Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự và hoàn
thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả việc tham gia tố tụng của
người bào chữa
A. LỜI MỞ ĐẦU
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (TTHS) đã mở rộng hơn quyền và nghĩa vụ pháp lý của
người bào chữa. Tuy nhiên, trong thực tế thì địa vị pháp lý của người bào chữa được
đảm bảo ở mức độ nào thì đó là điều đã và đang là vấn đề nóng bỏng không chỉ đối
với riêng ngành tư pháp mà còn là vấn đề của cả xã hội. Đó chính là lý do em chon
vấn đề: “ Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự và hoàn thiện
pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả việc tham gia tố tụng của người bào chữa”.
B. NỘI DUNG
1. Những qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự về người bào chữa, quyền và nghĩa vụ
của người bào chữa
1.1. Người bào chữa và vấn đề đảm bảo nguyên tắc cơ bản về bào chữa trong quá
trình tiến hành tố tụng.
Người bào chữa là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ những tình tiết
liên quan đến sự thật của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lí cần thiết.
Theo qui định tại Khoản 1 Điều 56 thì người bào chữa có thể là:
• Luật sư: Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của
Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (Điều
2 Luật Luật sư);
• Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: Bộ Luật TTHS không
quy định rõ thế nào là “Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.
Tuy nhiên, có thể vận dụng Điểm a Khoản 1 Điều 58 Bộ Luật Dân Sự về giám hộ
đương nhiên đối với người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi) để hiểu người đại diện
hợp pháp là: Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha,
mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc,
giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu. Hoặc người đại diện
theo pháp luật bao gồm: Cha, mẹ đối với con chưa thành niên; Người giám hộ đối với
sung này có ý nghĩa lớn lao đối với việc thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo.
1.2. Thay đổi người bào chữa
Pháp luật cũng có những qui định nhằm đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành
tố tụng hoặc người tham gia tố tụng và đảm bảo nguyên tắc “ Đảm bảo quyền bào
chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.”:
Theo đó Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự qui định về việc “Lựa chọn và thay đổi người
bào chữa. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự lựa chọn người bào chữa để
thực hiện quyền bào chữa của mình. Các cơ quan tiến hành tố tụng và những người
tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực
hiện quyền của họ.
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người thành niên và không có nhược điểm thể chất
hoặc tâm thần tự thực hiện quyền mời bào chữa. Nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
là người chưa thành niên hoặc là người bị nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì
người đại diện hợp pháp của họ có quyền nhờ bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo.
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ có quyền từ chối
người bào chữa đã được chỉ định. Không ai được phép ép buộc họ nhận người bào
chữa mà họ không đồng ý. Họ cũng có quyền thay đổi người bào chữa.
Những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa cho bị can, bị cáo:
1. Trường hợp bị can, bị cáo phạm tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử
hình được qui định tại Bộ luật hình sự
2. Trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về
tâm thần hoặc thể chất.
Trong những trường hợp nói trên, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp
của họ không nhờ người bào chữa thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án yêu
cầu Đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề
nghị Ủy ban mặt trật tổ quốc Việt Nam, Tổ chức thành viên của mặt trân tổ quốc Việt
Nam cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình. Việc tiến hành tố tụng
mình Bộ luật Tố tụng hình sự qui định cụ thể các quyền, nghĩa vụ của người bào
chữa. tất cả các quyền và nghĩa vụ đó tạo thành địa vị pháp lí của người bào chữa
trong tố tụng hình sự.
1.3.1. Quyền của người bào chữa.
Theo quy định của Bộ luật TTHS thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào
chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình (Điều 11). Nếu người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo là người đã đến tuổi thành niên và không có nhược điểm về thể chất hoặc
tâm thần thì họ tự bào chữa hoặc mời người bào chữa. Nếu người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo là người chưa thành niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm
thần thì người đại diện hợp pháp của họ (cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người
giám hộ đối với người được giám hộ) thực hiện việc bào chữa hoặc có quyền nhờ
người bào chữa.
Dù người bào chữa là Luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo hay là bào chữa viên nhân dân thì trong hoạt động tham gia tố tụng hình sự,
người bào chữa đều thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng; tìm ra chứng cứ gỡ tội hoặc giảm nhẹ
hình phạt cho bị can, bị cáo và kiến nghị với các cơ quan tiến hành tố tụng về áp
dụng, vận dụng chính xác pháp luật trong việc giải quyết vụ án. Để thực hiện chức
năng, nhiệm vụ đó, Theo khoản 2 Điều 58 Bộ luật TTHS quy định các quyền của
người bào chữa trong quá trình tố tụng, đó là:
- Quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can
- Quyền được hỏi người bị tạm giữ, bị can, nếu điều tra viên đồng ý
- Quyền có mặt trong các hoạt động điều tra khác
- Quyền xem các biên bản về hoạt động tố tụng liên quan đến người mình bào chữa.
- Quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can
để có mặt khi hỏi cùng bị can
- Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch
theo qui định của bộ luật tố tụng hình sự
án thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho cơ quan điều tra,Viện kiểm sát, Tòa
án. Việ giao nhận tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố
tụng phải được lập biên bản theo qui định tại điều 95 của bộ Luật này.
- Nghĩa vụ giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lí nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ.
- Nghĩa vụ không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà
chính mình đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lí do chính đáng
- Nghĩa vụ tôn trọng sự thật và pháp luật
- Nghĩa vụ không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian
dối cung cấp tài liệu sai sự thật;
- Nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của tòa án
- Nghĩa vụ không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc
bào chữa
- Nghĩa vụ không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào
mục mục đích xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, cá nhân.
Bộ luật tố tụng hình sự qui định trách nhiệm của người bào chữa trong trường hợp vi
phạm pháp luật. Theo Khoản 4 Điều 58 người bào chữa làm trái pháp luật tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, xử lí kỉ
luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo qui định của pháp luật
Điều 58 có những sửa đổi bổ sung quan trọng về các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm
của người bào chữa theo hướng mở rộng các quyền cảu người bảo chữa, bổ sung
thêm nghĩa vụ của người bào chữa, qui định các loại trách nhiệm pháp lí của nười
bào chữa trong trường hợp họ làm trái pháp luật để bảo đảm cho người bào chữa
thực hiện có hiệu quả chức năng của mình
Tuy nhiên, ở đây cũng cần phân biệt rõ quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong
trường hợp là luật sư hoặc là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị
+ Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.
+ Trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang
hoặc đang bị truy nã, thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm
giữ.
+ Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội phạm xâm phạm an ninh quốc
gia, thì Viện trưởng viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia từ khi kết
thúc điều tra.
BLTTHS hiện hành đã quy định LS được tham gia từ khi có quyết định tạm giữ.
Nhưng trên thực tế rất ít vụ LS được tham gia ngay từ thời điểm này. Bởi vì hiện nay,
không có một cơ chế, thủ tục, trình tự nào quy định buộc các cơ quan tiến hành tố
tụng phải tạo điều kiện để LS tham gia. Để có GCN người bào chữa để gặp bị can
trong trại tạm giam, cơ quan điều tra yêu cầu LS đủ năm loại giấy tờ: Thẻ LS; Giấy
đăng ký hoạt động văn phòng LS; Chứng chỉ hành nghề; Hợp đồng với khách hàng
và Giấy giới thiệu của văn phòng LS. Như vậy, về chủ quan có thể nhận thấy không
phải dễ dàng gì các LS có được giấy tờ chứng nhận để tham gia vào tố tụng. Trong
thực tiễn,người bào chữa được tham gia vào quá trình tố tụng ngay từ giai đoạn điều
tra rất khó khăn và đặc biệt trong những vụ án lớn là rất “hiếm”. Nếu vụ án ít phức
tạp, tính chất đơn giản, việc này dễ dàng hơn.
• Quyền yêu cầu tòa án cấp giấy chứng nhận người bào chữa:
Theo qui định của pháp luật thì kể từ thời điểm người bào chữa được Tòa án cấp giấy
chứng nhận bào chữa thì họ mới có “giấy thông hành” để thực hiện các quyền và
nghĩa vụ bào chữa của mình.
Tuy nhiên, không phải khi họ yêu cầu tòa án cấp giấy chứng nhận bào chữa là họ
được xem xét giải quyết trong “3 ngày” theo qui định tại Khoản 4 Điều 56 Bộ luật tố
tụng hình sự mà trong thực tế, Gần 100% các trường hợp không được cấp giấy
chứng nhân bào chữa đúng thời hạn 3 ngày, cá biệt có khi kéo dài hơn một năm. Lí
giải cho nguyên nhân của tình trạng này, cơ quan có thẩm quyền đã trả lời rằng: Bưu
điện chuyển đến chậm (nếu gửi qua bưu điện) hoặc người có thẩm quyền cấp giấy đi
công tác vắng. Trong khi đó, ở cương vị cơ quan kiểm soát, một đại diện Viện phúc
thẩm VKSND Tối cao cho biết: "Việc cấp giấy chứng nhận bào chữa nếu đầy đủ thủ
tôi cử hẳn một chánh văn phòng hôm nào cũng gọi điện thoại cho điều tra viên hỏi
khi nào gặp thân chủ tôi để luật sư đi cùng. Các anh đều bảo hôm nay không đi,
nhưng thực tế không phải vậy!. Cả quá trình tham gia bảo vệ cho thân chủ của tôi,
tôi chỉ được gặp duy nhất một lần”!
