Chuyên Đề Tốt Nghiệp Gv Hướng dẫn: Nguyễn Thị Tiến
TRƯỜNG ĐH DUY TÂN
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài : “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay cá nhân, hộ gia đình tại
ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh tỉnh DakLak”
Giảng viên hướng dẫn : Th.s Nguyễn Thị Tiến
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Đức Hải
MSSV : 132526815
Lớp : K13QNH6
Sv thực hiện: Nguyễn Đức Hải - Trang 1 -
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Gv Hướng dẫn: Nguyễn Thị Tiến
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là một trong những mắt xích quan trọng cấu thành nên sự vận động
nhịp nhàng của nền kinh tế. Trong hoạt động ngân hàng thì hoạt động tín dụng là một
lĩnh vực quan trọng, đóng góp một phần quyết định mọi hoạt động kinh tế trong nền
kinh tế quốc dân. Cùng với sự tăng trưởng và phát triển không ngừng của nền kinh tế,
nhu cầu vốn đã và đang là một nhu cầu vô cùng cấp thiết cho việc xây dựng cơ sở hạ
tầng, trang thiết bị cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ngoài ra vốn còn là tiền đề, là
cơ sở đầu tiên để các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh và đổi mới công
nghệ. Và để thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành
nước công nghiệp, với tỷ trọng ngành công nghiệp vượt trội hơn các ngành khác thì
cần có một nguồn vốn lớn, đầu tư lâu dài.
Với cơ chế thị trường như hiện nay, nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh, tiêu
dùng ngày càng tăng cao một cách mạnh mẽ, để đáp ứng nhu cầu đó các NHTM đã
chú trọng nhiều hơn đến đối tượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình. Đã có những sự
điều chỉnh nhất định, đặc biệt về mô hình tổ chức cũng như chiến lược hoạt động nên
đã gặt hái được kết quả rất khả quan cả về tỷ trọng cũng như chất lượng trên lĩnh vực
này. Tuy nhiên vẫn còn một số vần đề cần được quan tâm xem xét, đặc biệt là ở chi
nhánh Ngân hàng Công thương DakLak, đó là lý do em lựa chọn đề tài : “Giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay cá nhân, hộ gia đình tại ngân hàng Công
ĐỘNG CHO VAY CÁ NHÂN, HỘ GIA ĐÌNH
1.1 Tổng quan về NHTM
1.1.1 Khái niệm NHTM
Theo Luật Tổ chức tín dụng số 02/09/QH 10 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam định nghĩa Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực
hiện toàn bộ họat động ngân hàng và các họat động kinh doanh khác có liên quan.
Trong đó, họat động ngân hàng là họat động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng tiền này để cấp tín dụng và cung
ứng các dịch vụ thanh toán.
1.1.2 Chức năng và hoạt động của NHTM
1.1.2.1 Chức năng của NHTM
- Chức năng trung gian tín dụng.
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là “cầu
nối” giữa người dư thừa vốn và người cần vốn. Trong nền kinh tế thị trường có hai cơ
chế chuyển giao vốn.
Cơ chế chuyển giao trực tiếp từ người thừa sang người thiếu vốn.
Cơ chế chuyển giao gián tiếp từ người thừa sang người thiếu vốn thông qua một trung
gian tài chính. Điều này có thể khái quát qua sơ đồ sau:
Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh
tế, ngân hàng thương mại hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền
kinhh tế. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay
vừa đóng vai trò là người cho vay. Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng
thương mại góp phần đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm
Sv thực hiện: Nguyễn Đức Hải - Trang 4 -
- Cá nhân
- Doanh
nghiệp
NHTM - Cá nhân
- Doanh
nghiệp
hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Ở đây ngân hàng thương mại đóng vai
trò là người “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài
khoản của họ.
Sv thực hiện: Nguyễn Đức Hải - Trang 5 -
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Gv Hướng dẫn: Nguyễn Thị Tiến
Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở
thực hiện chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi, ngân
hàng đã mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu, chi.
Việc các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý
nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Với chức năng này, các ngân hàng thương
mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiêm
chi, ủy nhiệm thu, thanh toán thẻ, thẻ tín dụng….Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể
chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.
Đối với ngân hàng thương mại, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận
cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán. Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn
vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách
hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của ngân hàng
thương mại.
- Chức năng tạo tiền
Khi có sự phân hóa trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng phát
hành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn thực hiện chức
năng phát hành giấy bạc Ngân hàng nữa. Nhưng với chức năng trung gian tín dụng và
trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra tiền tín dụng ( hay tiền ghi sổ ) thể
hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM. Đây chính là một bộ
phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch.
