Quyền và nghĩa vụ của người bị hại trong TTHS - Pdf 34

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG BÀI.
BLTTHS: BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ.
CQĐT

: CƠ QUAN ĐIỀU TRA.

VKS

: VIỆN KIỂM SÁT.

TA

: TÒA ÁN.

1


MỤC LỤC
Trang
A.MỞ
BÀI…………………………………………………………………………….1
B.
I.
II.
II.1.
II.2.

PHẦN NỘI DUNG………………………………………………………...........1
Khái quát chung về người bị hại trong TTHS………………………………..1
Quyền và nghĩa vụ của người bị hại trong TTHS…………………………..3
Quyền của người bị hại……………………………………………………....4

phải là điều dễ dàng và tình trạng pháp luật tố tụng hình sự( TTHS) còn bỏ sót hoặc là
chưa có những quy định đầy đủ về vấn đề này. Chính vì vậy em xin lựa chọn đề tài “…”
để làm rõ hơn một số khía cạnh về người bị hại.
B. PHẦN NỘI DUNG.
I. Khái quát chung về người bị hại trong TTHS.
Pháp luật TTHS của các nước không có sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ
người bị hại. Chẳng hạn luật TTHS của Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga hay Việt nam
dùng thuật ngữ “người bị hại”, trong khi đó luật TTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
thì dùng thuật ngữ “người tố cáo”. Ngoài ra người bị hại còn được gọi là “người bị thiệt
hại”, hay gọi là “nạn nhân”, hay “dân sự nguyên cáo”. Người bị hại là một khái niệm
quen thuộc trong khoa học pháp lý về TTHS, dường như không cần phải luận bàn. Tuy
nhiên thế nào là người bị hại, phạm vi người bị hại...thì cho đến nay vẫn chưa có sự
nhận thức thống nhất, các ý kiến còn khác nhau. Để có sự nhận thức đầy đủ và thống
nhất về khái niệm người bị hại theo chúng tôi cần tiếp cận khái niệm này dưới những
góc độ khác nhau:
- Dưới góc độ ngôn ngữ có thể hiểu người bị hại là con người cụ thể trong xã hội, chịu
sự tác động tiêu cực của sự việc, hành vi hoặc bất kỳ sự tác động nào khác khác dẫn đến
những thiệt thòi, mất mát hay tổn thương cho chính họ. Tất nhiên sự tác động đó là trái
với ý muốn của người bị hại và họ tiếp nhận một cách thụ động. Thiệt hại gây ra cho
người bị hại có thể là thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất và không cần phải giới hạn
mức độ thiệt hại.
- Dưới góc độ ngôn ngữ pháp lý thì người bị hại là “người bị thiệt hại về thể chất, về
tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị người
phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể là pháp
nhân”.[1]
3


Dưới góc độ pháp luật thực định thì ở nước ta đã có quy định về người bị hại trong bộ
luật TTHS năm 2003

Như đã biết, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó xâm hại đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của người bị hại, đó có thể là những
thiệt hại vô cùng lớn mà người bị hại phải gánh chịu, vì vậy Nhà nước cần phải có biện
pháp cụ thể để bảo vệ người bị hại, khôi phục lại trạng thái ban đầu hoặc kịp thời khắc
phục thiệt hại do tội phạm gây ra đối với họ. Bên cạnh đó, người bị hại là người biết
được các tình tiết của vụ án nên họ cũng phải có nghĩa vụ công dân trong việc giúp các
4


cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Do vậy, khi tham gia tố
tụng, người bị hại có một số quyền và phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định. Hiện
nay, quyền và nghĩa vụ của người bị hại được quy định tại Điều 51 BLTTHS. [4]
2.1. Quyền của người bị hại
Theo quy định tại khoản 2, điều 51, Bộ luật TTHS năm 2003 thì người bị hại sẽ có
những quyền sau đây:
Đưa ra tài liệu đồ vật , yêu cầu:
Theo quy định tại điểm a, khoản 2,điều 51 BLTTHS.
Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền đưa ra những đồ vật, tài liệu để
chứng minh hành vi phạm tội, chứng minh những thiệt hại mà họ đã phải chịu do hành
vi phạm tội gây ra. Ví dụ như bị thiệt hại về tài sản, hay thiệt hại về sức khỏe do hành vi
phạm tội gây ra…Người bị thiệt hại cũng có yêu cầu mời them người làm chứng, yêu
cầu giám định mức đọ thương tật…
Trong quá trình giải quyết VAHS hồ sơ, chứng cứ xác lập trong giai đoạn điều tra là rất
quan trọng cho việc xét xử tại phien tòa. Tuy nhiên các chứng cứ có trong hồ sơ trong
nhiều trường hợp còn chưa đầy đủ và không loại trừ việc thiếu khách quan. Đặc biệt đối
với VAHS trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các CQTHTT cho nên đa số các
trường hợp CQĐT, VKS chỉ thu thập những chứng cứ buộc tội, điều đó tại nên sự không
đầy đủ và chưa chính xác. Chính vì vậy người bị hại có quyền “đưa ra tài liệu yêu cầu”
để vụ án được giải quyết một cách chính đúng đắn và khách quan.
Được thông báo kết quả điều tra:

người giám định…hoặc đưa ra tài liệu, đồ vật…được trình bày ý kiến, tranh luận tại
phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đây là một trong những quyền
thể hiện rõ nét tính dân chủ trong thực thi pháp luật TTHS.
Quyền khiếu nại quyết định hành vi tố tụng của cơ qiuan có thẩm quyền và người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Quyền này được quy định tại điểm e, khoản 2, điều 51, BLTTHS.
Đối tượng bị khiếu nại là các quyết định của CQĐT, VKS, TA và các hành vi tố tụng
của những người tiến hành tố tụng không có căn cứ hoặc trái pháp luật làm ảnh hưởng
đến quyền lợi của người bị hị thì họ có quyền khiếu nại.
Quyền kháng cáo:
Kháng cáo là một quyền quan trọng của người bị hại. Theo quy định tại điểm e,khoản 2,
điều 51 thì : “người bị hại có quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án về phần bồi
thường cũng như về hình phạt đối với bị cáo”
Theo hướng dẫn của HĐTPTANDTC trong Nghị quyết số 05-08/12/2005 thì những chủ
thể có quyền kháng cáo không chỉ là người bị hại àm người đại diện hợp pháp của họ và
người được người bị hại ủy quyền cũng có quyền này. Người bị hại có quyền kháng cáo
cả về phần mức bồi thường và cả phần hình phạt,
6


Người bị hại cũng có quyền rút đơn kháng cáo theo quy định của BLTTHS: “nếu người
bị hại rút toàn bộ kháng cáo trước khi hoặc bắt đầu tại phiên tòa không còn kháng cáo
kháng nghị thì việc xét xử phải được đình chỉ.
Quyền khởi tố vụ án hình sự:
Đây là quyền đặc thù của người bị hại. Đây là một quyết định mới của Nhà nước ta thể
hiện sự quan tâm đến người bị hại và được thể chế hóa vào pháp luật. Khởi tố VAHS
theo yêu cầu của người bị hại là trường hợp do tính chất của vụ án và vì quyền lợi của
nguwofi bị hại nên các cơ quan có thẩm quyền không tự mình khởi tố VAHS mà việc
khởi tố chỉ có thể có khi có yêu cầu của người bị hại. Mục đích là để động viên khuyến
khích các công dân tự hòa giải , tạo quan hệ tốt hơn cho công dân trong các mối quan hệ

