hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra các vụ án hình sự 9đ - Pdf 22

LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, vấn đề tội phạm đang ngày một gia tăng và có những diễn biến hết
sức phức tạp. Càng ngày chúng càng có nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm nhằm che
đậy tội ác mà chúng đã gây ra. Vì vậy, đấu tranh phòng chống tội phạm đã được Đảng
và Nhà nước xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Để đáp ứng được yêu cầu trên,
hoạt động thu thập chứng cứ đã được quy định khá rõ ràng và đầy đủ trong Bộ luật tố
tụng hình sự năm 1998 và được sửa đổi, bổ sung năm 2003. Trong công tác điều tra,
phát hiện tội phạm, Cơ quan điều tra muốn làm rõ và kết luận đúng đắn về một hành
vi phạm tội đã được thực hiện, ai là người thực hiện hành vi phạm tội đó, tính chất,
mức độ của hành vi ra sao,…cũng như việc khẳng định đó không phải là tội phạm thì
phải có những tài liệu được thu thập theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng hình sự
dùng làm căn cứ để chứng minh. Những căn cứ đó phải được thu thập theo đúng quy
định, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự thì được coi là chứng cứ. Mục đích
chung nhất của việc sử dụng chứng cứ là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề đã được xác
định nói chung và để chứng minh sự thật nói riêng.
Tuy nhiên hiện nay còn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động thu thập chứng
cứ. Chẳng hạn còn nhiều vấn đề về nguồn chứng cứ chưa được làm rõ và thống nhất,
tồn tại nhiều quan điểm dẫn đến việc áp dụng còn lúng túng, thiếu tính đồng bộ, thống
nhất giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng với nhau. Muốn giải quyết đúng đắn vụ án thì
phải có những chứng cứ được rút ra từ những nguồn nhất định và hoạt động thu thập
chứng cứ phải tuân theo những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chứng cứ ra đời gắn liền với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Người
ta coi chứng cứ là phương tiện chứng minh tội phạm và người phạm tội một cách hữu
hiệu nhất. Tòa án xác định tất cả các tình tiết của vụ án dựa vào chứng cứ. Trên cơ sở
đó phát hiện tội phạm cũng như người phạm tội một cách nhanh chóng và đề ra các
biện pháp xử lý phù hợp.
Như vậy, dựa vào vai trò quan trọng của chứng cứ, nhóm chúng em xin thực
hiện đề tài: Hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra các vụ án hình sự;
1
nhằm làm rõ và trình bày cụ thể hơn về các hoạt động thu thập chứng cứ trong quá
trình điều tra. Bên cạnh đó cũng nêu ra một số hạn chế, thiếu sót trong hoạt động này.

• Điều 131 Bộ luật tố tụng hình sự của Cộng hòa nhân dân Rumani trước đây
cũng ghi nhận khái niệm chứng cứ nhưng chưa phân biệt rõ chứng cứ và nguồn
của chứng cứ: “ Chứng cứ là những biên bản, tài liệu, lời khai của nhân chúng,
biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản nhận dạng, biện pháp suy đoán vô
tội và các biện pháp không bị pháp luật cấm.”
Mỗi quốc gia đều có những quy định khác nhau về chứng cứ nhưng tổng hợp
lại đều là những sự kiện, hiện tượng có thật, tồn tại khách quan trong thực tế, không
phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Như vậy, chứng cứ là vấn đề có liên
quan chặt chẽ và mật thiết đến các biện pháp cụ thể của hoạt động đấu tranh chống và
phòng ngừa tội phạm. Tùy theo từng thời kỳ lịch sử khác nhau, phụ thuộc vào điều
kiện chính trị - xã hội, văn hóa, trình độ phát triển của các lĩnh vực khoa học có liên
quan mà người ta có những quan niệm khác nhau về chứng cứ trong tố tụng hình sự
và được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia.