Quá trình tạo tiền chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cả hệ thống
ngân hàng thương mại chứ bản thân một ngân hàng thương mại không thể tạo ra được.
Tóm lại, sự kết hợp giữa chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian
thanh toán là cơ sở để ngân hàng thương mại thực hiện chức năng tạo tiền. Với chức
năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng phương tiện thanh toán trong
tài sản này. Hầu như tất cả các khoản mục bên tài sản nợ của ngân hàng đều là vốn
vay, nghĩa là ngân hàng phải trả lãi suất cho nó đến từng giờ. Do đó để khỏi bị thiệt
hại, ngân hàng luôn luôn phải cho vay hoặc đầu tư ngay số tài sản ấy vào những dịch
vụ sinh lãi. Từ lãi thu được, ngân hàng sẽ dùng nó để trả lãi suất cho vốn đã vay, thanh
toán các chi phí trong hoạt động, phần còn lại sẽ là lợi nhuận của ngân hàng. Nói cách
Sv thực hiện: Nguyễn Đức Hải - Trang 7 -
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Gv Hướng dẫn: Nguyễn Thị Tiến
khác, nghiệp vụ có của ngân hàng là những nghiệp vụ thực hiện sử dụng những khoản
vốn đã huy động (tập trung ở nghiệp vụ nợ) nhằm mục đích sinh lợi.
- Các hoạt động khác
Các hoạt động này không thể hiện trên bảng cân đối tài sản. Các hoạt động này ít
rủi ro hay không có rủi ro nhưng mang lại cho ngân hàng thu nhập cao và tạo điều kiện
cho hoạt động nhận tiền ký thác và cho vay của ngân hàng.
1.2 Sơ lược về tín dụng ngân hàng
1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể
kinh tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là
người cho vay.
Trong hoạt động tín dụng ngân hàng thì cho vay là hoạt động chủ yếu nhất. Cho vay là
hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản
tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có
hoàn trả cả gốc và lãi.
1.2.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng
Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn đã cam kết trong
hợp đồng tín dụng. Bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn mà vay mượn thì phải
hoàn trả. Nguyên tắc này đảm bảo cho ngân hàng kinh doanh được bảo toàn vốn và
phát triển. Còn đối với các chủ thể vay vốn thì họ phải tính toán cân nhắc và có trách
nhiệm đối với các khoản vốn vay.
Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng. Tín dụng cung ứng cho nền kinh tế phải hướng đến mục tiêu và yêu cầu về phát
+ Cho vay công nghiệp và thương mại : nhằm bổ sung vốn lưu động cho các
doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này.
+ Cho vay nộng nghiệp : nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp như hỗ trợ chi phí
sản xuất trong trồng trọt, chăn nuôi…
- Tín dụng tiêu dùng : là loại hình cho vay để trang trải cho các chi phí thông
thường đáp ứng các nhu cầu về đời sống và sinh hoạt của cá nhân, gia đình như mua
sắm xe máy, ti vi, tủ lạnh, nhà cửa…
Sv thực hiện: Nguyễn Đức Hải - Trang 9 -
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Gv Hướng dẫn: Nguyễn Thị Tiến
1.2.3.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng :
- Cho vay có đảm bảo : là loại hình cho vay được ngân hàng cung ứng trên cơ sở tài
sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
- Cho vay không có đảm : là loại hình cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc
bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín, năng lực tài
chính của bản thân khách hàng, tính khả thi của dự án.
1.2.3.4 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng :
- Tín dụng trực tiếp : là loại hình tín dụng mà ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho
người vay, đồng thời người vay cũng là người trực tiếp hoàn trả nợ cho ngân hàng.
- Tín dụng gián tiếp : là loại hình tín dụng mà ngân hàng thực hiện thông qua
việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh
toán.
1.2.2.5 Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng :
- Cho vay bằng tiền : đây là hình thức tín dụng phổ biến, vốn tín dụng được cấp
dưới hình thái giá trị tiền tệ.
- Cho vay bằng tài sản : vốn tín dụng được cấp bằng tài sản dưới hình thức tài
trợ thuê mua của ngân hàng hoặc các công ty thuê mua.
