QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Tháng Chín 21, 2009 Để lại phản hồi Go to comments
Hướng tới hội thảo khoa học ” Bộ luật tố tụng hình sự –
những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung”
THAM LUẬN
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Luật sư. Nguyễn Văn Chiến
Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội
I. Mục Đích
Mục đích quan trọng của việc sửa đổi BLTTHS 2003 lần này là đề cao trách nhiệm và xác định
rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, nhất là xác định trách nhiệm
cụ thể của từng chức danh tố tụng, phân định rõ thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố tụng
nhằm nâng cao trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Đồng thời xác định rõ hơn quyền
và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng. Hay nói cách khác, cần phải tìm ra nguyên nhân
những quy định này của BLTTHS vì sao đã có thực tiễn áp dụng hơn 5 năm qua nhưng vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu của những Nguyên tắc cơ bản được quy định cụ thể tại Chương IV Bộ luật
nhằm tìm ra giải pháp khắc phục trong lần sửa đổi lần này.
Với ý nghĩa quan trọng đó, chúng tôi rất ủng hộ cuộc tọa đàm của Ban học tập Đoàn luật sư Hà
Nội về chủ đề: “Quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng hình sự phục
vụ việc góp ý sửa đổi Bộ luật TTHS 2003″. Hy vọng cuộc tọa đàm sẽ tập trung được trí tuệ, kinh
nghiệm quý báu của các diễn giả luật sư để góp thêm tiếng nói quan trọng vào công tác cải cách
tư pháp hiện nay của Đảng và Nhà nước ta.
II. Quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bào chữa.
Trong tham luận này, chúng tôi xin đóng góp một vài ý kiến về quyền và nghĩa vụ tố tụng của
người bào chữa.
Trong 15 điều của Chương III về Người tiến hành tố tụng, chỉ có một điều quy định về trách
nhiệm của Cơ quan tiến hành tố tụng giải thích và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của
vướng mắc do những hạn hẹp về kiến thức pháp luật, lại không được đào tạo chuyên sâu về các
kỹ năng hành nghề trong tranh tụng vụ án hình sự, không được tập sự trong các tổ chức hành
nghề luật sư chuyên nghiệp. Thực tiễn xét xử những người này tham gia tố tụng rất hạn chế, hãn
hữu mới có người được Tòa án chấp nhận tham gia. Trong giai đoạn điều tra, truy tố thì hoàn
toàn vắng bóng họ, vì thực tế luật sư tham gia còn rất khó khăn. Do đó, theo quan điểm của
chúng tôi, chế định bào chữa viên nhân dân và người khác đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó.
Hiện nay, cùng với việc thực thi Luật Luật sư năm 2006, Liên đòan luật sư Việt Nam ra đời đã
khẳng định sự lớn mạnh và vị thế của đội ngũ luật sư Việt Nam, hướng tới việc xây dựng một
đội ngũ luật sư chuyên nghiệp thực hiện các phạm vi hành nghề tư vấn, tranh tụng và cung cấp
các dịch vụ pháp lý phủ kín các mặt của đời sống xã hội và đời sống tư pháp, nên chăng cần
xem xét lại và bỏ chế định bào chữa viên nhân dân là người bào chữa trong BLTTHS sửa
đổi, bổ sung sắp tới. Các nhà lập pháp cần tập trung quy định có hiệu lực về hoạt động bào chữa
trong tố tụng hình sự vào chủ thể tư pháp duy nhất có đủ phẩm chất, kỹ năng và đạo đức hành
nghề là luật sư. Điều đó cũng phù hợp với xu thế phát triển khách quan của nghề luật sư và chủ
trương cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
Quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Các điều 48,49, 50), cần quy định cụ thể về
quyền của họ được giải thích quyền có luật sư ngay khi bị bắt và có quyền im lặng khi không có
sự tham gia của luật sư bào chữa.
