
được quy định tại khoản 1 Điều 59 BLTTHS: “Người bị hại, nguyên đơn dân sự,
bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự có
quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình”.
Pháp luật quy định cho người bị hại quyền tự mình bảo vệ quyền và lợi
ích hoặc có thể nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác nhưng phải
vụ án khổi tố theo yêu cầu của người bị hại nếu người bị hại và người đại diện
hợp pháp của họ vắng mặt thì tòa án sơ thẩm phải hoãn phiên tòa. Trong phiên
tòa phúc thẩm nếu người bị hại kháng cáo hoặc có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan đến việc kháng cáo kháng nghị thì được triệu tập. Nếu vắng mặt không có
lý do chính đáng thì HĐXX có thể vẫn tiến hành xét xử bình thường nhưng
không được ra những quyết định không có lợi cho người bị hại, trong những
trường hợp nhất định thì phải hoãn phiên tòa. 5 Có thể thấy đây là nghĩa vụ bắt
buộc đối với người bị hại vì chỉ khi họ có mặt tại phiên tòa thì họ mới có thể
thực hiện quyền của mình và bảo vệ những lợi ích hợp pháp của mình. Đồng
thời khi người bị hại có mặt sẽ giúp cho cơ quan THTT trong việc xác minh các
tài liệu còn nghi ngờ hoặc mâu thuẫn để từ đó có các kết luận chính xác về sự
thật khách quan của vụ án. Đảm bảo được việc xét xử đúng người đúng tội tránh
làm oan người vô tội.
5 Địa vị pháp lý của người bị hại theo Luật TTHS Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Hoàng Thị Ngọc, Hà Nội,
2011.
12
2.2.2. Nghĩa vụ khai báo, cung cấp những thông tin cần thiết giúp cho làm sáng
tỏ sự thật vụ án
Người bị hại là người bị thiệt hại do chính hành vi của người phạm tội gây
ra vì thế hơn ai hết họ là người hiểu hành vi của người phạm tội tác động đến họ.
Để làm rõ sự thật khách quan của vụ án và bảo đảm tính nghiêm minh của pháp
luật cũng như bảo vệ quyền lợi cho công dân thì người bị hai phải có nghĩa vụ
khai báo. Nghĩa vụ khai báo trung thực được đặt ra với tất cả những người tham
gia tố tụng khác nhưng đối với người bị hại thì nó có một ý nghĩa đặc biệt , xuất
phát từ thái độ và tình cảm cảu người bị hại với tội phạm thông thường làm cho
lời khai của họ theo hướng chính xác hơn. Người bị hại là một “nhân chứng”
điều này”. Như vậy trường hợp người bị hại là người chưa thành niên, người có
nhược điểm về tâm thần, thể chất khi tham gia tố tụng thì đại diện hợp pháp của
họ có được tham gia tố tụng và có được hưởng các quyền của người bị hại
không? Theo tinh thần nội dung Điều 51 Bộ luật TTHS thì người đại diện hợp
pháp của người bị hại trong trường hợp này được tham gia tố tụng nhưng không
được thực hiện các quyền của người bị hại. Tuy nhiên, theo tinh thần của quy
định tại Điều 59 Bộ luật TTHS thì người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại được
tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại. Nội dung các
quyền của người này không khác nhiều so với nội dung các quyền quy định cho
người bị hại.
- Bộ luật TTHS chỉ quy định trường hợp người bị hại chết mà chưa quy
định trường hợp người bị hại mất tích. Vậy trường hợp người bị hại được xác
định là mất tích thì vấn đề người đại diện hợp pháp của họ được quy định và giải
quyết như thế nào? Họ có được phép tham gia tố tụng và được thực hiện các
quyền của người bị hại không? Thực tiễn giải quyết vụ án cho thấy cơ quan tiến
hành tố tụng giải quyết không thống nhất với nhau. Vì vậy, theo chúng tôi Bộ
luật TTHS cần bổ sung trường hợp trên theo hướng thừa nhận người đại diện
hợp pháp của người bị hại mất tích được tham gia tố tụng và được thực hiện các
quyền của người bị hại.
14
Thứ hai, là về vấn đề liên quan đến việc quy định và thực hiện các quyền
của người bị hại:
Tại điểm e khoản 2 Điều 51 Bộ luật TTHS quy định: người bị hại có
quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường cũng như về
phần hình phạt đối với bị cáo. Như vậy, quy định này chỉ cho phép người bị hại
kháng cáo trong phạm vi phần bồi thường và phần hình phạt, những phần khác
trong bản án như: phần dân sự cũng như vấn đề liên quan đến tội danh, đến
2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ
của người bị hại
2.1. Giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật
Hoàn thiện khái niệm “người bị hại” cần phải được hiểu một cách đầy đủ:
“Người bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài
sản do tội phạm gây ra”. Khái niệm này bao hàm các đặc điểm của người bị hại
như sau:
- Thứ nhất, về chủ thể, người bị hại là cá nhân, pháp nhân, cơ quan nhà
nước hoặc tổ chức khác;
- Thứ hai, thiệt hại do tội phạm gây ra có thể là thiệt hại về thể chất, thiệt
hại về tinh thần, thiệt hại về vật chất. Tuy nhiên, cần lưu ý là hậu quả của sự
thiệt hại không phải là điều kiện bắt buộc trong tất cả các trường hợp.
