N
gười bị hại là một trong những người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ
luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS). Việc tham gia tố tụng của người bị hại
không chỉ nhằm bảo vệ, khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của họ
đã bị hành vi phạm tội xâm hại mà còn góp phần quan trọng vào việc xác định sự thật
khách quan của vụ án” [4, trang 1]. Việc xác định tư cách của người bị hại sẽ là cơ sở
cho việc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp cũng như chỉ rõ nghĩa vụ và trách
nhiệm của người bị hại trong hoạt động tiến hành tố tụng hình sự (TTHS). Thế nào là
người bị hại theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành? Người bị hại có
quyền và nghĩa vụ gì trong TTHS? Để trả lời cho những câu hỏi trên, bài luận dưới đây
của tôi sẽ tập trung khai thác đề tài: “Địa vị pháp lý của người bị hại trong TTHS”.
Mặc dù đây không phải là đề tài mới, song hi vọng bài viết sẽ đưa đến cho người đọc
một góc nhìn cá nhân về vấn đề này.
1. Một số vấn đề cơ bản về địa vị pháp lý của người bị hại trong TTHS
1.1. Khái niệm “người bị hại” trong TTHS
Pháp luật TTHS của các nước trên thế giới không có sự thống nhất trong việc sử dụng thuật
ngữ người bị hại. Chẳng hạn luật TTHS của Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga hay Việt nam dùng thuật
ngữ “người bị hại”, trong khi đó luật TTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì dùng thuật
ngữ “người tố cáo”. Ngoài ra người bị hại còn được gọi là “người bị thiệt hại”, hay gọi là “nạn
nhân”, hay “dân sự nguyên cáo” [6].
T
hông thường, người bị hại tham gia tố tụng có mặt hầu hết trong các vụ án
hình sự có đối tượng tác động của tội phạm là con người hoặc tài sản. Theo cắt
nghĩa pháp lý, “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần
hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị thiệt hại về
thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể là pháp nhân” [5, trang 198]. Về
mặt xã hội, người bị hại là con người cụ thể trong xã hội, chịu tác động tiêu cực của sự
Tội phạm học) và đối tượng tác động của tội phạm (thuật ngữ pháp luật hình sự). “Nạn
nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại,
gây thiệt hại về thể chất, về tinh thần, tài sản hoặc các quyền, lợi ích hợp pháp khác”
[8, trang 18]. Thiệt hại không chỉ dừng ở thiệt hại vật chất và tinh thần mà còn thiệt hại
về các lợi ích khác. Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận khách thể bị hành vi vi
phạm pháp luật hình sự tác động đến, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại. Đối tượng
tác động không chỉ là con người mà còn là tài sản hoặc hoạt động bình thường của con
người [9, trang 11].
1.2. Khái niệm về địa vị pháp lý người bị hại trong TTHS
heo ngôn ngữ học, địa vị là “chỗ đứng xứng đáng với vai trò, tác dụng có
được; hoặc vị trí, chỗ đứng của cá nhân trong xã hội; hoặc, chỗ đứng trong
cách nhìn nhận, giải quyết vấn đề” [10]. Như vậy, có thể hiểu, địa vị pháp lý
là vị thế của một chủ thể đặt trong quan hệ pháp luật cụ thể. Địa vị pháp lý, hay còn gọi
là tư cách pháp lý, thể hiện vị trí, vai trò của chủ thể đó trong quan hệ pháp luật và đi
T
2
liền với nó là quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý phát sinh [11, trang
53].
Như vậy, có thể khái quát, địa vị pháp lý của người bị hại trong TTHS là tổng thể
quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của người bị hại khi tham gia vào quan hệ
TTHS và được quy phạm pháp luật TTHS điều chỉnh.
