TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CAM BÙ TẠI
XÃ SƠN TRƯỜNG – HUYỆN HƯƠNG SƠN –
TỈNH HÀ TĨNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI - 2014
1
LỜI CAM ĐOAN
Thời gian qua tôi đã đi thực tế tại xã Sơn Trường từ ngày 20 tháng 1 năm
2014 đến ngày 20 tháng 4 năm 2014.Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương Hoa
2
2
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi lời cám ơn tới các thầy, cô giáo Ban quản lý Đào tạo
đại học, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Phát triển nông thôn –
trường Đại học Nông Nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá
trình học tập và làm đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn: TS. Mai Lan
Phương, người đã định hướng và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài.
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ủy ban nhân dân, Phòng Thống kê,
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài Nguyên và Môi trường,
- Tìm hiểu thực trạng sản xuất cam Bù của các nông hộ tại xã Sơn Trường,
Hương Sơn, Hà Tĩnh giai đoạn 2011 - 2013
- Tìm hiểu những khó khăn, thuận lợi trong sản xuất cam Bù tại xã Sơn Trường,
Hương Sơn, Hà Tĩnh.
- Đề xuất giải pháp cho việc phát triển giống cam Bù của xã Sơn Trường,
Hương Sơn, Hà Tĩnh.
Phương pháp nghiên cứu
4
4
Phương pháp thu thập thông tin
● Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Báo cáo số liệu thứ cấp về tình hình KT – XH của UBND xã Sơn Trường;
Các tài liệu, báo cáo khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu.
● Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: chọn ngẫu nhiên 30 hộ
- Phương pháp phỏng vấn người am hiểu: Phỏng vấn trưc tiếp 6 người.
Phương pháp xử lý thông tin
- Các số liệu định tính được phân tích, đánh giá.
- Các số liệu định lượng được xử lý bằng phần mềm Excel.
Kết quả nổi bật
- Nhìn một cách tổng thể các hộ trồng cam có đời sống tương đối cao. Thu
nhập bình quân/ khẩu trong một năm và giá trị sản xuất nông nghiệp/ha đất sản xuất
nông nghiệp tăng đáng kể, tổng thu nhập năm 2013 đạt 64.724.916.000 đồng, bình
quân đạt 15.090.910 đồng/ người/ năm tăng so với cùng kỳ năm 2011 là 2.034.818
đồng/người/năm và năm 2012 là 1.782.166 đồng/ người/ năm.Cụ thể thu nhập bình
quân của mỗi khẩu bình quân qua 3 năm là 108,22%. Giá trị sản xuất nông
nghiệp/ha đất canh tác năm 2011 là 72,97 triệu đồng/năm, năm 2013 đạt 91,40 triệu
đồng/năm, bình quân 3 năm tăng 112,16%. Các chỉ tiêu khác như thu nhập
BQ/LĐ/năm, GTSXNN/LĐNN cũng tăng qua các năm. Sự tăng lên của các chỉ tiêu
trên chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của xã đều có xu hướng tăng trưởng, đời
- Thị trường đầu ra đặc biệt là về giá luôn bấp bênh, chênh lệch giữa các
tháng và thường bị tư thương ép giá khi vào chính vụ, giá bán bình quân năm 2013
là 58.000 đồng/kg. Giá trị bình quân hộ thu cho 1 ha đưa vào kinh doanh được là
55,8 triệu đồng. Qua tìm hiểu thì sau một đợt thu hoạch 1 tấn cam Bù, người trồng
cam lãi khoảng 43triệu đồng trong thời gian khoảng 20 - 35 ngày trước và sau Tết
Nguyên Đán. Trong một mùa, thu nhập bình quân hộ/năm khoảng từ 70 - 139 triệu
đồng/ha (thu nhập bình quân tháng khoảng 6 - 12 triệu đồng).Điều này cho thấy
thực sự đã khẳng định nghề trồng cam của các hộ hơn hản các lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp khác.