những chứng cứ giúp CQTHTT xác minh sự thật khách quan của vụ án. Nếu các kết
luận giám định không chính xác không phản ánh được đúng sự thật thì sẽ ảnh hưởng đến
việc giải quyết vụ án và ảnh hưởng đến quyền lợi của chính người bị hại. Chính vì vậy
nên họ có quyền được biết về nội dung kết quả giám định,quyền này được quy dịnh theo
khoản 1 điều 158 BLTTHS : “sau khi đã tiến hành giám định nếu bị can hoặc những
người thm gia tố tụng khác yêu cầu thì coq quan đã trưng cầu giám định phải thông báo
cho họ về nội dung kết luận giám định”.
2.2. Nghĩa vụ của người bị hại.
Theo quan sát của chúng tôi, pháp luật TTHS về quyền và lợi ích của người bị hại qua
quá trình tồn tại và phát triển ngày càng được bổ sung, sửa đổi đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của CQĐT, VKS, TA.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự sự có mặt của người bị hại là rất cần thiết. Sự
tham gia tố tụng của người bị hại vừa là quyền đồng thời vừa là nghĩa vụ không những
đảm bảo được quyền lợi của họ mà còn góp phần giải quyết vụ án một cách nhanh
chóng và chính xác.
Theo quy định tại khoản 4, điều 51 BLTTHS : “người bị hại phải có mặt theo giấy triệu
tập của CQĐT, VKS, TA”.
Tại cơ quan THTT người bị hại được giải thích về quyền và nghĩa vụ của mình từ đó
giúp họ thực hiện tốt quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo pháp luật. Theo quy định của
BLTTHS thì khi nhận được giấy triệu tập của cơ quan THTT thì người bị hại phải có
mặt để trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án. Tại đây người bị hại phải khai báo
những tình tiết của vụ án mà họ biết để biết được cơ quan THTT hoàn thiện them hồ sơ
vụ án.
Sự có mặt của người bị hại có vai trò rất quan trọng nhất là đối với những vụ án khổi tố
theo yêu cầu của người bị hại nếu người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ vắng
mặt thì tòa án sơ thẩm phải hoãn phiên tòa. Trong phiên tòa phúc thẩm nếu người bị hại
kháng cáo hoặc có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo kháng nghị thì
được triệu tập. Nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì HĐXX có thể vẫn tiến hành
xét xử bình thường nhưng không được ra những quyết định không có lợi cho người bị
hại, trong những trường hợp nhất định thì phải hoãn phiên tòa.

các vấn đề sau đây:
Thứ nhất, theo quy định của luật TTHS nước ta thì người bị hại chỉ có thể là cá nhân,
vậy tổ chức, pháp nhân bị tội phạm trực tiếp xâm hại, pháp nhân, tổ chức đó sẽ tham gia
tố tụng với tư cách gì? Theo quy định của Bộ luật TTHS Việt Nam thì trong trường hợp
này pháp nhân, tổ chức sẽ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự khi có đơn
yêu cầu. Quy định như vậy là chưa thật sự hợp lý, bởi lẽ:
9


- Đối với các tổ chức, pháp nhân mà tài sản thuộc sở hữu nhà nước khi bị tội phạm gây
thiệt hại tổ chức, pháp nhân đó không có đơn yêu cầu thì họ sẽ tham gia tố tụng với tư
cách gì? Tài sản của nhà nước liệu có được đảm bảo?
- Đối với các doanh nghiệp mà tài sản thuộc sở hữu cá nhân, của một nhóm người cùng
góp vốn kinh doanh (công ty TNHH, công ty hợp danh...) trong quá trình hoạt động lại
bị kẻ phạm tội gây thiệt hại, vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình chủ sở
hữu tài sản đó chỉ được tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự, liệu có hợp
lý? Liệu có đảm bảo sự bình đẳng trong khi về thực chất tài sản đó đều là của cá nhân?
- Nếu cho rằng tổ chức, pháp nhân bị kẻ phạm tội trực tiếp xâm hại về tài sản sẽ tham
gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự thì sẽ không có sự phân biệt với thiệt hại về
tài sản do hành vi phạm tội gián tiếp gây ra. Chẳng hạn khi đánh nhau với B, A đã gây ra
một số thiệt hại về tài sản của C.
- Nếu quan niệm rằng hành vi gây thiệt hại cho pháp nhân, tổ chức là thiệt hại về tài sản
như định nghĩa tại Điều 52 Bộ luật TTHS Việt Nam thì chúng ta phải giải thích như thế
nào khi thiệt hại do tội phạm gây ra cho tổ chức, pháp nhân là thiệt hại về thương hiệu,
về uy tín trong kinh doanh?
Thực chất vấn đề có nên thừa nhận tổ chức, pháp nhân là người bị hại trong trường hợp
họ bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại đã được đặt ra trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ
luật TTHS năm 1988 vào những năm 2000. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau vấn đề
này đã tạm gác lại. Chúng tôi cho rằng xã hội đã có những thay đổi lớn theo hướng tích
cực, xu hướng hội nhập khu vực và thế giới đã trở thành xu thế tất yếu. Những lý do