Ngoài các quan điểm về chứng cứ của các quốc gia còn nhiều ý kiến khác nhau
về khái niệm chứng cứ của các nhà nghiên cứu Khoa học Luật tố tụng hình sự. Nhiều
ý kiến cho rằng, thuật ngữ “những gì” trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy
định là không rõ ràng. Cụ thể theo nhiều ý kiến, chứng cứ là những sự kiện, hiện
tượng…phản ánh khách quan; hay chứng cứ là những thông tin xác thực về những gì
có thật; chứng cứ cũng có thể là những thông tin có thực…Theo nhà nghiên cứu luật
học Bentham: “Theo nghĩa rộng, chứng cứ là một sự kiện được giả định là có thật, sự
kiện đó được coi như là một sự kiện đương nhiên là lý do để tin tưởng việc có hay
không một sự kiện khác.”.
Trên đây chỉ là một số quan điểm, ý kiến về chứng cứ của các nhà nghiên cứu
và các quốc gia. Ở Việt Nam trước khi Bộ luật tố tụng hình sự 1998 ban hành, khái
niệm chứng cứ chỉ thể hiện được tính khách quan và tính hợp pháp mà chưa đề cập
đến tính liên quan của nó. Đến khi được ban hành, khái niệm chứng cứ đã có sự kế
thừa Bộ luật tố tụng hình sự năm 1998 và được quy định tại khoản 1 Điều 64 Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003 “Chứng cứ là những gì có thật, được thu nhập theo trình
tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án
dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành

chứng cứ chứng minh tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của hành vi phạm
5
tội. Trong thực tế, chứng cứ sinh ra, thay đổi và có thể mất đi hoàn toàn theo
quy luật của tự nhiên nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người. Bên cạnh đó
chúng ta cần xem xét, đánh giá chứng cứ một cách toàn diện và đầy đủ. Không
chỉ xem xét những chứng cứ đang hiện hữu mà cần chú ý đến cả chứng cứ đã
xuất hiện trong quá khứ, có thể những chứng cứ đó đã được tội phạm ngụy
trang, che đậy, làm mờ hoặc xóa dấu vết nhằm không để Cơ quan tiến hành tố
tụng tìm thấy.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc hiểu rõ và tuân thủ thuộc
tính này của chứng cứ có ý nghĩa quan trọng. Những gì có thật trong chứng cứ
pháp lý phải là đặc điểm cơ bản nhất, là vấn đề thuộc bản chất của chứng cứ, là
cái gốc của chứng cứ để chứng minh thực hư của toàn bộ vụ án. Để đảm bảo
thuộc tính này, đòi hỏi những người tiến hành tố tụng khi phát hiện, thu thập,
kiểm tra, xác minh cần tiến hành đầy đủ, thận trọng và chu đáo để tìm ra chứng
cứ thật, loại trừ chứng cứ giả tạo. Vì chỉ có chứng cứ thật mới có khả năng
chứng minh vụ án một cách chính xác, hiệu quả; nếu dùng chứng cứ giả tạo
làm căn cứ chứng minh thì sẽ dẫn đến các kết luận, phán quyết sai lầm.