1.3. Cơ sở quy định về địa vị pháp lý của người bị hại trong TTHS
hực tế cho thấy tội phạm thường xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm,
danh dự và tài sản của con người. Do đó, để bảo vệ những chủ thể bị tội phạm
xâm hại này, pháp luật tố tụng hình sự bắt buộc phải có những quy định pháp
lý xác lập tư cách pháp lý cho các chủ thể trên để từ đó bảo vệ quyền và lợi ích chính
gia tố tụng có yêu cầu về những vấn đề có liên quan đến vụ án thì Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của mình, giải quyết yêu cầu của họ và báo
cho họ biết kết quả. Trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu thì Cơ quan điều tra
hoặc Viện kiểm sát phải trả lời và đưa ra lý do” (Điều 122 BLTTHS 2003). Pháp luật
quy định người bị hại đưa ra tất cả tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án mà n gười bị hại
biết, một mặt, nhằm đảm bảo nguyên tắc xác định sự thật, góp phần giải quyết nhanh
chóng, mặt khác bảo đảm quyền lợi chính đáng của người bị hại.
BLTTHS 1988 chỉ ghi nhận “người bị hại có quyền đưa ra chứng cứ”, trong khi
đó BLTTHS năm 2003 quy định “người bị hại có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu”
(điểm a) khoản 2 Điều 51). Đây là một sự sửa đổi phù hợp vì chứng cứ phải được thu
thập dưới sự kiểm sát nghiêm ngắt cơ quan có thẩm quyền nên người bị hại không thể
đưa ra các chứng cứ mà họ chỉ có thể đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu để cơ quan tiến
hành tố tụng xem xét, đánh giá góp phần vào việc giải quyết đúng đắn vụ án.
Thứ hai, về quyền được thông báo về kết quả điều tra
Điểm b) khoản 2 Điều 51 BLTTHS 2003 quy định, người bị hại hoặc người đại
diện hợp pháp của họ có quyền được thông báo về kết quả điều tra. Khi được thông báo
về kết quả điều tra, người bị hại sẽ được biết những vấn đề về nội dung vụ án, trên cơ
sở đó chuẩn bị những chứng cứ, lí lẽ hoặc yêu cầu để buộc tội bị cáo hoặc chứng minh
thiệt hại của mình(1). Một trong những quyền được thông báo về kết quả điều tra đó là
quyền đối với kết luận giám định. Kết luận giám định là phương tiện chứng minh quan
trọng, giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan, là cơ sở xác định
mức bồi thường và trách nhiệm hình sự với bị can, bị cáo. Điều 133 BLTTHS năm
1988 quy định quyền được thông báo kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung,
giám định lại cho bị can thì tại Điều 158 BLTTHS năm 2003 sửa đổi, bổ sung trao
quyền này cho cả người tham gia tố tụng khác, trong đó có người bị hại.
Thứ ba, về quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định,
người phiên dịch
1()
phiên tòa họ có thể đề nghị việc thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định,
người phiên dịch, đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu, được trình bày ý kiến, tham gia tranh
luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đây là quyền thể hiện
tính dân chủ, ngoài ra “những đánh giá khác nhau, phản biện nhau của các bên tham
2()
Một số quốc gia trên thế giới cũng đề cập tới quyền bồi thường thiệt hại của người bị hại. Điều 53 BLTTH Trung Hoa:
“Nếu hành vi phạm tội của bị can gây thiệt hại về vật chất thì trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, người bị hại còn
có quyền kiện dân sự”. Hay Điều 706-3 BLTTHS Pháp thì người bị hại cũng có quyền đòi bồi thường dân sự. BLTTHS
Pháp còn quy định trong trường hợp không xác định được người phạm tội hoặc người phạm tội không có khả năng bồi
thường thì người bị hại sẽ được nhà nước bồi thường dân sự. Nhìn chung các quốc gia đều có quy định cho người bị hại
có quyền đề nghị bồi thường vì đây là một trong những quyền thể hiện sự bảo vệ của nhà nước với người bị hại và góp
phần giúp đỡ người bị hại khắc phục hậu quả.