Quyền của người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi Quyết định tạm giữ, khởi tố bị
can và được ghi chép, sao chụp tài liệu cần thiết cho việc bào chữa; xem các biên bản về hoạt
động tố tụng khi có mặt của họ và xem các quyết định tố tụng có liên quan đến người mà họ bào
chữa; được thông báo trước về thời gian,địa điểm lấy lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo và những người thân thích của họ cũng như những cơ quan tổ chức nếu không
thuộc bí mật Nhà nước hoặc bí mật công tác (các điều 56, 58, 65).
Vấn đề từ chối người bào chữa được quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2003
cần hoàn thiện thêm vì quy định như vậy còn có bất cập, không hợp lý. Việc không phân biệt
quyền từ chối người bào chữa của hai nhóm đối tượng được quy định tại điểm a và điểm b khoản
2 điều luật này là một sự không chặt chẽ về mặt lý luận. Đối tượng được quy định tại điểm a
(mặc dù Điều 305 BLTTHS quy định cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định luật sư) nhưng họ
không thực hiện hoặc tìm cách bảo bị can viết đơn từ chối luật sư trong khi họ chưa hề thực hiện
Điều luật là chỉ định luật sư thì bản cung lại được chấp nhận là hợp pháp, Bản kết luận điều tra
và Bản cáo trạng vẫn có giá trị pháp lý buộc tội. Tôi nghĩ đây là lỗ hổng lớn mà lần sửa đổi Bộ
luật Tố tụng hình sự tới đây phải đặc biệt quan tâm, giải quyết thấu đáo.
Để khắc phục, tôi cho rằng luật cần chi tiết theo hướng ngoài điểm điều luật đã quy định điều tra
viên thông báo cho luật sư thời gian, địa điểm hỏi cung bị can; cách thức trao đổi, liên hệ để
thông báo với luật sư, những nguyên tắc và trách nhiệm bảo mật thông tin điều tra. Khi tham gia
hỏi cung, luật sư được hỏi sau mỗi vấn đề, nội dung điều tra viên hỏi. Luật sư có quyền giải thích
pháp luật cho bị can về quyền trả lời hoặc không trả lời vấn đề điều tra viên hỏi. Luật sư có
quyền phản đối câu hỏi mớm cung, bức cung của điều tra viên; xem xét và có ý kiến về nội dung
biên bản hỏi cung có đúng nội dung trả lời của bị can hay không; xác định tình trạng sức khỏe và
tâm thần của bị can khi hỏi cung. Điểm e khoản 2 Điều 58 cần bổ sung theo tinh thần: luật sư có
quyền gặp riêng làm việc với người bị tạm giữ,bị can, bị cáo khi cần thiết. trong trường hợp đặc
biệt, một số tội cụ thể luật sư có quyền làm việc với bị can trong tầm nhìn nhưng không trong
tầm nghe của cán bộ tố tụng. Không bị hạn chế về số lượng lần gặp và thời gian gặp chứ không
phải quy định chung chung là được gặp để tránh những sự gây khó khăn từ phía cơ quan và
người thi hành tố tụng chỉ cho gặp một cách hình thức và hạn chế thời gian được gặp.
Cần bổ sung quy định lời khai của bị can trong quá trình điều tra, truy tố mà không có sự tham
gia của luật sư thì không được công nhận là chứng cứ. Sự bổ sung này hoàn toàn khả thi trong
điều kiện hiện nay của nước ta. Ở những nước có nền dân chủ tư pháp phát triển, bị can, bị cáo
có quyền từ chối cung khai nếu vắng mặt luật sư. Sự có mặt của luật sư trong các buổi lấy cung
có 2 ý nghĩa: giám sát, không để xảy ra việc mớm cung, bức cung, nhục hình; và không để xảy ra
tình trạng phản cung, bác lời khai tại cơ quan điều tra, viện kiểm sát bởi việc lấy cung đã có
người thứ ba chứng kiến.