Hơn thế nữa, khi người bào chữa gặp được thân chủ của mình thì dù luật không có
qui định điều tra viên phải có mặt nhưng thực tế, luôn có điều tra viên “kè kè” bên
cạnh trong suốt quá trình người bào chữa gặp thân chủ( ). Thậm chí trong thực tiễn
còn có những hành vi vi phạm tố tụng được nhận định “Không biết điều này có đúng
luật hay không mà ông Luân còn thách thức Luật sư muốn kiện ông ta thì cứ tự
nhiên. Nếu Ông Luân cậy quyền thế xem thường pháp luật thì chắc chắn CAQ9 phải
đối phó với sự phẫn nộ của người dân trong một tương lai gần đây”( ) đây là lời nhận
xét cho đơn khiếu nại của Văn phòng Luật sư Pháp Quyền gởi đến Trưởng CA quận 9
và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh khiếu nại
hành vi vi phạm phạm pháp luật của ông Nguyễn Minh Luân - Phó CA quận 9, kiêm
Trưởng Nhà tạm giữ Với Lý do: Ông Luân đã có hành vi cản trở Luật sư tiếp xúc các
bị can đang bị tam giam bằng cách đòi hỏi phải có Kiểm sát viên đi cùng Luật sư mới
được gặp bị can, dù Viện trưởng Viện kiểm sát quận 9 đã cấp giấy chứng nhận bào
chữa cho các Luật sư.
Như vậy thì: trong thực tế, việc đảm bảo cho người bào chữa có các “quyền” như Bộ
luật tố tụng hình sự qui định là rất khó khăn.
Quy định chỉ định luật sư đối với trường hợp nghi phạm là vị thành niên, biên bản hỏi
cung đối tượng phải có chữ ký của luật sư thì trong thực tế, có những biên bản không
có chữ kí của luật sư, có những trường hợp, sau khi cơ quan điều tra hỏi cung xong
đối tượng này (đã có biên bản) thì mới “nài nỉ” và khẩn trương cấp giấy chứng nhận
người bào chữa cho người bào chữa để họ kí vào biên bản cho hợp lệ( )!
Theo qui định tại Điểm d, g Khoản 2 Điều 58 thì người bào chữa có quyền: “thu thập
tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức cá nhân theo
yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí
người bào chữa phải là người có ý thức cao nhất về vấn đề thực hiện nghĩa vụ tôn
trọng pháp luật và đi kèm với nó là việc không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi
giục người khác khai báo gian dối cung cấp tài liệu sai sự thật. Như Điểm a đã qui
định cho người bào chữa có quyền sử dụng mọi biện pháp và biện pháp này phải hợp
pháp để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội,
những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can bị cáo.
Do vậy, người bào chữa phải tiến hành các hoạt động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của họ mà vẫn tuân thủ pháp luật chứ không phải “mua chuộc, cưỡng ép,
xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật” để làm lợi cho
bản thân mình.
Trong thực tiễn, không ít những trường hợp người bào chữa do được hứa hẹn lợi ích
vật chất mà quên đi cái “tâm” nghề và cái “tâm” của con người tiến hành những hoạt
động vi phạm pháp luật nhằm tìm kiếm lợi ích cho bản thân mình: Thực tế vụ án luật
sư Võ Đình Minh xúi giục bị cáo khai báo gian dối làm sai sự thật của vụ án, ảnh
hưởng nghiêm trọng tới quá trình tố tụng đã bị chỉ trích gay gắt. như vậy trong
trường hợp này, không những người bào chữa không hoàn thành được nghĩa vụ bảo
về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo mà còn có hành vi vi phạm pháp luật, vi
phạm đạo đức nghề nghiệp.