- Thứ ba, thiệt hại của người bị hại phải là đối tượng tác động của tội
phạm, tức là phải có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả
gây ra cho người bị hại. Đây là điều kiện quan trọng để phân biệt giữa người bị
hại và nguyên đơn dân sự hay các đương sự khác trong vụ án hình sự.
- Thứ tư, người bị thiệt hại chỉ được tham gia tố tụng với tư cách là người
bị hại khi và chỉ khi được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận.
2.2. Giải pháp về vấn đề liên quan đến đại diện hợp pháp của người bị hại
- Bổ sung nội dung trường hợp người bị hại là người chưa thành niên,
người có nhược điểm về tâm thần, thể chất khi tham gia tố tụng thì đại diện hợp
pháp của họ có được tham gia tố tụng và có được hưởng các quyền của người bị
hại không? vào Điều 51 Bộ luật TTHS.
16
- Bộ luật TTHS chỉ quy định trường hợp người bị hại chết mà chưa quy
định trường hợp người bị hại mất tích. Vậy trường hợp người bị hại được xác
định là mất tích thì vấn đề người đại diện hợp pháp của họ được quy định và giải
- Để khắc phục tình trạng hợp người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp
của họ bị kẻ phạm tội hoặc những người thân của người này khống chế, đe dọa,
mua chuộc, lừa dối hoặc có những thủ đoạn khác... làm cho người bị hại hoặc
người đại diện hợp pháp của họ không thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và
lợi ích của mình, không thể có mặt để thực hiện việc khai báo theo yêu cầu của
cơ quan tiến hành tố tụng và vô hình chung họ lại phạm vào tội từ chối khai báo
theo Điều 308 BLHS, bên cạnh quy định về bảo vệ người làm chứng, cũng cần
bổ sung quy định về bảo vệ người bị hại khi người bị hại yêu cầu và cơ quan
tiến hành tố tụng có cơ sở cho rằng người bị hại bị đe dọa.
- Sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 2 Điều 51 về phạm vi kháng cáo phần
trách nhiệm hình sự trong bản án. Nội dung đề nghị sửa đổi, bổ sung điểm e
khoản 2 Điều 51 như sau:…“kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần
bồi thường cũng như tội phạm bị xét xử và hình phạt được tuyên đối với bị cáo”.
- Sửa lại Điều 191 Bộ luật TTHS theo hướng khẳng định: trường hợp tại
phiên tòa người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt thì phải
hoãn phiên tòa, trừ trường hợp những người này yêu cầu hoặc đồng ý để Tòa án
xét xử vắng mặt họ. Sự tham gia phiên tòa của người bị hại có mục đích hoàn
toàn khác với nguyên đơn và bị đơn dân sự vì vậy không thể đồng nhất sự tham
gia phiên tòa của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự với người bị hại như tinh
thần của Điều luật này.
2.4. Bổ sung quy định về nghĩa vụ có mặt của người đại diện hợp pháp của
người bị hại theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng
Theo quy định tại khoản 5, điều 51 BLTTHS thì “trong trường hợp người
bị hại chết thì người đại diện hợp pháp của họ có quyền theo quy định tại điều
này”. Nếu hiểu như vậy thì người đại diện hợp pháp chỉ có quyền làm không
phải gánh vác nghĩa vụ và chính vì vậy đây là điều không hợp lý , quyền luôn đi
liền với nghĩa vụ.Người đại diện hợp pháp của người bị hại TGTT là để bảo đảm
quyền lợi cho người bị hại vì vậy họ thay mặt người bị hại hưởng quyền cũng
18
19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt nam, Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb
Tư pháp, Hà Nội, 2006.
2. “Một số vấn đề về giải quyết dân sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí Khoa học
pháp lý, số 1/2010, trang 25 – 32.
3. Địa vị pháp lý của người bị hại theo Luật TTHS Việt Nam, Khóa luận tốt
nghiệp, Hoàng Thị Ngọc, Hà Nội, 2011.
4. Bộ Luật Tố Tụng hình sự năm 2003.
5. “Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận
án tiến sỹ, Lê Nguyên Thanh,TP. Hồ Chí Minh, 2012.
6. “Quyền của người bị hại và vấn đề bảo vệ người bị hại trong tố tụng hình sự”,
Tạp chí Khoa học pháp lý, số 6/2010, trang 41 – 48.
7. “Bàn về khái niệm người bị hại trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Khoa học
pháp lý, số 5/2012, trang 18 – 26.
8. Từ điển Luật học, NXB TĐBK - NXB TP.
9. Trần Hữu Tráng, Nạn nhân học trong Tội phạm học- một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, Luận văn Thạc sỹ Luật học 2000, trang 18.
10. Trịnh Tiến Việt, Từ vụ án Lã Văn Ba – Bàn thêm về điểm k khoản 1 Điều
104 và Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999, khoa Luật ĐHQG Hà Nội.
11. Trần Văn Độ (2004), Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa, Tạp chí khoa học
pháp lý.
20
21