• Đặc điểm thứ hai, tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở mối liên hệ khách
quan giữa chứng cứ với những vấn đề phải chứng minh trong vụ án. Chứng cứ
cần thiết được sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án bắt buộc phải là sự
kiện, tài liệu có thật. Chỉ những tài liệu có liên quan đến vụ án, có khả năng
làm sáng tỏ một phần hoặc toàn bộ những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ
án hình sự, cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn
vụ án mới có thể công nhận là chứng cứ. Những thông tin, tài liệu, dấu vết, đồ
vật thu thập được có thể chứng minh trực tiếp hay gián tiếp, ít hoặc nhiều, có
hay không có hành vi phạm tội đã diễn ra, người đã thực hiện hành vi phạm tội
cũng như các tình tiết khác của vụ án hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng
phải thu thập chứng cứ một cách rộng rãi, không chỉ những chứng cứ trực tiếp
đến tội phạm mà cả những chứng cứ liên quan đến tội phạm, không được bỏ

cao; hạn chế được những sai sót từ phía các Cơ quan tiến hành tố tụng, tạo điều
kiện vững chắc cho chứng cứ có giá trị và hiệu lực pháp lý. Ngược lại, nếu tài
liệu liên quan đến vụ án hình sự, tồn tại khách quan nhưng vì không được thu
thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì không
được coi là chứng cứ, không có giá trị chứng minh. Chẳng hạn khi khám
7
nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra phát hiện dấu vết đồ vật nhưng không
ghi vào biên bản khám nghiệm hoặc có ghi mà không mô tả rõ ràng đặc điểm,
hoặc biên bản không có đầy đủ chữ ký của những người trong Hội đồng khám
nghiệm thì dấu vết, đồ vật đó thực chất là của tội phạm để lại hiện trường cũng
không có giá trị pháp lý.
Một điểm cần lưu ý nữa là chứng cứ phải được xác định bằng một trong
những nguồn do Bộ luật tố tụng hình sự quy định tại khoản 2 Điều 64. Theo đó,
chứng cứ có thể được xác định bằng:
• Vật chứng.
• Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị
bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
• Kết luận giám định.
• Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.
Như vậy, khi và chỉ khi một tình tiết, sự kiện được xác định bằng một trong
những nguồn chứng cứ nêu trên, theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự
quy định thì chúng mới được xem là chứng cứ.
Mọi chứng cứ đều phải có đầy đủ ba đặc điểm trên. Ba đặc điểm là một thể
thống nhất, tồn tại trong bản thân chứng cứ, luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, cái này tạo
tiền đề cho các kia phát triển. Xác định chân lý trong tố tụng hình sự là nhiệm vụ của
các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan này có nhiệm vụ phải tìm ra sự thật để ra
bản án, quyết định công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, mang tính thuyết phục
cao, được dư luận xã hội đồng tình và nhân dân ủng hộ.
1.2 Nguồn của chứng cứ

Vật chứng là một nguồn chứng cứ quan trọng đầu tiên mà thông qua nó các cơ
quan tiến hành tố tụng có thể chứng minh được sự việc hoặc xác định hướng điều tra.
Theo Điều 74 BLTTHS năm 2003, vật chứng được hiểu là“những vật được dùng làm
công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội
phạm cũng như tiền bạc và những vật khác có giá trị tội phạm và người phạm tội”.
Theo đó, vật chứng có một số đặc trưng cơ bản sau:
9
• Thứ nhất, vật chứng là vật cụ thể, tồn tại dưới dạng vật chất, nó có thể thể hiện
dưới dạng thể rắn, thể lỏng và thể khí. Sự thể hiện của vật chứng rất phong phú
với đủ hình dạng, kích cỡ, trọng lượng, màu sắc song một điều cơ bản là để
những vật thể đó trở thành chứng cứ thì nó phải liên quan đến vụ án hình sự.