Ngoài ra, khoản 4 điều 58 cũng đưa ra biện pháp xử lí đối với những hành vi vi phạm
quyền và nghĩa vụ đối vơi người bào chữa. Thực tế, có nhiều vi phạm của người bào
Công văn VKSND huyện Cam Lộ kiến nghị xử lý luật sư Võ Đình Minh
chữa đã bị xử lí,nhưng kéo theo đó là sự vi phạm của một số điều tra viên, kiểm sát
viên, thậm chí cả thẩm phán. Chính vì thế, việc đảm bảo nguyên tắc “xác định sự
thật của vụ án” không những không được bảo đảm mà còn dẫn tới án oan sai. Trong
những tình huống này thì người bào chữa đã vì “quá nhiệt tình” bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho thân chủ mình và mình mà quên đi cái “tâm” của nghề, quên đi cái
nghĩa vụ “tôn trọng sự thật và pháp luật”.
Vai trò của người bào chữa trong quá trình tiến hành tố tụng nói chung và bảo vệ
giữ, bị can, bị cáo.
Tuy nhiên, thống pháp luật hiện hành không có văn bản nào quy định về tiêu chuẩn
bào chữa viên nhân dân mà chỉ qui định chung chung về bào chữa viên nhân dân. Về
mặt pháp lý, bào chữa viên nhân dân và Người đại diện hợp pháp của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo là một chủ thể tư pháp có tư cách của người bào chữa trong tố
tụng hình sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn tố tụng hình sự ở Việt Nam, việc xem xét
thủ tục chứng nhận tư cách người bào chữa, các nguyên tắc, phạm vi tham gia tố
tụng lại chưa được hướng dẫn và quy định chi tiết, dẫn đến các cơ quan tiến hành tố
tụng các cấp gặp rất nhiều khó khăn trong việc đảm bảo thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của họ giống hay khác luật sư ở mức nào. Và thực tiễn cho thấy Mặc dù có
một số người tham gia với tư cách bào chữa viên nhân dân có những đóng góp nhất
định trong việc bảo vệ quyền lợi cho bị can, bị cáo là thành viên tổ chức Mặt trận,
nhưng nhìn chung chất lượng hành nghề của phần đông những người này không cao,
gặp rất nhiều cản ngại, vướng mắc do những hạn hẹp về kiến thức pháp luật, lại
không được đào tạo chuyên sâu về các kỹ năng hành nghề trong tranh tụng vụ án
hình sự, không được tập sự trong các tổ chức hành nghề luật sư chuyên nghiệp. Thực
tiễn xét xử những người này tham gia tố tụng rất hạn chế, hãn hữu mới có người
được Tòa án chấp nhận tham gia. Trong giai đoạn điều tra, truy tố thì hoàn toàn
vắng bóng họ, vì thực tế luật sư tham gia còn rất khó khăn.
Hơn nữa, về người đại diện của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì cũng không có
hướng dẫn cụ thể nào mà phải áp dụng điểm a khoản 1 Điều 58 Bộ Luật Dân Sự về
giám hộ đương nhiên đối với người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi) để hiểu người
đại diện hợp pháp là: Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định
được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều
kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu. Hoặc
người đại diện theo pháp luật bao gồm: Cha, mẹ đối với con chưa thành niên; Người
giám hộ đối với người được giám hộ (Điều 141 BLDS).
cáo.
Pháp luật tố tụng hình sự bảo đảm cho họ quyền được mời người bào chữa song
trong thực tế, bên cạnh sự tác động của cơ quan điều tra (nhục hình, ép cung, mớm
cung..) họ đã làm mất đi quyền cơ bản của mình đã được luật tố tụng hình sự khái
quát thành nguyên tăc . Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân gây khó
khăn cho hoạt động bào chữa của người bào chữa.
¬ Nguyên nhân chủ quan
o Nguyên nhân tiếp theo phải kể đến là khả năng của người bào chữa khi tham gia
bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo:
Như trên đã phân tích: trong một chừng mực nào đó, tư cách của người bào chữa
chưa dủ tiêu chuẩn để “đi tìm sự thật của chân lí” cho thân chủ. Đó là những người
phẩm chất đạo đức, tư cách hành nghề bị thoái hóa, biến chất chỉ nhằm vào lợi ích
của bản thâm mà quên đi sự thật luôn thuộc về chân lí.
Hơn nữa, có một số người bào chữa có cái “tâm” nhưng sự hiểu biết pháp luật lại có
mức độ do vậy không nhạy bén trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của người
bào chữa, nhưng tựu chung lại, trên đây là những nguyên nhân mà chúng ta cần
phải triệt tiêu “luôn” và “ngay” nhằm đảm bảo hoạt động bào chữa của người bào
chữa nói riêng, hoạt động tố tụng hình sự nói chung.