6
6
Bên cạnh đó, sản xuất cam còn gặp nhiều vấn đề khó khăn như: Tình hình
sản xuất cam Bù của người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, về kỹ thuật trồng và
chăm sóc, vốn đầu tư, cây gống và trở ngại rủi ro lớn nhất là nguy cơ dịch bệnh và
các biến động thời tiết bất thường khó lường trước được Thị trường tiêu thụ còn
bị tư thương ép giá, giá cả bấp bênh và chênh lệch lớn giữa đầu vụ và cuối vụ. Cam
Bù đã có thương hiệu sản phẩm, được nhiều người tiêu dùng biết tới nhưng công tác
quảng bá còn hạn chế…Trong đó, vấn đề người dân quan tâm hàng đầu là thiếu hỗ
trợ về kỹ thuật. Do đó, phát triển vùng sản xuất, nâng cao vai trò của cây cam đòi
hỏi sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp các ngành địa phương, có các biện pháp khắc
phục đúng hướng, đề ra các chính sách phù hợp phát triển cây cam, nhằm đưa cây
cam ở xã Sơn Trường ngày có một vị trí trong tập đoàn cây ăn quả, có giá trị kinh tế
cao.
MỤC LỤC
7
7
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CÁM ƠN
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
MỤC LỤC
TN – KT – XH: Tự nhiên – kinh tế - xã hội
Trđ : Triệu đồng
UBND : Uỷ ban nhân dân
VH : văn học
XDCB : Xây dựng cơ bản
11
11
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển,
nông Nghiệp đang dần được chú trọng hơn. Cây ăn quả Việt Nam đang được quan
tâm sâu sắc, trước hết là phục vụ cho nhu cầu trong nước sau nữa là đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu.
Hương Sơn là một huyện ở trung du miền núi nằm về phía tây bắc tỉnh Hà
Tĩnh. Trái cây hoa quả rất đa dạng, có giá trị như: bưởi đào, bưởi đường, cam
chanh, mít dai, mít mật… nhưng nổi tiếng nhất khi ai đã từng đến vùng đất nơi đây,
đều biết đến đặc sản Cam Bù - một trong 7 loại quả quý của cả nước. Cũng giống
như danh tiếng của bưởi Phúc Trạch ở Hương Khê – Hà Tĩnh thì danh tiếng của
cam Bù ở Hương Sơn – Hà tĩnh không thua kém, uy tín và chất lượng đã được
công nhận. Cam Bù là truyền thống , là một phần thu nhập để nâng cao đời sống, là
vị cứu tinh cho người dân sau việc trồng lúa. Là một nét đặc trưng, biểu tượng văn
hóa riêng của mảnh đất Hương Sơn thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Nhắc đến cam Bù là không ai không biết đến vị ngon, mùi thơm và giàu chất
dinh dưỡng vitamin tăng sức đề kháng có lợi cho sức khỏe con người. Đặc biệt, cam
Bù lại cho thu hoạch đúng dịp tết Nguyên Đán nên đem lại giá trị kinh tế khá cao.
Được đưa vào danh sách giống cây trồng sản xuất cần xuất khẩu giống, cụ thể là
trong những năm gần đây, diện tích trồng và sản lượng năng suất đã bị mai một và
giảm mạnh. Theo thống kê năm 1995 diện tích trồng là 202 ha với năng suất là 33
tạ/1 ha. Năm 2000 diện tích 146ha với năng suất 26,32 tạ/ 1 ha, đến năm 2006 còn
116 ha, năng suất 24,74 tạ / 1 ha, nhận thấy không chỉ diện tích mà năng suất trồng
hiện trạng cũng như đem ra một số giải pháp tạo điều kiện sản xuất tiêu thụ Cam
Bù tốt hơn, phát triển ngành Cam Bù trở nên có thương hiệu mà không ai còn lạ lẫm
trên thị trường, giá trị của nó mang lại xứng đáng với giá trị thực mà nó mang lại.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu Thực trạng sản xuất cam Bù của các hộ dân ở xã Sơn Trường -
huyện Hương Sơn – tỉnh Hà Tĩnh từ đó phân tích các thuận lợi khó khăn để đưa
13
13
ra các giải pháp cụ thể và những định hướng cho sản xuất, tiêu thụ cam của các
hộ dân có kết quả cao.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về sản xuất và
tiêu thụ cam bù.
- Tìm hiểu thực trạng sản xuất, tiêu thụ cam Bù tại xã Sơn Trường huyện
Hương Sơn, Hà Tĩnh.
- Phân tích các thuận lợi, khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ cam Bù của
các hộ dân xã Sơn Trường, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh.