• Thứ hai, vật chứng chứa đựng và phản ánh trong mình những sự kiện thực tế
liên quan đến vụ án, sự liên quan này có thể ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp
nhưng quan trọng nó phải nằm trong mối liên quan tổng thể của vụ án hình sự
và bao gồm những điển hình sau:
• Những vật dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội: Đây là những vật mà
người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội đã sử dụng chúng để hỗ trợ
quá trình thực hiện tội phạm để góp phần hoàn thành nhanh chóng và thuận
lợi hơn. Ví dụ: dùng dao, súng, rìu để giết người, dây thừng, dây dù để thắt
cổ, thuốc độc để đầu độc
• Những vật mang dấu vết tội phạm: Ở đây, vật chứng thể hiện bằng những
dấu vết mà người phạm tội đã để lại trong quá trình thực hiện hành vi phạm
tội (hiện trường) và dấu vết này được gọi là dấu vết hình sự. Dấu vết hình
sự là “những phản ánh của các sự vật, hiện tượng để lại trong quá trình thực
hiện tội phạm

. Ví dụ: trộm cắp tài sản để lại dấu vết phá khóa, cạy tủ hay
quần áo, hung khí của người phạm tội có dính máu của nạn nhân
• Vật chứng là đối tượng của tội phạm mà người phạm tội tác động đến: Ví
dụ: tài sản (xe máy, dây chuyền, đồng hồ ) trong các tội chiếm đoạt tài sản,

Ví dụ: Khi một người biết những tình tiết của vụ án và được các cơ quan tiến
hành tố tụng triệu tập đến với tư cách là người làm chứng, thì họ nhận thức, tri giác về
nó và trên cơ sở đó, lời khai của người này là sự diễn tả lại, tạo dựng lại diễn biến vụ
án thông qua lăng kính chủ quan của họ. Chính vì vậy, tính khách quan của lời khai
không được đảm bảo như vật chứng, đặc biệt là trong trường hợp người khai báo lại
có mối liên quan ít hay nhiều đến vụ án. Tùy từng đối tượng tham gia với tư cách nào
trong vụ án như: bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự và mối quan hệ của họ với nhau mà mỗi lời khai lại có những ảnh hưởng
của đặc điểm tâm lý khác nhau. Điều này là hoàn toàn dễ hiểu, chẳng hạn bị cáo bao
giờ cũng có tâm lý không muốn bị các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện; người bị
hại có tâm lý muốn trả thù; nguyên đơn dân sự lại mong được bồi thường thiệt hại
1
nhiều; bị đơn dân sự lại không muốn phải bồi thiệt thiệt hại hoặc bồi thường ít; người
làm chứng không thích bị phiền hà, liên lụy và sợ bị trả thù
Lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người làm chứng,
người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên
quan đến vụ án được xem xét là nguồn chứng cứ. So với BLTTHS năm 1988, nhà làm
luật Việt Nam đã bổ sung thêm lời khai của người bị bắt cũng là nguồn chứng cứ
nhằm bảo đảm quyền lợi của công dân ngay từ thời điểm bị bắt, cũng như họ được
quyền trình bày về những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm
(Điều 71 BLTTHS).
 Lời khai người làm chứng. (điều 67 BLTTHS)
Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án hình sự
và được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến với tư cách người làm chứng để lấy lời
khai theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Lời khai của người làm chứng
là lời trình bày của một người không bị người phạm tội xâm hại nhưng đã biết được
những tình tiết có liên quan đến vụ án theo yêu cầu của CQTHTT.
Lời khai người làm chứng là nguồn chứng cứ cổ xưa và phổ biến nên hầu hết
các hệ thống pháp luật đều dành cho lời khai người làm chứng một vị trí khá chắc
chắn trong tất cả các loại nguồn của chứng cứ. Ngoài ra, Bộ luật còn quy định người

hình sự.
 Lời khai người bị hại
Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc về tài sản do bọn
phạm tội gây ra. Lời khai người bị hại là một trong những nguồn chứng cứ quan
trọng, diễn tả lại trực tiếp hành vi phạm tội và nói lên thiệt hại mà họ phải gánh chịu.
Đây thường là nguồn tin cơ bản giúp cho các CQTHTT xác định sự thật của vụ án.
Tuy nhiên, cũng như các lời khai khác, lời khai của người bị hại cũng có những
yếu tố không khách quan, thường thổi phồng sự thiệt hại hoặc do căm tức người phạm
tội, thần kinh bị kích động nên họ đã cung cấp thông tin không chính xác về người
phạm tội cũng như diễn biến của vụ án Cho nên, lời khai của người bị hại về hành vi
phạm tội và những tình tiết khác, tương tự như lời khai của người làm chứng, cũng chỉ
được sử dụng làm chứng cứ khi mà họ có thể nói rõ vì sao họ biết được tình tiết đó.