1.3 Sơ lược về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân, hộ gia đình của NHTM
1.3.1 Khái niệm
Cho vay cá nhân, hộ gia đình là hình thức ngân hàng giao một khoản tiền cho các
cá nhân, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoặc không đăng ký kinh doanh nhằm
với ngân hàng. Trong đó, cả khách hàng và ngân hàng đều tuân theo các quy định hiện
thời về việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
- Cho vay thấu chi : là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định
và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
- Cho vay theo các phương thức khác : Tùy theo nhu cầu của khách hàng và thực
tế phát sinh, ngân hàng sẽ xem xét cho vay theo các phương thức khác phù hợp với
đặc điểm hoạt động trong từng thời kỳ và không trái với quy định của pháp luật.
Sv thực hiện: Nguyễn Đức Hải - Trang 11 -
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Gv Hướng dẫn: Nguyễn Thị Tiến
1.3.3 Vai trò cho vay cá nhân, hộ gia đình
Hoạt động trước kia của các NHTM chủ yếu chỉ tập trung vào đối tượng khách
hàng là các doanh nghiệp lớn, các tổ chức kinh tế có những khoản vay lớn. Mà ít chú
trọng đến đối tượng khách hàng là các cá nhân, dẫn đến những lãng phí trong khai thác
tiềm năng cũng như lợi ích từ nhóm đối tượng khách hàng này.
Tuy nhiên mấy năm trở lại đây, các NHTM cũng đã có những điều chỉnh trong
hoạt động của mình, chú trọng nhiều hơn đến đối tượng khách hàng là các cá nhân.
Đặc biệt là sau các vụ mà NHTM bị lỗ do cho vay các Tổng công ty lớn của Nhà nước
trong khoảng các năm 2000. Các NHTM như bừng tỉnh và đã san sẻ bớt lực lượng
phục vụ để phục vụ tốt hơn cho nhóm đối tượng là các khách hàng cá nhân.
Đối tượng khách hàng cá nhân không chỉ là nhóm đối tượng có nhu cầu vay vốn,
mà còn là một lực lượng cung cấp cho các NHTM một lượng vốn lớn. Nguồn vốn này
chủ yếu là các khoản tiết kiệm của các cá nhân, vì vậy tính ổn định của nó rất cao tạo
thuận lợi cho việc đầu tư vào các tài sản trung và dài hạn của các NHTM.
Tạo dựng tốt mối quan hệ với nhóm khách hàng này, các NHTM vừa tiếp cận
được các món cho vay phát sinh từ nhu cầu tiêu dùng cũng như mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh của các khách hàng cá nhân. Đồng thời khi có những khoản tiết kiệm
hình thành từ nhóm khách hàng này thì các NHTM đó cũng là nơi mà khách hàng
thường sẽ lựa chọn gửi tiền tiết kiệm của mình.
Tóm lại khách hàng cá nhân là nhóm khách hàng có một vị trí rất quan trọng
+ Công tác tổ chức của ngân hàng
Ngân hàng có một cơ cấu tổ chức khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt
chẽ nhịp nhàng giữa các cán bộ, nhân viên, các phòng ban trong ngân hàng, cũng như
với các ngân hàng, cơ quan khác bên ngoài có liên quan đảm bảo cho ngân hàng hoạt
có hiệu quả, qua đó sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu khách hàng, theo dõi
quản lý chặt chẽ các khoản cho vay.
+ Chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng
Đội ngũ cán bộ ngân hàng có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có đạo đức, có năng
lực trong việc quản lý đơn xin vay, định giá tài sản thế chấp , giám sát số tiền vay và
có các biện pháp hữu hiệu trong việc thu hồi nợ vay của ngân hàng giúp ngân hàng
có thể có được những khoản cho vay đảm bảo, ngăn ngừa được những rủi ro khi thực
hiện một khoản vay. Như vậy, một ngân hàng có được một chính sách hợp lý nhưng
Sv thực hiện: Nguyễn Đức Hải - Trang 13 -
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Gv Hướng dẫn: Nguyễn Thị Tiến
nếu không có đội ngũ cán bộ tín dụng năng động sáng tạo, có đầy đủ kiến thức chuyên
môn và đạo đức nghệ nghiệp thì cũng không thể đảm bảo được chất lượng cho vay.
+ Cơ sở vật chất của ngân hàng
Trang thiết bị đầy đủ và hiện đại giúp cho ngân hàng có thể phục vụ tốt nhất các
nhu cầu của khách hàng về các nghiệp vụ thực hiện cũng như các dịch vụ bổ trợ, tạo
lòng tin, sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng và do đó thu hút khách hàng
đến giao dịch với ngân hàng. Đặc biệt với sự phát triển như vũ bão về công nghệ thông
tin như hiện nay, các trang thiết bị tin học đã giúp cho ngân hàng có được thông tin và
xử lý nhanh chóng, kịp thời chính xác, trên cơ sở đó quyết định đúng đắn.