5
gia tố tụng tại phiên tòa sẽ giúp tòa án khách quan hơn, toàn diện hơn, thận trọng hơn
khi đánh giá để ra phán quyết” [12].
Thứ sáu, quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng
Trong quá trình tiến hành tố tụng, nếu quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không có căn cứ hoặc trái pháp luật ảnh hưởng
tới quyền lợi của họ thì họ có quyền khiếu nại (điểm e) khoản 2 Điều 51).“Khiếu nại
trong TTHS là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức đề nghị cơ quan, cá nhân thẩm quyền
xem xét lại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành
vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [13, điểm 2.1.
Mục 2]. Đối tượng bị khiếu nại là các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án và các hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Khiếu nại của người
bị hại phải được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xem xét, kịp thời sửa chữa sai sót và
người khác bảo vệ quyền lợi cho mình (khoản 1 Điều 59 BLTTHS 2003).
Thứ chín, quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự hoặc rút yêu cầu khởi tố hình sự
Quyền yêu cầu khởi tố và rút đơn khởi tố hình sự là quyền đặc thù của người bị
hại, là quan điểm mới của nhà nước thể chế hóa sự quan tâm tới người bị hại vào pháp
luật, được áp dụng phổ biến ở khá nhiều nước. Khởi tố vụ án theo yêu cầu của người vị
hại là trường hợp do tính chất của vụ án và vì quyền lợi của người bị hại nên các cơ
quan có thẩm quyền không tự mình khởi tố vụ án hình sự mà việc khởi tố chỉ được thực
hiện khi có yêu cầu của người bị hại, mặt khác cũng có quyền rút đơn nhằm mục đích
“động viên, khuyến khích các công dân tự hòa giải, tự thu xếp, dàn hòa ổn thỏa, đồng
thời tạo quan hệ đoàn kết, thân ái giữa các công dân với nhau khi xảy ra mâu thuẫn
[14]. Ở nước ta, chế định này được áp dụng từ năm 1988 thể hiện tính dân chủ, sự cảm
thông trước những thiệt hại, mất mát, đau đớn của người bị hại; tránh trường hợp quá
trình giải quyết vụ án có thể gây thêm những tổn thương về tinh thần đối với họ(4).
Về quyền yêu cầu khởi tố vụ án, yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại có thể
bằng văn bản hoặc bang lời trình bày tại Cơ quan điều tra. Khi đó, người có thẩm quyền
phải ghi lại và yêu cầu người bị hại kí vào văn bản đó. Về thời hạn giải quyết các yêu
cầu khởi tố cụ án hình sự của người bị hại thì theo Thông tư liên tịch 05/2005/TTLTVKSTC-BCA-BQP thì thời hạn giải quyết là 20 ngày, trường hợp có nhiều tình tiết
phức tạp thì thời hạn tối đa không quá 2 tháng(5). Tuy nhiên, pháp luật hiện nay không
quy định cụ thể về việc xác định nội dung yêu cầu khởi tố của người bị hại, phải nêu rõ
tội danh hay chỉ yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết vụ án.
4()
Điều 135 BLTTHS Nhật Bản “các tội phạm quy định tại chương các tội phạm bí mật chỉ được khởi tố theo yêu cầu của
người bị hại”. Khoản 2 Điều 20 BLTTHS Nga “các vụ án về hình sự được quy định tại các Điều 115, 116, Khoản 1 Điều
129. 130 BLHS Liên bang Nga được coi là các vụ án tư tố. Các vụ án này chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại
hoặc người đại diện hợp pháp của họ”.
5()
Tại Điều 257 BLTTHS Hàn Quốc quy định thời hạn để giải quyết yêu cầu khởi tố của người bị hại là 3 tháng. Điều 235
BLTTHS Nhật Bản quy định thời hạn giải quyết là 6 tháng.