(khoản 2 Điều 68 BLTTHS).
1
Ngoài ra, cũng cần thấy rằng lời khai của người bị hại cũng không tránh khỏi
sự chi phối của những yếu tố khách quan và chủ quan nhất định nên lời khai này có
những đặc điểm riêng so với lời khai của những người khác. Ví dụ: Lời khai của
người bị hại do bị người khác dùng vũ lực tấn công bất ngờ làm họ ngất đi sẽ khó mô
tả lại được sự việc như thế nào hoặc lời khai của người bị hại sẽ không phản ánh đúng
diễn biến khách quan của vụ án (không đáng tin cậy) nếu người này lại có quan hệ họ
hàng, đồng nghiệp, bạn bè với bị can, bị cáo.
Như vậy, vai trò của người bị hại trong vụ án hình sự là rất cần thiết, nhất là
trong những vụ án chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại. Tính theo vị trí mở đầu
vụ án thì người bị hại là nhân tố đầu tiên xác định vụ án hình sự nên lời khai của
người bị hại rất quan trọng, có ý nghĩa khi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và
đề ra hướng điều tra. Là nhân chứng sống nên lời khai của người bị hại là cơ sở quan
trọng để các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật truy lần những đầu mối của vụ án.
Do đó, giá trị chứng minh của nguồn chứng cứ này cao hơn so với lời khai của những
người khác, cho nên để đảm bảo tính khách quan, điều tra viên khi lấy lời khai của
người bị hại cũng phải tuân thủ theo những quy định của BLTTHS (điều 133-137

Lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ là sự trình bày về những tình tiết
liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm. Đây không chỉ là nguồn chứng cứ để
đối chiếu, xem xét với những chứng cứ khác mà cơ quan điều tra thu thập được nhằm
xác định sự phù hợp khách quan của hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm mà
còn là phương tiện để họ tự bào chữa cho mình. Mục đích lấy lời khai của những
người này của cơ quan tiến hành tố tụng là thu được lời khai chính xác và đầy đủ về
vụ án, để trên cơ sở đó xác định được mức độ liên quan của từng chủ thể đến vụ án
hình sự như thế nào. Lời khai của những người này cũng là nguồn chứng cứ quan trọng
vì họ có thể nhận tội, khai ra những người đồng phạm khác, hoặc đưa ra những chứng
cứ chứng minh họ không phạm tội từ đó kết hợp với nguồn chứng cứ khác để Cơ
quan điều tra xác định hướng điều tra làm sáng tỏ vụ án.
Lời khai của bị can, bị cáo (điều 72 BLTTHS)
Lời khai của bị can, bị cáo là sự trình bày của người đã bị khởi tố hình sự hoặc
của người đối với họ đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử với nội dung về những tình
tiết của vụ án. Tương tự như lời khai của người bị bắt, người bị tam giam, đây cũng là
1
một nguồn chứng cứ quan trọng bởi vì hơn ai hết, bị can, bị cáo là người biết rõ nhất
về hành vi phạm tội của mình; là cơ sở quan trọng để các CQTHTT dựng lại sự kiện
phạm tội một cách khách quan và toàn diện.
Tuy nhiên, các đối tượng phạm tội do tâm lý muốn che giấu tội phạm, sợ bị áp
dụng hình phạt, muốn tìm cách giảm trách nhiệm hình sự, … nên họ thường quanh co
chối tội hoặc không khai báo đúng sự thật nên gây không ít khó khăn trong họat động
TTHS. Vì vậy, khi lấy lời khai của họ cần chú ý là cho phép họ được trình bày tất cả
những gì có liên quan đến hành vi phạm tội mà không hạn chế phạm vi khai báo của
họ.
