Chuyên đề rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2 - Pdf 22

Chuyên đề: RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 2
Người thực hiện: Đàm Thị Ngân
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám, Ân Thi, Hưng Yên.
I/ Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA DẠY TẬP ĐỌC LỚP 2:
- Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng
cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc” đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi
chảy) đọc có ý thức (không hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là
đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này được hình thành trong hai hình thức
đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn
nhau. Sự hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ có tác động tích cực đến những
kỹ năng khác.
- Đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung
văn bản. Ngược lại nêu không hiểu điều đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn
cảm được. Nhiều khi, khó mà nói được rạch ròi kỹ năng nào làm cơ sở cho kỹ năng
nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng mới đọc đúng. Vì vậy
trong dạy đọc không thể xem nhẹ yếu tố nào.
- Thông qua việc dạy đọc, làm cho học sinh thích đọc và thấy đó là một trong
những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển.
- Đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên cạnh nhiệm
vụ rèn kỹ năng đọc, phân môn tập đọc còn có nhiệm vụ:
+ Làm giàu kiến thức ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh.
+ Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh.
+ Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh.
II-THỰC TRẠNG ĐỌC VÀ DẠY TẬP ĐỌC Ở TRƯỜNG T.H HIỆN NAY:
- Việc dạy đọc bên cạnh những thành công còn có những hạn chế: Học sinh chưa
đọc được như ta mong muốn, đọc chưa đúng ở những chỗ ngắt nhịp vì các em chưa hiểu
được nội dung câu thơ câu, văn nên các em ngắt nghỉ không đúng với nội dung biểu cảm
của tác giả.
- Học sinh chưa hiểu cách nói văn chương, các em thường ngắt giọng giữa từ
ghép, các em chưa biết phân biệt chỗ nào cần lên giọng, chỗ nào cần xuống giọng.

+ Những từ ngữ, câu nào cần dạy nghĩa và dạy nghĩa chúng ra sao? Những tình
tiết nào của câu chuyện cần tìm hiểu và tìm hiểu chúng như thế nào?
+ Nội dung chính của bài tập đọc là gì, ý nghĩa của bài văn, bài thơ, câu
chuyện là gì? Học sinh được giáo dục điều gì sau khi đọc bài tập đọc.
2- Rèn các kỹ năng đọc:
2.1. Đọc mẫu:
- Giáo viên phải có kỹ năng “đọc” thành thục.
Như ta đã biết chất lượng đọc của học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong
đó vai trò hướng dẫn của giáo viên rất quan trọng.
Kỹ năng đọc là mục đích cuối cùng chúng ta muốn có ở học sinh sau mỗi giờ
học. Giáo viên phải tạo được cho mình kỹ năng đọc thành thục. Giáo viên phải biết
cách xác định từ, câu quan trọng đến việc hiểu được nghĩa, ý, tình của văn bản. Giáo
viên không thể hình thành ở học sinh kỹ năng gì mà bản thân mình không có, không
thể gặt hái được những gì mà ta không có khả năng gieo trồng. Vì vậy, trong dạy học
chúng ta không có quyền đòi hỏi học sinh làm những gì mà bản thân mình chưa làm
được. Giáo viên không thể luyện cho học sinh đọc hay đọc diễn cảm mà bản thân
mình chưa xác định được bài văn cần đọc với giọng điệu như thế nào. Khi dạy học
không có hiệu quả, nhiều giáo viên đổ lỗi cho phương pháp mà không biết rằng
“Phương pháp chỉ là hình thức của sự tự vận động bên trong của chính nội dung”.
Một trong các phương pháp dạy học quan trọng nhất ở Tiểu học là phương
pháp luyện theo mẫu. Vì vậy, không biết làm mẫu thì không thể tiến hành giờ dạy.
Do đó, khi soạn bài, giáo viên phải xác định được những kỹ năng đọc cần có và luyện
tập cho mình thành thục những kỹ năng này. Khi soạn bài, giáo viên phải tự làm
trước những gì mà học sinh phải làm trên lớp: Đọc thành tiếng, giải nghĩa từ, trả lời
những câu hỏi về nội dung bài.
- Giáo viên có sự hiểu biết về chương trình SGK và các tài liệu dạy học.
- Giáo viên phải tìm hiểu vốn “đọc” của học sinh, đặc điểm, trình độ của học
sinh. Việc tìm hiểu học sinh là một quá trình lâu dài đã được tiến hành trước đó.
2
Để tiến hành dạy học tập đọc, chúng ta phải hiểu rõ học sinh của mình, đặc điểm,

- Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không
có lỗi. Đọc đúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc đúng phải thể
hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách khác là không
đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao gồm việc đọc đúng các
âm thanh (đúng các âm vị), ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu) .
- Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị Tiếng
việt.
+ Đọc đúng các phụ âm đầu s/x, tr/ch
+ Đọc đúng các chính âm: Có ý thức phân biệt để không đọc “nhanh” thành
“nhăn”, “huệ” thành “hệu”.
+ Đọc đúng các âm cuối
+ Đọc đúng các thanh có các lỗi phát âm địa phương như lẫn thanh (~) và
thanh sắc (/) VD: Không đọc Dũng thành Dúng.
+ Đọc đúng bao gồm cả đúng tiết tấu, ngắt hơi, ngữ điệu câu, cần phải dựa vào
nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng từ để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc không
3
được tách một từ làm hai. VD: không đọc: Ông già bẻ gẫy từng chiếc một/cách dễ
dàng.
+ Không tách từ chỉ loại với danh từ mà nó đi kèm:
Ví dụ không đọc: - Em cầm tờ/lịch cũ
Ngày hôm qua đâu rồi
+ Không tách quan hệ từ “là” với danh từ đi sau nó, ví dụ không đọc: - Mẹ
là/ngọn gió của con suốt đời:
- Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: Ngắt hơi khi gặp dấu phẩy, nghỉ
hơi khi gặp dấu chấm (với dấu chấm nghỉ hơi 1 quãng bằng khoảng thời gian đọc 1
chữ, ngắt hơi ở dấu phẩy bằng nửa quãng nghỉ hơi sau dấu chấm). Đọc đúng các ngữ
điệu câu: Lên giọng ở cuối câu hỏi, xuống giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho
phù hợp với tình cảm diễn đạt trong câu cảm, với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù
hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến khác nhau. Ngoài ra còn phải hạ giọng khi đọc
bộ phận giải thích của câu

Tiếng việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng việt, sự giàu đẹp của âm
thanh, sự phong phú của ngữ điệu. Trong việc biểu đạt nội dung thế nhưng hiện nay ở
4
trường tiểu học mặt âm thanh của ngôn ngữ, đặc biệt là ngữ điệu chưa được chú ý
đúng mức. Đó là một trong những ký do khiến cho học sinh của chúng ta đọc và nói
chưa lưu loát. Vì các em không hiểu đúng văn bản được đọc.
Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy học sinh biết làm chủ những yếu tố này.
Khi đọc các bài văn xuôi chỗ ngắt giọng phải trùng hợp với ranh giới ngữ
đoạn. Khi đọc một bài thơ, chỗ ngắt nhịp phải tương ứng với chỗ kết thúc một tiết
đoạn.
Vì vậy đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng nói riêng vừa là mục đích của
dạy đọc thành tiếng, vừa là phương tiện giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung bài đọc.
Mỗi bài đọc nhằm chỉ ra cơ sở ngữ nghĩa, ngữ pháp chỗ ngắt giọng dự tính những
chỗ học sinh hay ngắt giọng sai khi đọc, cũng là xác định những chỗ cần luyện ngắt
giọng trong bài tập đọc cụ thể. Từ đó dạy đọc đúng hiểu đúng các bài tập đọc ở Tiểu
học.
2.7. Rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh:
Muốn học sinh có năng lực có kỹ năng đọc hiểu tốt. Giáo viên phải có định
hướng, có kế hoạch sắp xếp thời gian tìm hiểu bài nhiều hơn, thời gian luyện đọc
thành tiếng mà phải coi trọng chất lượng đọc.
- Mỗi giờ lên lớp giáo viên xác định nội dung đọc hiểu cho các em. Tuỳ theo
khả năng nhận thức của từng vùng để dẫn dắt câu hỏi cho học sinh hiểu nghĩa của từ
“chìa khoá” “câu khoá” trong bài, tóm tắt được nội dung của đoạn, bài, phát hiện ra
những yếu tố và giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung. Có nhiều bài chỉ có
thể dạy “đọc nhớ”, khó dạy đọc hiểu, nội dung bài rời rạc không có chiều sâu, với
những bài tập đọc hiện hành ở lớp 2 tôi tạm chia làm 2 nhóm mức độ tương ứng với
2 nhóm dạy đọc hiểu:
+ Tiếp nhận văn bản văn chương
+ Hiểu những yếu tố văn chương
Để HS hiểu được các yếu tố văn chương cũng cần phải có cách lựa chọn phù hợp