Thực tiễn giải quyết vụ án hình sự cho thấy không ít trường hợp người bị hại
hoặc người thân thích của họ bị người phạm tội đe dọa, khống chế, mua chuộc để ngăn
chặn người bị hại khai báo phục vụ việc xác định sự thật của vụ án. Để khắc phục tình
8
trạng này và phục vụ tốt hơn cho việc xác định sự thật của vụ án nên quy định các quy
định bảo vệ người bị hại khi người bị hại có yêu cầu và cơ quan tiến hành tố tụng có cơ
sở cho rằng người bị hại bị đe dọa.
2.2. Nghĩa vụ của người bị hại
Thứ nhất, nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan tiến hành tố tụng
heo quy định của BLTTHS thì khi nhận được giấy triệu tập của cơ quan tiến
hành tố tụng thì người bị hại phải có mặt để trình bày những vấn đề có liên
quan đến vụ án. Tại đây người bị hại phải khai báo những tình tiết mà họ biết
để cơ quan tiến hành tố tụng hoàn thành hồ sơ vụ án. Sự có mặt của người bị hại có vai
trò quan trọng nhất với những vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Trong phiên
tòa phúc thẩm nếu có người bị hại kháng cáo hoặc có quyền và lợi ích liên quan đến
việc kháng cáo, kháng nghị thì được triệu tập. Nếu vắng mặt không có lý do chính đáng
thì Hội đồng xét xử vẫn có thể tiến hành xét xử nhưng không được ra quyết định không
có lợi cho người bị hại, trong những trường hợp khác thì phải hoãn phiên tòa. Nhìn
chung, nghĩa vụ có mặt của người bị hại theo sự triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng
là nghĩa vụ bắt buộc đối với người bị hại. Vì khi có mặt thì người bị hại mới có thể thực
hiện được quyền và bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời giúp cơ quan tiến hành
tố tụng trong việc xác minh các tài liệu, chứng cứ còn nghi ngờ hoặc mâu thuẫn để từ
đó có kết luận chính xác về sự thật khách quan của vụ án để đảm bảo xét xử đúng
người, đúng tội.
T
vẫn đặt ra khi họ là người gây thiệt hại trong quá trình tham gia tố tụng.
T
3. Thực tiễn thi hành và một số kiến nghị về các quy định của pháp luật về địa
vị pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự
3.1. Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của
người bị hại trong tố tụng hình sự
hứ nhất, đối với các tội quy định tại khoản 1 Điều 105 BLHS chỉ được khởi tố
theo yêu cầu của người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, có
nghĩa là yêu cầu khởi tố vụ án hình sự là điều kiện để cơ quan tiến hành tố
tụng bắt đầu hoạt động điều tra. Điều này gây khó khăn cho việc giải quyết các vụ án về
tội cố ý gây thương tích vì để xác định hành vi phạm tội theo khoản 1 hay khoản 2 Điều
104 thì phải căn cứ vào kết luận giám định để xem tội phạm đó có thuộc phạm vi khởi
tố của người bị hại hay không. Thực hiện đúng quy định này gây khó khăn cho việc xác
định quyền khởi tố do phải chờ kết luận giám định. Đối với những tội xâm phạm sức
khỏe thì việc xác định hậu quả của tội phạm có ý nghĩa rất lớn để xem xét hành vi phạm
tội thuộc điều khoản nào.
T
10
Thứ hai, người bị hại thay đổi cứ yêu cầu không theo một trình tự nào mà phụ
thuộc vào yếu tố tâm lý, đưa ra yêu cầu với cơ quan chức năng rồi lại rút yêu cầu, thậm
chí khiếu nại nhiều vấn đề không liên quan khiến cho vụ án kéo dài và quá trình tiến
hành tố tụng gặp nhiều khó khăn.