- Các nhân tố khách quan
+ Tình trạng của nền kinh tế
Tình trạng hiện tại của một nền kinh tế có ảnh hưởng tới tất cả mọi hoạt động
kinh tế diễn ra trong nó, và hoạt động cho vay khách hàng cá nhân, hộ gia đình cũng
không nằm ngoài quy luật đó. Tthậm chí hoạt động này của ngân hàng chịu ảnh hưởng
rất lớn bởi tình trạng này, khi nền kinh tế trong trạng thái hưng thịnh thì hoạt động của
các NHTM cũng trong xu hướng diễn ra mạnh mẽ, khi đó nhu cầu vay tiền của khách
xuất cây công nghiệp dài ngày, đặc biệt là cây cà phê, cao su, tiêu. Các doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh phát triển ngày một lớn mạnh nên nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh là rất lớn, cho đến cuối năm 1998 trên địa bàn tỉnh đã có 3 chi
nhánh Ngân hàng Thương mại quốc doanh và 2 chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ
phần đang hoạt động với số dư nợ cho vay đạt khoảng 2000 tỷ đồng. Song cũng chỉ
mới đáp ứng được một phần cơ bản nhu cầu vốn cần thiết cho yêu cầu phát triển sản
xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh.
Nhằm mở rộng mạng lưới hoạt động cũng như tạo thêm điều kiện giúp địa
phương có thêm nhu cầu về vốn để phục vụ cho phát triển kinh tế. Sau quá trình khảo
sát tình hình thực tế, được sự nhất trí của Ủy ban Nhân dân tỉnh, Hội đồng quản trị
Ngân hàng Công thương Việt Nam đã ra quyết định số 21/QĐ-HĐQT-NHCT1 ngày
12/02/1999 - Thành lập chi nhánh Ngân hàng Công thương ĐakLak - là đơn vị thành
viên mới của Ngân hàng Công Thương Việt Nam. Sau một thời gian tiến hành làm
công tác chuẩn bị, ngày 08/07/1999 chi nhánh Ngân hàng Công thương ĐakLak đã
chính thức làm lễ khai trương đi vào hoạt động.
Cũng như các Chi nhánh Ngân hàng Thương Mại khác trên địa bàn, với chức
năng nhiệm vụ được Ngân hàng Công Thương Việt Nam giao như công tác huy động
vốn trên địa bàn, thực hiện kinh doanh tiền tệ tín dụng, dịch vụ Ngân hàng đảm bảo an
toàn hiệu quả, tổ chức tốt các nhiệm vụ kế toán thanh toán, kho qũy ngân hàng trên địa
bàn và các nhiệm vụ khác được Tổng Giám Đốc Ngân hàng Công Thương Việt nam
giao mặc dù là chi nhánh non trẻ so với các chi nhánh Ngân hàng Thương Mại khác trên
địa bàn đã có bề dày về thời gian họat động, nhưng với sự phấn đấu nỗ lực không ngừng
Sv thực hiện: Nguyễn Đức Hải - Trang 16 -
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Gv Hướng dẫn: Nguyễn Thị Tiến
và có hiệu quả của tập thể cán bộ công nhân viên, chi nhánh Ngân hàng Công thương
ĐakLak đã đạt được nhiều thành tích vượt bậc như huy động, dư nợ năm sau tăng hơn
năm trước, đặc biệt chi nhánh đã hoạt động có hiệu quả ngay năm đầu, quý đầu tiên. Với
những nỗ lực và phấn đấu không ngừng nghỉ chi nhánh Ngân hàng Công thương
ĐakLak đã đạt được những bước tiến vượt bật về nguồn vốn và cho vay nền kinh tế.
Hàng năm chi nhánh dành hàng trăm tỷ đồng cho các hạn mức dự án,những công trình
nhánh Ngân hàng Công thương ĐakLak hoạt động với những chức năng và nhiệm vụ
sau :
- Huy động vốn :
+ Huy động vốn ngắn hạn, trung dài hạn bằng VND và ngoại tệ của mọi thành
phần kinh tế và dân cư theo quy định của nhà nước và Ngân hàng Công thương Việt
Nam dưới nhiều hình thức khác nhau như : tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn,
tiền gửi thanh toán, phát hành kỳ phiếu…nhằm thực hiện các chính sách về xã hội,
chính sách về kinh doanh.