Cũng cần lưu ý thêm là nhóm đối tượng này có thể nhận tội hoặc không nhận tội,
cụ thể:
Thứ nhất, về lời khai theo hướng nhận tội, có nghĩa bị can, bị cáo thừa nhận những
hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Điều 72 BLTTHS cũng đã quy định rõ “Lời
nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các

chính xác. Kết luận giám định là một phán quyết mang tính khoa học bởi nó chỉ dựa
trên cơ sở khoa học và không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người nên khi tìm
ra sự thật của vụ án, giá trị chứng minh của kết luận giám định bao giờ cũng mang
tính khách quan hơn các nguồn chứng cứ khác.
Trong BLTTHS, kết luận giám định là nguồn chứng cứ quan trọng được sử
dụng nhằm xác định tội phạm, đối tượng tác động của tội phạm, những thiệt hại xảy ra
hay xác định năng lực hành vi hình sự của bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị
hại, cũng như khả năng nhận thức của họ. Các loại trưng cầu giám định thường gặp
như: Trưng cầu giám định pháp y, trưng cầu giám định kĩ thuật hình sự, trưng cầu
giám định văn hoá, nghệ thuật, trưng cầu giám định kế toán, tài chính… Việc phân
chia các loại hình giám định chủ yếu là để dễ phân biệt nhưng thật ra chúng có sự hỗ
trợ và có mối quan hệ mật thiết với nhau, thậm chí pha lẫn vào nhau.
Kết luận giám định là một nguồn chứng cứ có tính chất chuyên môn khoa học,
nó có giá trị pháp lý và được sử dụng trong công tác điều tra, truy tố và xét xử. Tuy
nhiên, không vì thế mà khi kết luận giám định không đúng hay không đầy đủ thì vẫn
được các CQTHTT sử dụng. Trong những trường hợp đó, chúng ta có thể thay thế
1
bằng một kết luận giám định khác đúng đắn hơn hoặc bổ sung thêm kết luận giám
định ban đầu cho đầy đủ (điều 159 BLTTHS).
Ngoài ra, nó là công cụ, phương tiện tích cực giúp cơ quan điều tra có hướng
xác minh, điều tra sự thật, giúp cho Tòa án xác định, kết luận về tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi, về tội phạm… Cho nên, về nguồn chứng cứ này,
nhằm khẳng định về mặt hình thức pháp lý của kết luận giám định, đồng thời chặt chẽ
về kỹ thuật lập pháp, BLTTHS năm 2003 đã bổ sung thêm quy định là: “Kết luận
giám định phải được thể hiện bằng văn bản” (đoạn 2 khoản 1 Điều 73 BLTTHS).
Ngoài ra, để bảo đảm tính độc lập và khách quan trong hoạt động tố tụng khi có nhiều
người tham gia giám định, nhà làm luật còn bổ sung thêm quy định đó là “trong
trường hợp có ý kiến khác nhau thì mỗi người ghi riêng ý kiến kết luận của mình vào
bản kết luận riêng”.
d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác (điều 77, 78

như đảm bảo việc bảo vệ cho quyền và lợi ích của công dân. Do đó, việc phát hiện và
xử lý tội phạm phải được tiến hành theo những thủ tục và trình tự do Bộ luật Tố Tụng
Hình Sự (BLTTHS) quy định, trong đó các quy định về quá trình chứng minh vụ án
hình sự (VAHS) chiếm một vai trò quan trọng và quyết định, đòi hỏi cần có sự tuân
thủ nghiêm ngặt nhằm đạt được mục đích cuối cùng là giải quyết đúng đắn VAHS.