đó là những từ dùng “đắt” tạo nên giá trị nghệ thuật của từ có tín hiệu nghệ thuật. Đó
là những từ giàu màu sắc biểu cảm như các từ láy, những từ đa nghĩa, những từ mang
nghĩa bóng, có sự chuyển nghĩa văn chương.
Tiếp đó cần hướng dẫn học sinh đến việc phát hiện ra những câu quan trọng
của bài. Những câu nêu ý nghĩa chung của bài.
IV-TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRONG GIỜ TẬP ĐỌC LỚP 2:
A. Kiểm tra bài cũ:
*Mục đích: Kiểm tra và củng cố việc đọc thành tiếng và đọc hiểu nội dung bài
đã học.
*Hình thức thực hiện:
- Kiểm tra đọc thành tiếng:
+ Yêu cầu học sinh đọc một đoạn hoặc cả bài đã học.
+ Yêu cầu thực hiện một bài tập đọc thành tiếng: Nhận xét giọng đọc, ngữ điệu
của đoạn vừa đọc.
- Kiểm tra đọc hiểu: Yêu cầu thực hiện một bài tập đọc hiểu về nội dung đoạn bài
vừa đọc.
*Thời gian kiểm tra tiến hành từ 3 - 5 phút. Số lượng kiểm tra có thể từ 2-3
học sinh.
B. Bài mới:
1- Giới thiệu thiệu bài: Có thể dùng tranh ảnh, đặt câu hỏi nêu vấn đề để gây
hứng thụ tạo nhu cầu đọc bài ở học sinh không nên nói hết nội dung bài trong phần
giới thiệu vì sẽ áp đặt nội dung trước cho học sinh trong khi lẽ ra nó là cái đích mà
học sinh cần khám phá ra được.
2- Luyện đọc:
a) Đọc mẫu:
*Yêu cầu: Đưa ra mẫu về đọc thành tiếng. Đây chính là cái đích, mẫu hình kỹ
năng đọc mà học sinh cần đạt được. Đồng thời giáo viên dùng giọng đọc mẫu cho
học sinh có một biểu tượng ban đầu về nội dung văn bản. Lúc này đọc mẫu lại là
phương tiện cho học sinh bước đầu làm quen với văn bản để chiếm lĩnh nội dung của
nó. Bước đọc mẫu rất quan trọng vì cách tiếp xúc trực tiếp ấn tượng đầu tiên rất quan

luyện đọc lại)
- Các nhóm thi đọc ( ĐT, CN, từng đoạn, cả bài). GV cần tạo điều kiện để
nhiều HS được tham gia đọc. Bố trí HS có trình độ tương đương thi với nhau. Có thể
tổ chức trò chơi luyện đọc ( đọc tiếp sức, truyền điện, theo vai, )
- Lớp lắng nghe và nhận xét.
b5/ Lớp đọc ĐT(1- 2 đoạn hoặc cả bài)( với những văn bản không đọc được
ĐT thì bỏ bước này)
3- Hướng dẫn tìm hiểu bài:
GV hướng dẫn HS đọc thành tiếng hoặc đọc thầm từng đoạn và tìm hiểu bài
dựa theo các câu hỏi trong SGK.
* Lưu ý:
- Khi Y/c HS đọc thành tiếng cần kết hợp y/c HS cả lớp cùng đọc thầm để theo
dõi.
- Trước khi y/c HS đọc thầm, cần giao nhiệm vụ (đặt câu hỏi) cho HS.
- GV có thể chẻ nhỏ các câu hỏi trong SGK, hoặc thêm câu hỏi dẫn dắt, gợi mở
giúp HS dễ trả lời hơn.
4- Luyện đọc lại / Học thuộc lòng (nếu SGK yêu cầu)
- Luyện đọc lại được thực hiện sau khi HS đã nắm được nội dung bài đọc.
- Hình thức tổ chức: Thi đọc ( giữa các cá nhân)
7
- Y/c của bước này: Luyện cho HS đọc trôi chảy, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, đúng
mức và bước đầu có ý thức đọc diễn cảm (đối với HS khá giỏi). Mặc dù chương trình
lớp 2 không đặt y/c dạy HS đọc diễn cảm nhưng GV vẫn cần HD HS đọc thể hiện
đúng ND bài ở bước này.
- Trình tự thực hiện:
+ GV đọc mẫu
+ GV lưu ý HS về giọng điệu của từng nhân vật hoặc của toàn bộ đoạn văn, bài
văn.
+ Tổ chức cho Hs thi đọc CN, đọc phân vai và uốn nắn cách đọc cho HS.
+ Lớp và GV nhận xét, bình chọn CN và nhóm đọc tốt, đọc hay.

