1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
NGUYỄN DUY HƯNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
KỸ THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ HÀ NỘI, NĂM 2012 HÀ NỘI, NĂM 2012
3
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT 6
PHỤ LỤC 7
PHẦN MỞ ĐẦU 8
1.Tính cấp thiết của luận văn 8
2. Mục đích nghiên cứu 8
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4. Phương pháp nghiên cứu 9
5. Những đóng góp của luận văn 9
6. Kết cấu của đề tài 10
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 11
1.1.Tổng quan về ngân hàng TM 11
1.1.1.Sự ra đời của Ngân Hàng TM 11
1.1.3. Hoạt động của Ngân Hàng Thương mại 16
1.2 Các nguồn vốn của Ngân hàng thương mại 20
1.2.1. Vốn chủ sở hữu 20
1.2.3. Nguồn vốn đi vay 26
1.2.4. Các nguồn vốn khác 29
1.3. Công tác huy động vốn tại các NHTM 29
1.3.1. Các công cụ huy động vốn 30
KỸ THƯƠNG VIỆT NAM 86
3.1. Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của Techcombank 86
3.1.1.Mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh- xã hội năm 2013 86
3.1.2. Định hướng của NH TMCP Kỹ Thương Việt Nam 91
3.2. Giải pháp tăng cường huy động vốn của NH TM CP Kỹ Thương Việt Nam 93
3.2.1. Hoàn thiện và mở rộng các hình thức huy động vốn 93
3.2.2. Phát triển các sản phẩm mới 95
3.2.3. Tăng cường công tác chăm sóc khách hàng 96
3.2.4. Chú trọng đến chính sách nhân sự 99
3.2.5. Đẩy mạnh chính sách Marketing 100
5
3.2.6. Tăng cường công nghệ và trang bị thiết bị quản lý hiện đại 102
3.2.7. Cần đẩy nhanh tái cơ cấu hệ thống ngân hàng 103
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………… 106
6
DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Ngân hàng : NH
Ngân hàng trung ương : NHTW
Ngân hàng nhà nước : NHNN
Ngân hàng thương mại : NHTM
Ngân hàng thương mại cổ phần : NH TMCP
NH TMCP Kỹ Thương Việt Nam: Techcombank
Máy rút tiền tự động : ATM
8
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của luận văn
Nền kinh tế hiện nay có nhiều biến động nhất là về mặt giá cả, chủ yếu
là giá xăng, giá hàng hoá tiêu dùng, giá vàng và sự mất giá của đồng Việt
Nam sau khi vượt qua năm 2009 đầy biến động với biết bao sự kiện về sự
khủng hoảng kinh tế trong và ngoài nước đã ảnh hưởng không nhỏ tới tình
hình kinh doanh của hệ thống ngân hàng đặc biệt là nghiệp vụ huy động vốn.
Nghiệp vụ huy động vốn là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất
của mỗi ngân hàng. Nguồn vốn huy động được chính là nguyên liệu đầu vào
với ngân hàng để từ đó ngân hàng sẽ luân chuyển và điều phối để tạo ra
những sản phẩm thiết thực cho thị trường. Để đảm bảo đầu vào của ngân hàng
được đều đặn và chi phí ít nhất luôn là mục tiêu đầu tiên với mỗi ngân hàng.
Trong giai đoạn hệ thống ngân hàng trong nước đang cạnh tranh gay gắt như
hiện nay thì việc duy trì được nguồn vốn đầu vào giá rẻ là rất cấp bách.
Techcombank hiểu rõ được nhiệm vụ hàng đầu này và đã luôn cố gắng tạo sự
khác biệt, cải tiến trong dịch vụ để thu hút nhiều khách hàng hơn nữa.
Xuất phát từ nhận định trên, tác giả chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao
khả năng huy động vốn của NH TMCP Kỹ Thương Việt Nam –
Techcombank”.
2. Mục đích nghiên cứu
Qua quá trình tìm hiểu và phân tích về tình hình huy động vốn của NH
Techcombank tác giả đưa ra những nhận định về điểm mạnh cũng như điểm
yếu của NH Techcombank. Từ đó đưa ra giải pháp nhằm phát huy điểm mạnh
và hạn chế những điểm yếu, trong đó đưa ra những giải pháp hạn chế rủi ro
trong huy động vốn, đặc biệt là rủi ro lãi suất, hỗ trợ NH Techcombank huy
- Đẩy mạnh công tác Marketing.
10
- Có chế độ đãi ngộ nhân viên tốt nhất và phù hợp với nhu cầu thực tế.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về huy động vốn trong hệ thống ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại NH TMCP Kỹ Thương
Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại NH TMCP
Kỹ Thương Việt Nam.
thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là
nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức
khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết
khấu, tín dụng và tài chính”.
Ở Việt Nam, Định nghĩa Ngân hàng thương mại : Ngân hàng thương
mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là
nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó
để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định
chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với
12
nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh
toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối
đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền
kinh tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh
tế - xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng là nguồn thu nhập quan
trọng của nhiều hộ gia đình. Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với
các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với nhà nước…
Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất.
Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế,đặc biệt chính sách tiền tệ, vì vậy
là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm ổn định
kinh tế.
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát
triển của nền sản xuất hàng hoá. Qúa trình phát triển kinh tế là điều kiện và
đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng, đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống
ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các
thợ vàng. Việc lưu hành những đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng
vay.
Tóm lại, ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền
kinh tế. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ
hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề ở chỗ các yếu tố
trên đang không ngừng thay đổi. Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính – bao
gồm cả các công ty chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương
14
hỗ và công ty bảo hiểm ngân hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ
của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh
(các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp
dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo
hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vu mới khác.
Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương
diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Ngân hàng là các tổ chức tài
chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là
tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính
nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Tại điều
107, Mục 2 - Hoạt động ngân hàng thương mại, Luật tổ chức tín dụng quy
định các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mai bao gồm: (i)
Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý,
bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn. (ii) Tư vấn tài chính doanh nghiệp,
tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp và tư vấn đầu tư. (iii) Mua,
bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp. (iv) Dịch vụ môi giới tiền
tệ. (v) Lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh
khác liên quan đến hoạt động ngân hàng sau khi được Ngân hàng Nhà nước
chấp thuận bằng văn bản.
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Chức năng trung gian tín dụng
kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của
NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng
trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số
tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán
16
dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn
được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng
hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng
tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán,
chi trả của xã hội. Như vậy ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng mà
hoạt động chủ yếu của nó là kinh doanh tiền tệ.
1.1.3. Hoạt động của Ngân Hàng Thương mại
Chương 3 của luật tổ chức tín dụng nêu ra các hoạt động của tổ chức tín
dụng, trong đó chủ yếu là ngân hàng thương mại, bao gồm:
- Hoạt động huy động vốn.
- Hoạt động tín dụng.
- Hoạt động dịch vụ thanh toán.
- Hoạt động ngân quỹ.
- Các hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường
tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh
doanh dịch vụ mua bảo hiểm, nghiệp vụ uỷ thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và
các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng.
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:
• Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới
hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loai tiền gửi
khác.
• Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và
hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo nghị định của chính
phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính.
1.1.3.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông
qua ngân hàng, NHTM được mở tài khoản cho các khách hàng trong và ngoài
nước. Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua ngân
hàng nhà nước, ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại NHNN
nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư dự trữ bắt buộc theo quy
định. Ngoài ra, chi nhánh của ngân hàng thương mại được mở tài khoản tiền
gửi tại Chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh. Hoạt
động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ bao gồm các hoạt động sau:
• Cung cấp các phương tiện thanh toán.
• Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng.
• Thực hiện thu hộ và chi hộ.
• Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN.
• Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
• Thực hiện dịch vụ thu và phạt tiền mặt cho khách hàng.
• Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và thanh toán liên ngân hàng trong
nước.
• Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
1.1.3.4. Các hoạt động khác
19
Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và
cung cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, NHTM còn thể hiện một số hoạt
động khác, bao gồm:
Góp vốn và mua cổ phần: NHTM được sử dụng vốn điều lệ và quỹ dự
trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng
khác trong nước theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, NHTM còn được góp
thương mại mà còn vì sự phát triển chung của nền kinh tế.
Một cách tổng thể, vốn của ngân hàng thương mại cũng bao gồm hai bộ
phận: Vốn chủ sở hữu và các khoản nợ. Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực
kinh doanh cho nên các nguồn hình thành nên vốn hoạt động của ngân hàng
thương mại có những sự khác biệt, được xem xét cụ thể qua các nguồn vốn
của ngân hàng sau đây:
1.2.1. Vốn chủ sở hữu
Vốn của ngân hàng là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng (nên còn
gọi là vốn chủ sở hữu), nó bao gồm vốn tự có và vốn coi như tự có.
+ Vốn tự có: bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ.
Vốn điều lệ: là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong bản
điều lệ của ngân hàng, được hình thành ngay từ khi ngân hàng thương mại
được thành lập. Gọi là vốn điều lệ vì vốn này được ghi rõ trong điều lệ hoạt
động của ngân hàng. Vốn điều lệ có thể điều chỉnh được tăng lên trong quá
trình hoạt động của ngân hàng.
21
Vốn điều lệ có thể do nhà nước cấp nếu đó là ngân hàng thương mại
quốc doanh, có thể là vốn đóng góp của cổ đông nếu là ngân hàng thương mại
cổ phần. Trên thế giới, vốn của hầu hết các ngân hàng thương mại dưới dạng
vốn cổ phần coi số vốn cổ phần là phần vay nợ từ các cổ động. Do vậy, việc
huy động vốn để thành lập ngân hàng cổ phần cũng được coi là nghiệp vụ vay
nợ.