Quá trình chứng minh là quá trình mà các cơ quan có thẩm quyền phải tái tạo
lại toàn bộ những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ. Quá trình chứng minh VAHS bắt
đầu từ khi xác định có dấu hiệu tội phạm cho đến khi giải quyết xong vụ án bao gồm
nhiều hoạt động khác nhau của các cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau như: hoạt
động điều tra, hoạt động truy tố và hoạt động xét xử. Mỗi hoạt động đều hàm chứa các
hành vi tố tụng khác nhau nhằm đến một mục đích cuối cùng và cao nhất đó là chứng
minh chân lý khách quan của vụ án hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử chính
là quá trình chứng minh vụ án hình sự. Tuy nhiên, BLTTHS và các văn bản pháp luật
của Nhà nước ta chưa có một định nghĩa cụ thể về quá trình chứng minh vụ án hình
sự. Nhưng trên cơ sở những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và các văn bản
pháp luật khác về điều tra, truy tố, xét xử và thực tiễn xét xử, ta có thể hiểu: Quá trình
chứng minh trong vụ án hình sự là quá trình mà các cơ quan tiến hành tố tụng, người
1
tiến hành tố tụng thực hiện hoạt động nhận thức chân lý về vụ án hình sự. Việc nhận
thức này phản ánh một cách khách quan toàn bộ diễn biến về vụ án, hay nói cách khác
là tái dựng lại một bức tranh toàn cảnh, chính xác về vụ án hình sự đã xảy ra. Từ đó, tạo
cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ án, xem xét đúng người, đúng tội.
Quá trình chứng minh là quá trình nhận thức các sự kiện, các tình tiết của vụ
án, quá trình nhận thức này phải đảm bảo sử dụng các biện pháp khoa học từ đó rút ra
những kết luận, quyết định lớn liên quan đến quyền và lợi ích của Nhà nước, tự do,
danh dự, nhân phẩm của con người. Vì vậy, quá trình chứng minh trong vụ án hình sự
phải đảm bảo tính khoa học chặt chẽ của phương pháp phán đoán, suy luận.
Quá trình chứng minh trong TTHS là tổng thể những hoạt động của cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia tố tụng được thực
hiện theo một trật tự nhất định, áp dụng đúng các quy định của pháp luật TTHS, dựa

của vụ án hoặc tìm những nguồn chứng cứ. Việc này đòi hỏi các chủ thể tố tụng phải
chọn những vấn đề mấu chốt, trọng tâm, trọng điểm; phải tiến hành khẩn trương, tỷ
mỷ; phải chú ý đến mọi khía cạnh tình tiết của vụ án; tích cực quan sát, theo dõi từ
nhiều nguồn thông tin khác nhau. Ngoài ra, người phát hiện chứng cứ phải hiểu rõ đặc
tính của thông tin trong nguồn chứng cứ từ đó phát hiện thêm những thông tin có giá
trị khác.
Việc phát hiện đúng đắn chứng cứ cần người Điều tra viên có khả năng, trình
độ, chuyên môn cao, áp dụng tổng hợp các phương pháp do pháp luật tố tụng quy định
như : khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét thu giữ, tạm giữ vật
chứng, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, hỏi cung bị can, nhận dạng, trưng
cầu giám định…
b) Ghi nhận, thu giữ chứng cứ
2
Là những phương pháp, cách thức do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện
nhằm làm cho các chứng cứ thu được có đầy đủ giá trị chứng minh và hiệu lực sử
dụng.
Tương ứng với đặc điểm của từng loại chứng cứ, pháp luật tố tụng hình sự quy
định những cách thức ghi nhận và thu giữ khác nhau. (Ví dụ: như đối với chứng cứ là
dạng lời khai của người làm chứng, người bị hại, bị can, bị cáo thì phải ghi rõ do ai
cung cấp, hoàn cảnh người đó biết được, lý do trình bày, thời gian biết…).