ý chính của đoạn, khổ thơ, bài,
4. Tốc độ đọc cần đạt:
THỜI ĐIỂM GHKI CHKI GHKII CHKII
LỚP 2 Khoảng 35 tiếng /phút 40 tiếng/phút 45 tiếng/phút 50 tiếng/phút
LỚP 3 55 tiếng /phút 60 tiếng/phút 65 tiếng/phút 70 tiếng/phút
8
V - THC NGHIM:
1/ Mc ớch thc nghim:
Chỳng tụi t chc thc nghim bng cỏch a ra mt s ý kin xut ca
mỡnh mt bi hc c th v t chc dy Tiu hc nhm ỏnh giỏ tớnh kh thi ca
cỏc bin phỏp ó c xut trong lun vn.
2/ i tng a bn thi gian thc nghim:
Thc nghim vo tun 11, bi Cõy xoi ca ụng em. Lp 2A trng Tiu hc
Hong Hoa Thỏm
3/ Ni dung thc nghim:
- Son giỏo ỏn
- Tin hnh dy thc nghim
- Bi dy: Cõy xoi ca ụng em
- Phiu ỏnh giỏ tit dy (1 tit)
Do ban giỏm kho ỏnh giỏ (theo thang im 20/20)
4/ Kt qu thc nghim:
Sau khi kim tra kt qu hc tp ca hc sinh lp thc nghim v lp i
chng trờn chỳng tụi nhn thy:
+ lp i chng: Hot ng chớnh l giỏo viờn truyn th tri thc v a ra
mt h thng cỏc cõu hi yờu cu hc sinh a vo ng liu v kt qu phõn tớch ca
sỏch giỏo khoa tr li. Vỡ vy hc sinh tham gia hot ng hc tp mt cỏch th
ng, mỏy múc v ch tp trung vo nhúm hc sinh khỏ gii v rốn luyn k nng c
cho hc sinh cũn hn ch nờn hiu qu c cha cao
+ lp thc nghim: Mc hot ng tớch cc ca hc sinh trong gi hc
c biu hin khỏ rừ rng. Bng vic s dng cỏc phng phỏp v hỡnh thc t chc

Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
A - Kiểm tra bài cũ:
- Gọi 2 học sinh lên bảng đọc bài “Bà
cháu”
- Gọi lần lượt 3 học sinh lên đọc bài,.
trả lời câu hỏi.
- Lớp theo dõi nhận xét
- Đoạn 1, 2: Gọi 1 học sinh đọc - Học sinh 1 lên bảng đọc bài
- Hỏi: Sau khi bà mất cuộc sống của hai
anh em như thế nào?
- Sau khi bà mất, hai anh em sống
giàu sang và sung sướng
- Giáo viên nhận xét: - Học sinh khác nhận xét bạn
- Đoạn 3, 4 : gọi 1 học sinh đọc - Học sinh 2 đọc đoạn 3, 4
- Hỏi: Vì sao hai anh em đã trở nên giàu có
mà không thấy vui sướng?
- Vì thiếu vắng bà “Vàng bạc châu
báu không thay được tình thương ấm
áp của bà”
- Giáo viên nhận xét - Học sinh khác nhận xét bạn
Hỏi cả lớp: Câu chuyện khuyến chúng ta điều
gì?
- 1 HS trả lời: Tình cảm là thứ của cải
quý nhất
- Giáo viên nhận xét ghi điểm cho học sinh
B - Bài mới:
1/ Giới thiệu bài:
- Yêu cầu học sinh quan sát trong SGK - Học sinh quan sát tranh
Hỏi : Bức tranh vẽ gì? - Vẽ cây xoài và hai mẹ con bạn nhỏ.
- Giáo viên giới thiệu: Xoài là một loại hoa quả rất thơm và ngon. Nhưng mỗi cây