Để quy định về nghĩa vụ của người bào chữa hoàn chỉnh hơn, tôi cho rằng cần bổ sung vào
khoản 4 của Điều 58 cụm từ “nếu tiết lộ bí mật điều tra và” vào sau cụm từ “người bào chữa”
nhằm đảm bảo cho việc giữ bí mật điều tra mà người bào chữa biết được khi tham gia tố tụng.
nước pháp quyền của chúng ta. Điều này là khẳng định thống nhất ý kiến, quan điểm của giới
luật sư nói chung và đường lối thống nhất xuyên suốt trong nội dung cải cách tư pháp mà Đảng
và nhà nước ta đã đề ra. Nếu thực tế chúng ta chưa thấy hết được vai trò quan trọng của luật sư là
tranh tụng để đảm bảo quyền cơ bản của bị can, bị cáo nhằm tránh oan sai và hạn chế vi phạm
trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng thì nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế và xây
dựng thành công nhà nước pháp quyền của giới luật sư chúng ta sẽ không thể hoàn thành.
Tuy nhiên còn có nhiều ý kiến cho rằng, việc mở rộng các quyền của người bào chữa sẽ gây
nhiều “khó khăn” cho các cơ quan tiến hành tố tụng? Theo quan điểm của chúng tôi, điều đó chỉ
đúng một phần nhỏ khi ở phương diện là người tiến hành tố tụng năng lực và trình độ còn hạn
chế ở mấy năm trước khi sửa đổi BLTTHS năm 2003. Nay để đáp ứng yêu cầu cải cách đồng bộ
hệ thống các cơ quan tư pháp thì đội ngũ cán bộ tư pháp đã được tăng cường về năng lực chuyên
môn và nhận thức nghề nghiệp để đáp ứng xu thế hội nhập của đất nước. Đến nay phải nói rằng
vấn đề này không còn là hạn chế không thể khắc phục mà chúng ta phải coi đó là những “khó
khăn cần thiết” để bảo đảm một nền tư pháp trong sạch, góp phần chống oan sai trong điều tra,
truy tố, xét xử các vụ án hình sự, và chính ý nghĩa và mục đích lớn lao đó thì chúng tôi cho rằng
từ việc mở rộng quyền của người bào chữa ở lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS năm 2003 thì
nay cần quy định thêm cơ chế đảm bảo quyền ngay trong luật bằng cách quy định sự tham gia
của luật sư là bắt buộc. Quy định này sẽ khắc phục sự phân biệt và hướng dẫn không bình đẳng
của mỗi cơ quan THTT về việc đảm bảo quyền của luật sư trong trường hợp luật sư mời khác
luật sư chỉ định. Cần phải nhìn nhận một thực tế tích cực là có sự tham gia của luật sư trong các
hoạt động tố tụng thì người THTT phải thận trọng và kỹ càng hơn trong mọi hoạt động của mình.
Mặt khác, luật sư là người hiểu luật, thông thạo về tố tụng nên sẽ là nhà “tư vấn” quan trọng cho
cơ quan và người THTT mỗi khi họ “làm theo thói quen” hoặc do quá bận mà “lỡ quên” quy
định của BLTTHS mà không thực hiện đúng trình tự bắt buộc của quy trình tố tụng. Như vậy, sự
sửa đổi , bổ sung theo hướng phân tích trên sẽ là tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cơ quan và
người tiến hành tố tụng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình đồng thời đảm bảo quyền của người
tham gia tố tụng.
Tuy nhiên, Bộ luật TTHS hiện hành vẫn còn hạn chế quyền thu thập chứng cứ của người bào
chữa. Quy định của luật hiện hành cho phép luật sư chỉ thu thập chứng cứ từ người bị bắt, bị tạm
giữ, bị can, bị cáo và những người thân thích của họ; từ cơ quan, tổ chức nếu không thuộc bí mật
nào?
Tóm lại, với những nội dung nêu trên mới chỉ là một phần nhỏ những bất cập trong thực tiễn áp
dụng BL TTHS trong 5 năm qua liên quan đến quyền của luật sư và trách nhiệm của các cơ quan
tiến hành tố tụng. Chúng tôi mong muốn đóng góp một số ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện Bộ
luật tố tụng hình sự của Việt Nam trong thời gian tới, đảm bảo nền tư pháp Việt Nam xã hội chủ
nghĩa.
Xin cám ơn quý vị đã chú ý lắng nghe