Quy mô vốn điều lệ của ngân hàng thương mại lớn hay nhỏ là tuỳ vào
quy mô của ngân hàng với số lượng chi nhánh nhiều hay ít và địa bàn hoạt
động là thành thị hay nông thôn, và không được nhỏ hơn vốn pháp định quy
đinh cho ngân hàng đó. Đây là số vốn tối thiểu theo luật định mà ngân hàng
phải có để đi vào hoạt động. Số vốn pháp định phụ thuộc vào các nghiệp vụ
mà ngân hàng thực hiện, địa bàn hoạt động, số chi nhánh mà nó có
Vốn điều lệ được sử dụng vào mục đích mua sắm tài sản, trang thiết bị
vãng lai. Người gửi tiền có thể gửi thêm tiền vào hoặc rút tiền ra khỏi tài
khoản bất cứ lúc nào. Do tính chất có thể rút ra bất cứ lúc nào nên dạng tiền
gửi này thường chỉ được hưởng lãi suất rất thấp hoặc không được ngân hàng
trả lãi nhưng đổi lại người gửi tiền được sử dụng các dịch vụ thanh toán qua
ngân hàng. Các ngân hàng thậm chí còn yêu cầu duy trì một số dư tối thiểu
trên tài khoản. Trường hợp trong thời gian dài trên tài khoản không có tiền
hoặc có số dư thấp hơn mức tối thiểu quy định thì chủ tài khoản còn phải trả
phí duy trì tài khoản cho ngân hàng. Phải trả phí dịch vụ thanh toán hay
không là tuỳ vào quy định của ngân hàng.
Với loại tiền gửi này, người gửi không nhằm mục đích hưởng lãi mà
chủ yếu là nhằm đảm bảo an toàn cho khoản tiền và thực hiện các hoạt động
23
thanh toán qua ngân hàng. Chính vì vậy mà loại tiền gửi này còn được gọi là
tiền gửi thanh toán.
Hầu hết các tài khoản vãng lai đều ở dạng tài khoản có khả năng phát
séc, tức là ngân hàng cho phép người chủ tài khoản được phép phát hành séc
để thanh toán.
1.2.2.2. Tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền gửi chỉ được rút sau một thời hạn nhất định từ một vài
tháng đến vài năm. Mức lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn thường cao hơn tiền
gửi không kỳ hạn nhưng những người gửi tiền loại này không được hưởng
dịch vụ thanh toán qua ngân hàng ( ví dụ như không được ký phát séc). Mục
đích chủ yếu của những người gửi tiền có kỳ hạn là để lấy lãi.
Về nguyên tắc, tiền gửi có kỳ hạn không được rút ra trước thời hạn,
song để cạnh tranh thu hút khách hàng, các ngân hàng vẫn cho phép rút trước
hạn. Tuy nhiên, người gửi tiền rút trước hạn sẽ phải chịu một khoản phạt,
chẳng hạn chỉ được hưởng lãi suất bằng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn
hoặc không được hưởng lãi, tuỳ theo quy định của từng ngân hàng trong từng
thời kỳ.
thấp. Loại tiền gửi này gần giống với tiền gửi không kỳ hạn, chỉ khác là nó
luôn được hưởng lãi, nhưng đổi lại không được hưởng các dịch vụ thanh toán
qua ngân hàng. Gửi tiền dạng này nhằm đảm bảo an toàn cho khoản tiền và
dự phòng cho các nhu cầu chi tiêu trong thời gian ngắn đồng thời được hưởng
một chút lãi dù thấp.
25
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi tiết kiệm có thời hạn gửi
cố định trước. Loại tiền gửi này cũng tương tự như tiền gửi có kỳ hạn ở các
điểm là không được phép rút trước hạn (nếu rút trước sẽ phải chịu phạt như
chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn hoặc thậm chí không được hưởng lãi),
được hưởng lãi cao hơn các dạng tiền gửi không kỳ hạn và không được hưởng
các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Với dạng tiền gửi này, người gửi chỉ
được gửi tiền vào một lần và rút ra một lần cả vốn lẫn lãi khi đến hạn. Một lần
gửi được coi là một khoản tiền gửi riêng biệt. Mức tối thiểu của mỗi lần gửi
tiền do từng ngân hàng qui định.
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Là hình thức tiết kiệm trung và dài
hạn nhằm mục đích xây dựng nhà ở. Ngoài hưởng lãi, thì người gửi tiền còn
được ngân hàng cho vay nhằm bổ sung thêm vốn cho mục đích xây dựng nhà
ở. Mức cho vay tối đa bằng số dư tiền gửi tiết kiệm.
Lý do phải tách riêng tiền gửi tiết kiệm ra mà không xếp vào hai dạng
tiền gửi trên (tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn) mặc dù tính chất
của chúng rất giống nhau là vì đây là tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, là
tài sản tích luỹ của quốc gia, được xem là nguồn vốn nội lực của đất nước,
cho nên cần có chính sách ưu tiên bảo vệ. Ví dụ: Các NHTW thường buộc các
ngân hàng thương mại khi huy động dạng tiền gửi này thì phải mua bảo hiểm
cho chúng; Hoặc các công ty tài chính không được huy động dạng tiền gửi
này.
Tiền gửi kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn là nguồn vốn quan trọng
nhất của ngân hàng thương mại. Đây là nguốn vốn tương đối ổn định vì ngân