Vật chứng phải được cơ quan điều tra thu giữ đầy đủ và kịp thời. Khi khám xét
thu giữ vật chứng phải theo đúng thẩm quyền và thủ tục pháp luật quy định (Thông tư
liên tịch số 03 quy định về chế độ thu giữ, bảo quản, xử lý vật chứng và tài sản tạm
giữ trong các vụ án hình sự). Việc ghi nhận và thu giữ đòi hỏi chủ thể tố tụng phải
luôn bám sát những vấn đề cần được chứng minh trong vụ án; phải căn cứ vào đặc
điểm thực tế xảy ra vụ án; căn cứ vào tính chất và quy luật hoạt động của đối tượng
đang được điều tra. Đồng thời, nắm vững các quy luật của sự vật, hiện tượng, áp dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việt thu giữ chứng cứ. Các chủ thể tiến hành tố
tụng phải thu thập khách quan, toàn diện, đầy đủ tránh việc thu thập bỏ sót hay tràn
lan không cần thiết.

Mỗi loại chứng cứ có những đặc điểm riêng của nó, khi tiến hành kiểm tra cần
phải dựa trên đặc điểm đó mà xem xét :
• Đối với lời khai của người làm chứng, người bị hại: phải kiểm tra tính xác thực
về lời khai của họ và những yếu tố có thể ảnh hưởng đến lời khai đó. Yêu cầu
họ nói rõ nguyên nhân nào họ biết được sự việc đó.
• Đối với lời khai của người bị tạm giam, tạm giữ: không vội tin hay hoài nghi
vô căn cứ. Diễn biến tâm lý của họ thường phức tạp, nên cần phải xác định tính
xác thực của lời khai. Khoản 2 Điều 54 BLTTHS đã quy định: Lời nhận tội của
bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ
khác của vụ án.
• Đối với kết luận của giám định viên: phải xét các vấn đề về mức độ chính xác
của các tài liệu đã được giám định; năng lực, thẩm quyền cũng như sự khách
2
quan của Giám định viên; thủ tục; điều kiện giám định và kết luận giám định có
chính xác, khoa học không? Trong trường hợp cơ quan Điều tra không đồng ý
hay thấy kết luận chưa đầy đủ, rõ ràng thì phải nêu lý do, hay ra quyết định bổ
sung, giám định lại theo các quy định chung tại Điều 55, Điều 132 và Điều 134
BLTTHS.
• Đối với phim, ảnh, bản photocopy do cơ quan Điều tra thu được: phải xét đến
điều kện, hoàn cảnh thu được, phương tiện sử dụng vào việc thu, chụp, trình độ
năng lực và tinh thần trách nhiệm của người tiến hành.
• Đối với vật chứng: phải xem xét, kiểm tra là thật hay giả, các đặc điểm , dấu
vết riêng trên vật chứng có còn nguyên vẹn hay đã bị hư hỏng, biến dạng; hoàn
cảnh thu được; biên bản mô tả lại vật đó có chính xác hay không, hay có ảnh
chụp chưa ?
• Đối với biên bản: nội dung những sự việc được ghi lại, tả lại có đúng với thực
tiễn khách quan, có đầy đủ, chặt chẽ không? Đó là bản chính hay bản sao, việc
ghi chép có gì mâu thuẫn, chưa rõ ràng? Về thủ tục pháp lý, các biên bản có
phù hợp với quy định của Điều 78 BLTTHS không?
Việc kiểm tra chứng cứ phải được tiến hành thường xuyên trong suốt quá trình

có sự tác động từ bên ngoài. Nó cũng là niềm tin vào kết luận đánh giá chứng
cứ của người tiến hành tố tụng, là kết quả của hoạt động lý trí, đạo đức và tri
thức mà họ có được.
Ngoài ra khi đánh giá chứng cứ, các chủ thể tiến hành tố tụng còn phải dựa vào
kinh nghiệm bản thân để giúp học tránh được sai sót cũng như nhanh chóng
đưa ra được kết luận đúng đắn.
• Dựa vào ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa : bao gồm các quan niệm về những
nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa, các tri thức về pháp luật hiện hành,
thái độ tâm lý của con người đối với pháp luật, thể hiện sự công bằng, bình
đẳng trước pháp luật…
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status