+ Tiếp nhận vốn tài trợ, vốn ủy thác đầu tư do chính phủ và các tổ chức kinh tế
trong xã hội, các tổ chức quốc tế và cá nhân cho chương trình phát triển kinh tế, văn
hóa xã hội của tỉnh.
+ Vốn vay của NHTW và của các tổ chức tín dụng khác.
- Cho vay :
+ Cho vay ngắn hạn, trung dài hạn bằng VND và ngoại tệ đối với mọi thành phần
kinh tế. Cho vay ưu đãi lãi suất đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, xuất khẩu.
Cho vay sản xuất tiêu dùng, cho vay cầm cố tài sản…
+ Thực hiện nghiệp vụ tín dụng thuê mua, liên doanh với các tổ chức thuê mua
nước ngoài.
Sv thực hiện: Nguyễn Đức Hải - Trang 18 -
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Gv Hướng dẫn: Nguyễn Thị Tiến
+ Bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.
+ Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ khác của ngân
hàng, thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối.
- Các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác :
+ Mua cổ phần, góp vốn với các đơn vị và tổ chức kinh tế khác theo quy định của
Ngân hàng Công thương Việt Nam.
+ Cất giữ, mua bán, chuyển nhượng, quản lý các chứng khoán và các chứng từ có
giá trị khác.
+ Thực hiện các nghiệp vụ cầm cố động sản và các bất động sản.
+ Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng.
việc được phân công.
- Phòng Hành chính: Có chức năng quản lý và đào tạo về mặt nhân sự, nắm bắt
các công văn, nghị quyết của cấp trên để triển khai trong hoạt động của đơn vị, ngoài
ra Phòng còn xử lý các công việc hành chính của ngân hàng như tiền lương, thi đua
khen thưởng, kỷ luật
- Phòng Kế toán: Là phòng nghiệp vụ thực hiện giao dịch trực tiếp với khách
hàng, tổ chức hạch toán kế toán theo quy định của Nhà nước và của Ngân hàng Công
thương Việt Nam.
Sv thực hiện: Nguyễn Đức Hải - Trang 20 -
PHÓ GIÁM ĐỐC
Phòng
KH
Doanh
nghiệp
Phòng
Kế
toán
Phòng
Hành
chính
Phòng
Quản
lý rủi
ro
Phòng
tài trợ
thương
mại
Phòng
Kho
Cơ cấu tổ chức theo dạng này thuận lợi cho hoạt động của Ngân hàng Công
thương ĐakLak, được phân chia thành những đơn vị chuyên trách riêng biệt, rõ nhất là
mảng kinh doanh và mảng kế toán. Gia tăng sự chuyên môn hoá, đây cũng là do đặc
trưng của ngành hoạt động Ngân hàng. Bên cạnh mối quan hệ trực tuyến giữa cấp trên
và cấp dưới thì trong quá trình hoạt động của Ngân hàng Công Thương ĐakLak còn
thể hiện mối quan hệ chức năng giữa các phòng ban, ngoài việc hoàn thành công việc
riêng biệt, chuyên trách của từng bộ phận còn có sự liên kết công việc chặt chẽ giữa
Sv thực hiện: Nguyễn Đức Hải - Trang 21 -
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Gv Hướng dẫn: Nguyễn Thị Tiến
từng phòng với nhau nhằm tạo điều kiện cho công việc diễn ra thuận lợi và đạt kết quả
cao. Và mọi hoạt động của Ngân hàng còn có sự giám sát, kiểm tra của phòng kiểm
tra, kiểm soát nội bộ. Ban Giám Đốc có thể theo sát hơn mọi hoạt động của toàn Ngân
hàng, kịp thời giải quyết những vấn đề khó khăn xảy ra.
2.1.3 Tình hình hoạt động của ngân hàng
2.1.3.1 Tình hình huy động vốn tại ngân hàng
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn qua hai năm 2009-2010
Đơn vị tính : triệu đồng
Năm 2009 Năm 2010 Chênh lệch
ST TT(%) ST TT(%) ST TL(%)
1.Tiền gửi dân cư 1.254.712 50,96 1.480.621 52,48 225.909 18,00
2.Tiền gửi tổ chức
kinh tế
998.010 40,54 1.061.644 37,63 63.634 6,38
3.Tiền gửi tổ
chức tín dụng
140.309 5,7 165.594 5,87 25.285 18,02
4.Phát hành
GTCG
63.961 2,6 108.331 3,84 44.370 69,37
5.Huy động khác 4.923 0,2 5.134 0,18 211 4,29
đồng.