- Đề xuất các định hướng và giải pháp chính nâng cao hiệu quả sản xuất cam Bù
của các hộ dân xã Sơn Trường, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Tình hình sản xuất, tiêu thụ cam trên thế giới và Việt Nam như thế nào?
- Có những cách thức trồng cam Bù nào? Các hộ dân ở xã Sơn Trường,
huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh trồng cam theo hình nào?
- Thực trạng sản xuất và tiêu thụ cam Bù của các hộ dân trên địa bàn xã
Sơn Trường, huyện Hương Sơn đang gặp những vấn đề nào?
- Các hộ dân có những thuận lợi gì trong sản xuất và tiêu thụ cam Bù?
- Các hộ dân đang gặp những khó khăn nào trong sản xuất, tiêu thụ cam
Bù?
- Cần có những giải pháp, nhóm giải pháp nào để giải quyết những khó
không hoàn hảo cao.
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất
xã hội, trong đó các nguồn lực đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất
được coi là của chung để tiến hành sản xuất. Có chung ngân quỹ, ngủ chung một
nhà và ăn chung. Mọi quyết định sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc
vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển.
2.1.1.2 Sản xuất và phát triển sản xuất
* Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên
hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra). Có 2
phương thức sản xuất là:
- Sản xuất mang tính tự cung tự cấp, quá trình này thể hiện trình độ còn thấp
của các chủ thể sản xuất, sản phẩm sản xuất ra chỉ nhằm mục đích đảm bảo chủ yếu
cho các nhu cầu của chính họ, không có sản phẩm dư thừa cung cấp cho thị trường.
- Sản xuất cho thị trường tức là phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, sản
phẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy
mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều. Sản xuất này mang tính tập trung chuyên canh
và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao.
Phát triển kinh tế thị trường phải hướng theo phương thức thứ hai. Nhưng cho dù
sản xuất theo mục đích nào thì người sản xuất cũng phải trả lời được ba câu hỏi cơ bản
là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào?
16
16
Tóm lại sản xuất là quá trình tác động của con người vào các đối tượng sản
xuất, thông qua các hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ
đời sống con người.
* Phát triển sản xuất
Phát triển sản xuất là một quá trình lớn lên (tăng tiến) về mọi mặt của quá
trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy
mô sản lượng và sự tiến bộ về mặt cơ cấu. Phát triển sản xuất bao gồm phát triển
tế và dân sinh được hình thành, nâng cấp khi hình thành những khu vực sản xuất
hàng hoá như đường giao thông, điện, thông tin Qua đó làm thay đổi cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn.
2.1.2 Vai trò của cam Bù trong sản xuất, chế biến và tiêu dùng
Cam Bù là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao nhưng cũng đòi hỏi người
sản xuất đầu tư một lượng vốn khá lớn và kỹ thuật chăm sóc cao hơn một số cây
ăn quả khác. Vì vậy, việc phát triển sản xuất cam Bù sẽ đưa ra giá trị của ngành
nông nghiệp tăng lên, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về loại quả chất lượng
cao của người tiêu dùng; dẫn đến cơ cấu chuyển kinh tế trong nông nghiệp là tỷ
trọng các nông sản có giá trị cao, tỷ trọng hàng hóa lớn tăng lên.
Phát triển sản xuất cây ăn quả nói chung, cây cam Bù nói riêng góp phần
làm cho ngành công nghiệp chế biến phát triển, tạo công ăn việc làm cho một
phần lao động nông nghiệp ở khu vực nông thôn trở thành công nhân, thực hiện
chủ trương chuyển dịch lao động công nghiệp sang làm cho công nghiệp của
Đảng và Nhà nước; đồng thời cung cấp nguồn quả nhanh, chất lượng, quanh
năm cho nhân dân.
Phát triển sản xuất cam Bù còn góp phần tạo cảnh quan, môi trường sinh
thái thúc đẩy ngành du lịch như tham quan mô hình, du lịch miệt vườn, nghĩ
dưỡng và cải tạo được vườn không, đồi trọc của người dân.