giải quyết vụ án cho thấy cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết không thống nhất với
nhau.
Trường hợp nêu trên cơ quan tiến hành tố tụng không xác định được ai là người đại diện
hợp pháp, hoặc người bị hại thực tế cũng không còn ai là người đại diện hợp pháp thì
giải quyết như thế nào? Người thân của người bị hại có được tham gia tố tụng không và
với tư cách gì? Về vấn đề này chưa có sự nhận thức và áp dụng thống nhất. Hiện có
nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này: Người thân của người bị hại cũng được xem là
người đại diện hợp pháp[5] ; người thân của người bị hại là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan[6]; người thân của người hại trong các trường hợp trên chính là người bị hại và
với tư cách đó họ cần phải tham gia vào vụ án[7]; người thân của người bị hại là người
đại diện của người bị hại và là người bị hại. [8]
Thứ ba là về vấn đề liên quan đến việc quy định và thực hiện các quyền của người bị
hại
Phạm vi thực hiện quyền kháng cáo của người bị hại. Tại điểm e khoản 2 Điều 51 Bộ
luật TTHS quy định: người bị hại có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về
phần bồi thường cũng như về phần hình phạt đối với bị cáo. Như vậy, quy định này chỉ
cho phép người bị hại kháng cáo trong phạm vi phần bồi thường và phần hình phạt,
những phần khác trong bản án như: phần dân sự cũng như vấn đề liên quan đến tội danh,
đến khung hình phạt... nếu không đồng tình với bản án và quyết định của Tòa án thì
người bị hại không có quyền kháng cáo. Trong khi đó tại Điều 231 Bộ luật TTHS lại
quy định: Người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án và
quyết định của Tòa án. Như vậy theo quy định này thì người bị hại có quyền kháng cáo
toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Điều luật không thể hiện bất cứ sự giới hạn nào
như tinh thần của Điều 51 Bộ luật TTHS. Như vậy phải chăng nội dung hai điều luật lại
11


mâu thuẫn với nhau và khi gặp trường hợp trên Tòa án sẽ giải quyết như thế nào? Cho
đến nay chưa có văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn áp dụng hai điều
luật trên, vì vậy mỗi nơi áp theo cách hiểu riêng của mình.