• Hướng hoàn thiện:
¬ Trước hết, chúng ta cần phải hoàn thiện những qui định của pháp luật nhằm tạo
điều kiện cho người bào chữa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình
bào chữa.
Hiện nay, cùng với việc thực thi Luật Luật sư năm 2006, Liên đoàn luật sư Việt Nam
ra đời( ) đã khẳng định sự lớn mạnh và vị thế của đội ngũ luật sư Việt Nam, hướng
tới việc xây dựng một đội ngũ luật sư chuyên nghiệp thực hiện các phạm vi hành
có sự tham gia của luật sư thì không được công nhận là chứng cứ. Sự bổ sung này
hoàn toàn khả thi trong điều kiện hiện nay của nước ta. Ở những nước có nền dân
chủ tư pháp phát triển, bị can, bị cáo có quyền từ chối cung khai nếu vắng mặt luật
sư. Sự có mặt của luật sư trong các buổi lấy cung có 2 ý nghĩa: giám sát, không để
xảy ra việc mớm cung, bức cung, nhục hình; và không để xảy ra tình trạng phản
cung, bác lời khai tại cơ quan điều tra, viện kiểm sát bởi việc lấy cung đã có người
thứ ba chứng kiến.
¬ Đối với người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm pháp lý, là nghĩa vụ nghề
nghiệp của họ. Muốn thực hiện được quyền và nghĩa vụ này người bào chữa phải tiến
hành thu thập chứng cứ để có đủ phương tiện chứng minh. Tuy nhiên, pháp luật tố
tụng hình sự chưa cho phép người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ, tài liệu có
liên quan đến vụ án. Khi thực hiện việc bào chữa họ chỉ dựa vào các chứng cứ do bên
buộc tội cung cấp, điều này đã không tạo được sự bình đẳng giữa các bên trong
tranh tụng; Và còn nhiều bất hợp lý khác cần phải có sự nghiên cứu để sửa đổi bổ
sung kịp thời.
Do vậy, trong phạm vi đề tài này tôi kiến nghị pháp luật tố tụng hình sự cần phải
được đổi mới theo hướng phân định rõ các chức năng tố tụng. Những quyền và nghĩa
vụ nào thuộc chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử phải được
quy định rõ. Trên cơ sở đó xác định rõ chức năng tố tụng của các chủ thể tham gia
thực hiện, theo hướng tăng cường các yếu tố tranh tụng. Cho phép người bào chữa
(chủ yếu là luật sư) được quyền thu thập chứng cứ để chứng minh, với những quy
định pháp lý chặt chẽ để đảm bảo giá trị của các chứng cứ do người bào chữa thu
thập. Đồng thời cung cấp nhiều công cụ pháp lý để người bào chữa tranh luận bình
đẳng tại phiên tòa
o Quy định cụ thể thủ tục mời LS của người bị bắt giữ, bị can bị tạm giam;
o Để được cấp “GCN người bào chữa” thì LS chỉ cần có hai loại giấy tờ là Thẻ LS và
Giấy giới thiệu của văn phòng LS (đây là đề xuất của Đoàn LS Hà Nội);
o Quy định thật cụ thể trình tự, thủ tục để LS tham gia ngay từ giai đoạn điều tra;
trong các vụ án hình sự
7. PGS.TS Luật học, Đại học Luật TP. HCM., Nguyễn Thái Phúc, sự tham gia bắt buộc
của người bào chữa trong tố tụng hình sự, tạp chí khoa học pháp lí số 4(41)/2007;
8. ThS Chu Thị Trang Vân, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hoàn thiện các quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền, Nghĩa vụ của bị can, bị cáo và cơ chế bảo
đảm thực hiện, Trang nghiên cứu trao đổi pháp luật
9. ThS. Nguyễn Ngọc Khanh – Trường ĐH Luật Hà Nội, Nâng cao vị thế của người bào
chữa tại phiên toà hình sự, Theo Tạp chí Luật học số 7/2008
10. Nguyễn Thu Quỳ Viện khoa học kiểm sát –VKSNDTC, về người tham gia tố tụng
trong pháp luật tố tụng hình sự
11. Website:
http://moj.gov.vn/Pages/home.aspx
http://luathinhsu.wordpress.com/
http://svlaw.7forum.biz/
http://www.nguoidaibieu.com.vn/
http://f.tin247.com.