Bên cạnh đó thì nguồn huy động khác và phát hành GTCG thì không chiếm tỷ
trọng nhiều trong tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh, nếu không phải nói là rất ít
trong 2 năm 2009-2010 ( 2,8% và 4,02% ). Phát hành GTCG năm 2009 là 63.961 triệu
đồng, năm 2010 là 108.331 triệu đồng, tăng 44.370 triệu đồng. Huy động khác lần lượt
là 4.923 triệu đồng và 5134 triệu đồng ở năm 2009-2010, có tăng nhưng không đáng
kể.
Nhìn chung, trong 2 năm 2009-2010 chi nhánh đã đạt được hiệu quả tốt trong
công tác huy động vốn. Năm 2010 đã tăng 14,59% so với năm 2009, tương ứng
359.215 triệu đồng, nhờ đó đã gia tăng thêm nguồn vốn chi nhánh giúp chi nhánh có
thêm điều kiện hoạt động. Tuy nhiên, với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường vốn
như hiện nay cùng với sự ra đời và phát triển của các kênh đầu tư khác như chứng
khoán, bất động sản, ngoại tệ, bảo hiểm…thì bản thân chi nhánh phải không ngừng cải
Sv thực hiện: Nguyễn Đức Hải - Trang 23 -
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Gv Hướng dẫn: Nguyễn Thị Tiến
thiện mình về mọi mặt để giữ vững thị phần hiện tại của mình, đồng thời gia tăng thị
phần trong tương lai.
2.1.3.2 Tình hình cho vay tại ngân hàng
Bảng 2.2 Tình hình cho vay qua hai năm 2009-2010
Đơn vị tính : triệu đồng
Năm 2009 Năm 2010 Chênh lệch
ST TL(%)
Doanh số cho vay 4.109.693 5.113.835 1.004.142 24,43
Doanh số thu nợ 2.613.824 3.131.135 517.311 19,79
Dư nợ
2.300.165
4.282.865 1.982.700 86,20
Nợ xấu
15.225 12.173
-3.052
đồng giảm 3.052 triệu đồng. Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, nợ xấu phát sinh là
không thể tránh khỏi, nhưng nếu nợ xấu vượt quá tỷ lệ cho phép sẽ dẫn đến mất khả
năng thanh toán của ngân hàng, mà trong 2 năm tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh đều ở mức
cho phép là 0,66% vào năm 2009 và 0,28% vào năm 2010. Tuy vậy chi nhánh vẫn cần
cẩn thận hơn nữa trong công tác cho vay của mình để hạn chế tối đa rủi ro.
2.1.3.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Bảng 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Đơn vị tính : triệu đồng
Năm 2009 Năm 2010 Chênh lệch
ST TL(%)
Thu nhập
158.102 250.446 92.344 58,41
Chi phí
135.215 218.912 83.697 61,9
Lợi nhuận
22.887 31.534 8.647 37,78
(Nguồn : Phòng KD cá nhân ngân hàng TMCP Công Thương chi nhánh Đăklăk)
Từ những số liệu ở bảng 2.3 ta thấy : mức thu nhập năm 2010 tăng so với năm
2009. Cụ thể là năm 2009 thu nhập của chi nhánh là 158.102 triệu đồng qua năm 2010
thu nhập là 250.446 triệu đồng, tăng 92.344 triệu đồng tương ứng 58,41%. Năm 2010
nền kinh tế của đất nước đã ổn định hơn chứ không còn chịu nhiều ảnh hưởng từ suy
thoái kinh tế năm 2008 như năm 2009, bên cạnh đó là sự phấn đấu không ngừng nghỉ
từ phía chi nhánh nên thu nhập năm 2010 tăng mạnh.
Lợi nhuận của chi nhánh năm 2010 là 31.534 triệu đồng, so với năm 2009 là
22.887 đã tăng 8.647 triệu đồng, tương ứng 37,78%. Mặc dù thu nhập tăng mạnh
nhưng lợi nhuận ko tăng đáng kể là do chi phí năm 2010 tăng tới 61,9% tương ứng
83.697 triệu đồng so với năm 2009. Chi phí năm 2010 là 218.912 triệu đồng, năm
2009 là 135.215 triệu đồng, năm 2010 tốn một lượng chi phí lớn là do chi nhánh chi
Sv thực hiện: Nguyễn Đức Hải - Trang 25 -