Việc phát triển sản xuất cam Bù còn thúc đẩy việc tìm tòi và áp dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Tóm lại, việc phát triển cây ăn quả nói chung và cam Bù nói riêng đã góp
phần tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, chuyển
dịch cơ cấu lao động và là một hướng giảm nghèo hiệu quả. Các cơ sở kinh tế
và dân sinh được hình thành, nâng cấp khi hình thành những khu vực sản xuất
18
18
hàng hóa như đường giao thông, điện, thông tin qua đó làm thay đổi cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
2.1.3 Đặc điểm và điều kiện trong sản xuất, tiêu thụ
thiết với nhau. Vườn có diện tích lớn đầu tư sức lao động, vốn trên mỗi đơn vị diện
tích tương đối có thể thức thi sách lược giá thành thấp để tính đến tổng lợi nhuận
cao nhất của vừơn cam. Vườn nhỏ có thể xem xét sách lược chuyên môn hoá sản
phẩm để kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và ổn định nguồn thu nhập.[10]
2.1.3.3 Đặc điểm kỹ thuật sản xuất cây cam Bù
* Về hình dáng sản phẩm
Cam Bù là loại cây thân gỗ, sống lâu năm, có tán hình mâm xôi; cây trưởng
thành 5-7 tuổi có chiều cao trung bình 2,5 - 3,5m, đường kính tán 2,5 - 3m. Về mặt
hình thái quả, cam Bù tương đối giống quả quýt, nó có các đặc điểm khác các giống
cam khác là: quả có hình cầu, vỏ nhẵn và dầy, có màu vàng đỏ rất đẹp, vị ngọt,
trọng lượng 200 - 300g/quả. Khi chín có mùi thơm hấp dẫn, mã quả đẹp, nhiều
nước, tép quả và nước có màu hồng, màu sắc và hình dáng đẹp. Là giống chín
muộn, thu hoạch tới tận tháng hai năm sau - đó là những đặc trưng của giống cam
này.[11]
* Về chất lượng sản phẩm
Cam Bù giàu chất dinh dưỡng, vị ngọt thanh, nhiều nước, ít hạt, có hương thơm
thật quyến rũ. Trong thành phần quả có chứa 10 - 10,3% đường tổng số; 0,5 - 0,7 a.cid
hữu cơ và 12 - 18,7mg Vitamin C.
Cam Bù trồng ngoài huyện Hương Sơn không có những phẩm chất riêng đó.
Cam Bù chín đúng vào dịp tết cổ truyền Nguyên Đán, trên thị trường hiện nay cam Bù
có giá 50.000 - 80.000 đồng/kg. Chính vì vậy đây là loại quả có giá trị kinh tế rất cao.
[11]
2.1.4 Quy trình kỹ thuật trồng cam và chăm sóc cam Bù
2.1.4.1 Chọn giống
Giống cam được tạo bằng phương pháp nhân giống vô tính( chiết cành
hoặc ghép mắt), chọn từ cây mẹ đã có 3 vụ quả ổn định, có năng suất cao, chất
lượng tốt, mẫu quả đẹp, không bị bệnh gân xanh lá vàng.
- Tiêu chuẩn cành chiết
20
20
bầu sau đó đặt cây giống thẳng đứng chính giữa hố, lấp kín đất bằng miệng hố
21
21
hoặc cao hơn miệng hố khoảng 10 -15cm. Đóng cọc và buộc dây giữ chặt cây,
tưới đẫm nước và dùng xác thực vật như rơm rạ, cỏ khô tủ gốc để giữ ẩm.
- Trồng cành chiết: tương tự như trồng cành ghép, những cành có tán lệch
về một bên nên trồng xiên, ngửa tán lên trên để sau này cây phát triển cân đối.
- Chăm sóc cây: tưới nước giữ ẩm. Khi mới trồng, cứ 2- 3 ngày tưới 1
lần, tạo độ ẩm hố trồng đạt 80% độ ẩm đồng ruộng.
- Phân bón
Bảng 2.1 Loại phân và lượng bón của cây theo tuổi cây
Tuổi cây
(năm)
Loại phân và lượng bón
Đạm urê
(gr/cây)
Lân
(gr/cây)
Kali
(gr/cây)
Phân chuồng
(gr/cây)
Vôi bột
(gr/cây)
1-3 80-150 100-150 100-150 25-30 0,5
4-5 200-250 150-200 150-250 35-40 0,7-0,8
6-7 300-400 250-300 300-400 45-50 1,0
Nguồn: phòng nông nghiệp huyện Hương Sơn
- Thời kỳ bón: mỗi năm 4 lần vào tháng 2, 5, 8 và 11
+ Lần bón vào tháng 2: 50% lân super + 40% đạm urê + 40% sunfat kali.
hoạch. Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng, giá trị thu hoạch
được trên một đơn vị diện tích.