105 Bộ luật TTHS đã ghi nhận yêu cầu của người bị hại. Quá trình áp dụng cho thấy chế

12


định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại đã phát huy hiệu quả, quyền và lợi ích
hợp pháp của người bị hại được bảo vệ tốt hơn.
Tuy nhiên so với yêu cầu đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, chế định
này cũng đã bộc lộ một số bất cập. Chẳng hạn: Theo quy định tại khoản 3 Điều 51 Bộ
luật TTHS, trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định
tại Điều 105 Bộ luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày
lời buộc tội tại phiên tòa. Đây là một nội dung đã được quy định từ những năm 1988,
qua các lần sửa đổi, bổ sung, Bộ luật TTHS vẫn giữ nguyên quy định này. Tuy nhiên,
cho đến nay chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về việc người bị hại trình
bày lời buộc tội bị cáo tại phiên tòa như thế nào. Trường hợp nếu người bị hại trình bày
lời buộc tội thì kiểm sát viên tham gia phiên tòa có trình bày lời buộc tội nữa không? Lời
buộc tội của người bị hại có giá trị như thế nào? Sự có mặt của người bị hại trong trường
hợp này có bắt buộc như đối với kiểm sát viên không? Thực tiễn xét xử cho thấy mọi
việc đều do kiểm sát viên thực hiện, còn người bị hại trong trường hợp này cũng không
có gì đặc biệt so với người bị hại trong các vụ án khác. Hơn nữa, bản thân quy định này
cũng chưa thật đầy đủ và phù hợp, chẳng hạn trong giai đoạn trước khi mở phiên tòa thì
người bị hại có các quyền hạn cụ thể nào, cách thức thực hiện các quyền đó ra sao cũng
chưa được quy định rõ
IV…Giải pháp.
Từ những tồn tại ở trên trong quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện chúng ta cần
có những giải pháp để hoàn thiện những thiếu sót đó. Dưới đây là một số hướng giải
pháp:
4.1.Giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật.
4.1.1. Hoàn thiện khái niệm “người bị hại”.
cần phải được hiểu một cách đầy đủ:

Trong trường hợp người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền và nghĩa vụ mâu
thuẫn với nhau. Trong trường hợp này mặc dù vẫn có ý kiến khác nhau nhưng theo
chúng tôi cần xác định họ đều là những người đại diện hợp pháp của người bị hại và họ
có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng như nhau. Tuy nhiên, khi tham tố tụng Tòa án
cần yêu cầu những người có cùng quyền lợi cử một người tham gia, nhưng Tòa án cần
quyết định riêng đối với từng người, những người không tham gia tố tụng phải làm thủ
tục ủy quyền cho người tham gia tố tụng.
4.1.3. Về vấn đề liên quan đến đến vấn đề thực hiện quyền của người bị hại:
Về phạm vi kháng cáo của người bị hại để khắc phục sự mâu thuẫn nói ở trên, đảm bảo
sự thống nhất trong quá trình áp dụng, cũng như để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của
người bị hại theo chúng tôi cần thiết phải sửa lại nội dung Điều 51 Bộ luật TTHS theo
hướng cho phép người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo
toàn bộ bản án hoặc quyết định của tòa án cấp sơ thẩm.
Luật TTHS chưa khẳng định người bị hại là một bên trong tranh tụng để khẳng định vị
trí, vai trò và đảm bảo có hiệu quả các quyền của người bị hại chúng tôi đề nghị:
+ Sửa lại Điều 191 Bộ luật TTHS theo hướng khẳng định: trường hợp tại phiên tòa
người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa, trừ
trường hợp những người này yêu cầu hoặc đồng ý để Tòa án xét xử vắng mặt họ. Sự
tham gia phiên tòa của người bị hại có mục đích hoàn toàn khác với nguyên đơn và bị
14


đơn dân sự vì vậy không thể đồng nhất sự tham gia phiên tòa của nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự với người bị hại như tinh thần của Điều luật này.
+ Thực tiễn xử lý vụ án hình sự cho thấy không ít trường hợp người bị hại hoặc người
đại diện hợp pháp của họ bị kẻ phạm tội hoặc những người thân của người này khống
chế, đe dọa, mua chuộc, lừa dối hoặc có những thủ đoạn khác... làm cho người bị hại
hoặc người đại diện hợp pháp của họ không thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi
ích của mình, không thể có mặt để thực hiện việc khai báo theo yêu cầu của cơ quan tiến
hành tố tụng và vô hình chung họ lại phạm vào tội từ chối khai báo theo Điều 308