đọc và phát âm từ khó rất tốt. Bây giờ ta
chuyển sang phần luyện đọc đoạn.
b/ Đọc từng đoạn trước lớp:
- Bài này được chia làm 3 đoạn:
- Đoạn 1: từ đầu đến bày lên bàn thờ ông
- Đoạn 2: từ Xoài thanh ca đến màu sắc
đẹp, quả lại to.
- Đoạn 3: là phần còn lại
* Đọc lượt 1:
+ Giáo viên giới thiệu các câu cần luyện
đọc (đã chép sẵn trên bảng phụ) yêu cầu
học sinh tìm cách đọc.
- HS1:Tìm cách đọc và luyện đọc các
câu:
Mùa xoài nào / mẹ em cũng chọn
những quả chín vàng / và to nhất bày
lên bàn thờ ông //
- HS3: Ăn quả xoài cát chín trảy từ
cây quả ông em trồng, kèm với xôi
nếp hương / thì đối với em / không
thứ quà gì ngon bằng //
- Gọi 1 học sinh đọc các từ chú giải trong
SGK
- 1 HS đọc, lớp đọc thầm theo
* Đọc lượt 2: Bây giờ các em hãy chú ý để
nghe bạn đọc tiếp
- 3HS khác nối tiếp nhau đọc 3 đoạn
của bài. Lớp lắng nghe để nhận xét
cách đọc của bạn.
- HS 1: Em hãy đọc lại câu đầu của đoạn

mịn và ít xơ. Khi chín vỏ màu vàng nhạt, thịt quả màu vàng tươi
- HS3: Bạn nhỏ thích ăn xoài cát kèm với
gì nhỉ?
- Xôi nếp hương
GV giải thích:
+ Xôi nếp hương: Xôi nấu từ 1 loại gạo nếp
hương, có mùi rất thơm.
* Đọc lượt 4: - 3 HS đọc lượt 4
c/ Đọc từng đoạn trong nhóm:
- Yêu cầu HS đọc theo cặp. Nói tiếp nhau
đọc 2 lượt bài
- Giáo viên theo dõi các nhóm đọc.
- HS luyện đọc theo cặp
d/ Thi đọc giữa các nhóm: cho các nhóm
thi đọc cá nhân, thi đọc nối tiếp.
- GV nhận xét chung
- Các nhóm cử cá nhân thi đọc cá nhân
đoạn 1 ( 2 lượt HS thi)
- Lớp nhận xét – bình chọn bạn đọc
đúng, đọc hay nhất
e/ Cả lớp đọc đồng thanh: - Lớp đọc đồng thanh cả bài
Qua phần luyện đọc cô thấy lớp ta bạn nào cũng đọc rất tốt. Biết ngắt nghỉ đúng chỗ.
Để biết loại xoài này có đặc điểm gì, tình cảm thương yêu, lòng biết ơn của hai mẹ
con bạn nhỏ đối với người ông đã mất như thế nào, ta chuyển sang phần tìm hiểu
bài.
3/ Hướng dẫn tìm hiểu bài:
- Học sinh đọc thầm đoạn 1 - 1 học sinh đọc, lớp đọc thầm theo
Hỏi: Cây xoài ông trồng thuộc loại xoài
gì?
- Xoài cát

4/ Luyện đọc lại:
- GV đọc mẫu lần 2
- Lưu ý HS: Bài này các em cần đọc với
giọng nhẹ nhàng, chậm dãi và tình cảm
- Giáo viên nhận xét ghi điểm
- 2 HS thi đọc đoạn 2 ( 1 lượt )
- 2 HS thi đọc cá nhân đoạn 2 và 3
(1lượt )
- Lớp nhận xét, bình chọn bạn đọc
hay.
5/ Củng cố dặn dò:
H: Bài văn nói lên điều gì? - Tình cảm thương nhớ của hai mẹ con
đối với người ông đã mất
H: Qua bài văn này con học tập được điều
gì?
- Phải luôn nhớ và biết ơn những
người đã mang lại cho mình những
điều tốt lành.
- Nhận xét tiết học - Lắng nghe
- Dặn dò VN: Đọc lại bài, xem trước bài:
Sự tích cây vú sữa
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status