- Thị trường và các chính sách của Nhà nước: trong nền kinh tế thị trường,
cầu – cung là yếu tố quyết định đến sự ra đời và phát triển một ngành sản xuất, hay
một hàng hóa, dịch vụ nào đó. Người sản xuất chỉ sản xuất những hàng hóa, dịch vụ
mà thị trường có nhu cầu và xác định khả năng của mình khi đầu tư vào lĩnh vực,
hàng hóa, dịch vụ nào đó mang lại lợi nhuận cao nhất, thông qua các thông tin và
các tính hiệu giá cả phát ra từ thị trường. Thị trường với các quy luật cầu – cung,
cạnh tranh và quy luật giá trị, có tác động rất lớn đến các nhà sản xuất. Thịt cam ở
đây được đề cập đến cả hai yếu tố cầu – cung, có nghĩa là sức mua và sức sản xuất
đều ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất cam, mất cân bằng một trong hai yếu
tố đó thì sản xuất sẽ bất ổn.
Vai trò của nhà nước: thể hiện qua các chính sách về đất đai, vốn tín dụng,
đầu tư cở sở hạ tầng và hàng loạt các chính sách liên quan đến sản xuất nông nghiệp
trong đó có sản xuất cam. Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sản
xuất cam, các chính sách thích hợp, đủ mạnh của Nhà nước sẽ gắn kết các yếu tố
23
23
trong sản xuât với nhau để sản xuất phát triển. Bao gồm: quy hoạch vùng sản xuất
chính xác, sẽ phát huy được lợi thế so sánh của vùng; xây dựng được các quy mô
sản xuất phù hợp, tổ chức các đầu vào theo đúng các quá trình tiên tiến; tăng cường
công tác quản lý, thường xuyên quan tâm đổi mới quy trình sản xuất, đa dạng hóa
sản phẩm sẽ tiết kiệm được chi phí, nâng cao được năng suất cây trồng có hiệu quả
cao.
- Trình độ, năng lực của các chủ thể trong sản xuất kinh doanh, các tác dụng
quyết định trực tiếp việc tổ chức và hiệu quả kinh tế cây cam. Năng lực của các chủ
thể sản xuất được thể hiện qua: trình độ tổ chức quản lý và khả năng áp dụng các
tiến độ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới; khả năng ứng xử trước các biến động
của thị trường, môi trường sản xuất kinh doanh; khả năng vốn và trình độ, cơ sở vật
chất kỹ thuật Nếu trình độ, năng lục của các chủ thể sẽ có ảnh hưởng tích cực tới
những cây mẹ tốt nên hều hết cây giống đều được chiết từ những cây kém phát
triển, những cành thải loại không đủ tiêu chuẩn, đã làm giảm khả năng phát triển,
sinh trưởng của cây trồng khi trồng mới, sâu bệnh lan rộng, chất lượng giảm sút.
- Kỹ thuật chăm sóc: là khâu tác động ảnh hưởng không những năm đó mà
còn ảnh hưởng những năm kế tiếp về sau. Quan sát thực tế trên vườn trong nhiều
năm cho thấy gia đình nào thực hiện công tác tỉa cành, tạo tán đúng kỹ thuật, đúng
thời điểm thì số cành cho quả tăng đều nhau giữa các cành, tán có diện tích bề mặt
rộng không có phần bị che lấp
- Phòng trừ sâu bệnh: Cam là loại cây trồng dễ mặc nhiều loại bệnh, do vậy
phòng trừ sâu bệnh và kịp thời cây sẽ sinh trưởng và phát triển tốt, là cơ sở cho cây
ra hoa và kết quả. Nếu không làm tốt khâu này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra
hoa, đậu quả và tới năng suất sản lượng cam.
- Phương thức trồng: trên cơ sở đặc tính sinh vật học và quy luật phát triển
của cây cam để lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn một cách hợp lý giữa các
biện pháp nhằm đạt mục tiêu kinh tế song việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong
canh tác phụ thuộc rất lớn vào mức độ đầu tư.
25
25