Thứ ba, BLTTHS quy định cho người bị hại có quyền đòi mức bồi thường thiệt
hại và các biện pháp bảo đảm bồi thường là hoàn toàn hợp lý song một thực tế diễn ra
người bị hại trong tố tụng hình sự
3.2.1. Về các biện pháp hoàn thiện pháp luật
hứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến người đại diện hợp pháp của
người bị hại
Khoản 2 Điều 51 BLTTHS quy định “Người bị hại hoặc người đại diện cho người bị
hại có quyền,…” quy định như vậy vô hình dung đã tách biệt hoặc người này thì không
có người kia. Với trường hợp người bị hại có những hạn chế nhất định cần sự tham gia
của người đại diện nhưng không có nghĩa là người bị hại mất đi quyền này. Như vậy,
nên thay chữ “hoặc” bằng chữ “và” để chính xác hơn.
T
Thứ hai, bổ sung các quyền liên quan đến khởi tố vụ án theo yêu cầu của người
bị hại.
Cần quy định thêm một số tội mà người bị hại được quyền khởi tố, nhất là tội
xâm phạm sở hữu, xâm phạm sức khỏe và các quyền khác quy định tại Điều 170a
BLHS nhằm giúp người bị hại hạn chế những tổn thất nghiêm trọng khi tham gia tố
tụng, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm. Đồng thời đưa điều 131 BLHS ra
khởi Điều 105 BLTTHS vì tội này đã được bãi bỏ.
Thứ ba, bổ sung quy định về thời điểm rút yêu cầu khởi tố vụ án.
Trường hợp pháp luật mới quy định người bị hại chỉ được rút đơn yêu cầu khởi tố
vụ án trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm mà chưa có quy định trường hợp người bị hại
rút đơn yêu cầu tại phiên tòa. Cần quy định về trường hợp người bị hại rút đơn yêu cầu
khởi tố tại phiên tòa thì HĐXX vẫn tiếp tục xét xử và kết luận bị cáo phạm tội nhưng có
thể miễn hình phạt nếu có tình tiết giảm nhẹ hoặc phạt cảnh cáo [15]. Trách nhiệm hình
sự vẫn là trách nhiệm của người phạm tội với nhà nước nên pháp luật vẫn khuyến khích
người bị hại không nên rút đơn kiện nếu đó thực sự là hành vi gây nguy hiểm không
những cho bản thân người bị hại mà cho cả xã hội, cần thiết phải ngăn chặn ngay.
12
bằng và khách quan.
Thứ ba, nâng cao ý thức pháp luật của người dân thông qua “phương tiện hệ
thống thông tin và phổ biến giáo dục pháp luật, xây dựng và triển khai chương trình
quốc gia về phổ biến pháp luật dài hạn” [16].
13
C
on người và quyền con người là vấn đề xuyên suốt trong lịch sử, bảo đảm các
quyền của con người, quan tâm và bảo vệ con người đã và đang được đặt ra
ngày càng cấp thiết hơn, nhất là đối với người bị hại trong TTHS. Tuy vậy,
pháp luật vẫn chú trọng tới việc trừng trị người phạm tội hơn và ít chú ý tới quyền lợi
của người bị hại. Do đó, cần có những quy định trong BLTTHS thật rõ ràng và cụ thể
tạo cơ sở cho người bị hại thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Việc nghiên cứu và
tìm hiểu một cách hệ thống các quy định về địa vị pháp lý của người bị hại sẽ giúp cơ
quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong việc đảm bảo quyền lợi
cho người bị hại.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Địa vị pháp lý của người bị hại trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam;
Đinh Thị Thùy;
Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội, 2011;
2. Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003;
3. Giáo trình Luật Tố tụng hình sự;
14
Đại học Luật Hà Nội;
15
Trịnh Tiến Việt;
Trích từ Tạp chí KHPL số 7/2002;
15.Vấn đề người bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án được khởi tố theo yêu cầu của
người bị hại;
ThS. Võ Hồng Sơn;
Website: hocvientuphap.edu.vn;
16.Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005;
16