đưa vụ án ra xét xử trên cơ sở đề nghị của người bị hại. Tại phiên tòa kiểm sát viên
không đọc bản cáo trạng mà người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày
lời cáo buộc của mình trước khi tiến hành xét hỏi. Kiểm sát viên cũng không trình bày
lời luận tội mà sẽ do người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại trình bày.
Trong trường hợp này người bị hại, đại diện hợp pháp của họ bắt buộc phải có mặt tại
phiên tòa, nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa, kiểm sát viên không bắt buộc phải có
mặt tại phiên tòa.
Tất cả những sửa đổi trên đây nếu được chấp nhận sẽ có thể đảm bảo chế định khởi tố
vụ án theo yêu cầu của người bị hại đi vào thực chất, quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị hại mới được đảm bảo.
4.1.5. Bổ sung quy định về nghĩa vụ có mặt của người đại diện hợp pháp của người bị
hại theo giấy triệu tập của CQTHTT.
Theo quy định tại khoản 5, điều 51 BLTTHS thì “trong trường hợp người bị hại chết thì
người đại diện hợp pháp của họ có quyền theo quy định tại điều nay”
Nếu hiểu như vậy thì người đại diện hợp pháp chỉ có quyền àm không phải gánh vác
nghĩa vụ và chính vì vậy đây là điều không hợp lý , quyền luôn đi liền với nghĩa vụ.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại TGTT là để bảo đảm quyền lợi cho người bị
hại vì vậy họ thay mặt người bị hại hưởng quyền cũng như gánh vác các nghĩa vụ. Nghĩa
vụ khai báo không được đặt ra đối với người đại diện hợp pháp của người bị hại vì họ có
thể biết hay không biết những tình tiết liên quan đến vụ án. Nhưng việc người đại diện
hợp pháp phải có amwtj theo giấy triệu tập của CQTHTT là rất cần thiết và nó ảnh
hưởng đến việc giải quyết vụ án vì lúc này sự có mặt của họ có vai trò quan trọng như sự
có mặt của người bị hại.
Nên quy định “sự có mặt của người đại diện hợp pháp của người bị hại theo giấy triệu
tập của CQTHTT” là nghĩa vụ. Nếu họ vắng mặt có lý do chính đáng thì phải hoăn
phiên tòa còn trường hợp họ vắng mặt không có lý do chính đáng thì tòa án vẫn tiến
hành xét xử.
4.2.Giải pháp khác

B.

KẾT LUẬN.

Tóm lại chế định người bào chữa là một chế định quan trọng trong BLTTHS và để những
người bào chữa tham gia hoạt động tố tụng thực sự hiệu quả thì cần sửa đổi một số quy định
cũng như chú trọng hơn nữa để phù hợp với nhu cầu thực tế.

17


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
[1] Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an
nhân dân, 1999, tr. 198.
[2] V.M Xavitxki, Khái niệm người bị hại theo tố tụng hình sự Xô viết, Moskova, 1963,
tr. 19.
[3] S.P Bekesko, Bình luận Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa Belorusia, Minsk,
1968, tr. 74.
[4] Trần Hữu Tráng, Nạn nhân học trong tội phạm học Việt nam – một số vấn đề lý luận
và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội, 2000, tr. 8.
[5] Xem: Đinh Văn Quế, Thủ tục xét xử các vụ án hình sự, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2003,
tr. 94.
[6] Viện Nhà nước và Pháp luật, Tội phạm học, Luật hình sự và Luật TTHS Việt Nam,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 383.
[7] Xem: R.Đ Rakhunốp, Những người tham gia hoạt động tố tụng hình sự, Matxcơva,
1961, tr. 224 và Viện Nhà nước và Pháp luật, sđd, tr. 383.
[8] M.X Xtrôgôvich, Giáo trình tố tụng hình sự, tập 1, Nxb Văn học pháp lý, Matxcơva,
1980, tr. 258.
[9] Xem: Đinh Văn Quế, Thủ tục xét xử các vụ án hình sự, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2003,
tr. 94.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status