i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ VĂN ĐỊNH
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VI SINH VẬT NỘI SINH ĐỂ TĂNG
CƯỜNG TÍNH KÍCH KHÁNG ĐỐI VỚI BỆNH KHÔ CÀNH NGỌN
KEO TAI TƯỢNG TẠI MỘT SỐ VÙNG SINH THÁI CHÍNH Ở
MIỀN BẮC VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ VĂN ĐỊNH
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VI SINH VẬT NỘI SINH ĐỂ TĂNG
CƯỜNG TÍNH KÍCH KHÁNG ĐỐI VỚI BỆNH KHÔ CÀNH NGỌN
KEO TAI TƯỢNG TẠI MỘT SỐ VÙNG SINH THÁI CHÍNH Ở
MIỀN BẮC VIỆT NAM
Chuyên ngành đào tạo
:
Quản lý Bảo vệ Tài nguyên rừng
Mã số
:
62 62 02 11
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
:
PGS. TS. PHẠM QUANG THU
HÀ NỘI - NĂM 2014
ii
i
LỜI CAM ĐOAN
số liệu tại hiện trường.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các đồng nghiệp thuộc Trung tâm Nghiên cứu
Bảo vệ rừng đã tham gia, hỗ trợ trong việc thực hiện một số thí nghiệm và đã có
những ý kiến đóng góp quý báu giúp tác giả hoàn thành tốt luận án tiến sĩ.
Tác giả xin chân trọng cảm ơn tất cả những người thân bên nội, bên ngoại,
bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, kinh phí giúp tác giả
hoàn thành luận án này.
ii
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU iv
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vii
Chương 1 6
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 6
1. 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.1. Nghiên cứu về Keo tai tượng 6
1.1.2. Nghiên cứu về bệnh hại keo 9
1.2.1 . Nghiên cứu về Keo tai tượng 16
1.2.2. Nghiên cứu về bệnh hại keo 18
1.2.4. Nghiên cứu nh kích kháng bệnh của cây trồng 25
1.3. Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu 28
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 32
2.3. Phương pháp nghiên cứu 34
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 54
KIẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN 110
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 110
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU
Mật độ
NIAST
Viện Khoa học công nghệ nông nghiệp Hàn quốc
NIRA
Viện nghiên cứu Nông nghiệp Pháp
P% Tỷ lệ bị bệnh
PCR Polymerase Chain Reaction
PDA Potato Dextrose Agar
PNG Papua New Guinea
PT Phú Thọ
RAPD Ramdom Amplified Polymorphism DNA
R Cấp bị bệnh
R % Mức độ bị bệnh
RNA
Ribonucleic acid
Sd Sai tiêu chuẩn
TCLN Tổng cục Lâm nghiệp
TB Trung bình
iv
TQ Tuyên Quang
V% Hệ số biến động %
VK Vi khuẩn
VKNS Vi khuẩn nội sinh
VSV Vi sinh vật
VSVNS Vi sinh vật nội sinh
- Không có hiệu lực
+ Hiệu lực kháng yếu
++ Hiệu lực kháng trung bình
+++ Hiệu lực kháng mạnh
++++ Hiệu lực kháng rất mạnh
1.1.2. Nghiên cứu về bệnh hại keo 9
1.2.1 . Nghiên cứu về Keo tai tượng 16
1.2.2. Nghiên cứu về bệnh hại keo 18
1.2.4. Nghiên cứu nh kích kháng bệnh của cây trồng 25
1.3. Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu 28
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 32
2.3. Phương pháp nghiên cứu 34
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 54
KIẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN 110
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 110
vii
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của luận án
Keo tai tượng (Acacia mangium Willd.) là loài cây sinh trưởng nhanh, chu
kỳ kinh doanh ngắn, gỗ được dùng làm đồ nội thất, vật liệu xây dựng, nguyên liệu
giấy ngoài ra, Keo tai tượng là loài cây có khả năng tổng hợp nitơ tự do trong khí
quyển rất cao. Keo tai tượng có khả năng thích ứng với nhiều vùng sinh thái, đây là
loài cây cải tạo đất, tăng độ phì, độ xốp và các tính chất lý, hóa khác của đất (Lê
Đình Khả et al., 2003)[8]. Keo tai tượng đã được gây trồng rộng rãi trên khắp cả
nước ở quy mô rừng trồng tập trung và trồng cây phân tán. Theo thống kê đến 31
tháng 12 năm 2012, diện tích rừng trồng cả nước ta là 3.438.200 ha (Quyết định số
1739/QĐ-BNN-TCLN ngày 31/7/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn[18], diện tích rừng trồng các loài keo chiếm tỷ lệ lớn 990.018 ha trong đó Keo
tai tượng chiếm tỷ lệ nhiều nhất 590.977 ha (thống kê tổng diện tích rừng trồng theo
từng loài cây của 42 tỉnh tính đến 31/12/2011). Trước sự gia tăng nhanh về diện
tích, các rừng trồng keo đã xuất hiện nhiều loại bệnh hại gây khó khăn không nhỏ ở
một số địa phương trong cả nước trong đó Keo tai tượng bị bệnh nặng nhất. Ở miền
mối quan hệ giữa thực vật và vi sinh vật nội sinh còn ít, vai trò của vi sinh vật nội
sinh đối với cây chủ còn chưa được sáng tỏ. Vi sinh vật nội sinh có khả năng kiểm
soát và ngăn cản quá trình xâm nhiễm của mầm bệnh trên thực vật (Sturz và
Matheson, 1996)[104]; (Duijff et al., 1997)[52], ở côn trùng (Azevedo et al., 2000)
[41] và cả ở tuyến trùng (Hallmann et al., 1997, 1998)[61][62]. Trong một số
trường hợp chúng có thể đẩy mạnh tốc độ nẩy mầm của hạt, thúc đẩy sự hình thành
cây con trong điều kiện bất lợi và nâng cao khả năng tăng trưởng của thực vật thiết
lập mối quan hệ hai bên cùng có lợi (Bent và Chanway, 1998)[43]. Vi sinh vật nội
sinh thúc đẩy quá trình sinh trưởng của cây chủ vì đã tạo ra một hàng rào kiểm soát
sinh học bằng cách tiêu diệt trực tiếp các mầm bệnh đã xâm nhiễm vào cây chủ.
Để góp phần quản lý dịch bệnh hại Keo tai tượng có hiệu quả không gây ô
nhiễm môi trường, tác giả đã tiến hành nghiên cứu về vi khuẩn nội sinh trên Keo tai
2
tượng ở các cấp bệnh hại khác nhau, từ đó làm sáng tỏ vai trò của vi khuẩn nội sinh
trong việc bảo vệ cây chủ. Ngoài ra vi khuẩn nội sinh giúp cây tăng cường khả năng
sinh trưởng.
Xuất phát từ những lý do trên, luận án “Nghiên cứu ứng dụng vi sinh vật nội
sinh để tăng cường tính kích kháng đối với bệnh khô cành ngọn Keo tai tượng tại
một số vùng sinh thái chính ở miền Bắc Việt Nam” đặt ra là rất cần thiết, có ý nghĩa
cả về lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu của luận án
2.1. Mục tiêu tổng quát
Xác định được cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc kích kháng bệnh khô
cành ngọn Keo tai tượng bằng vi khuẩn nội sinh.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được nguyên nhân gây bệnh, đặc điểm sinh học của nấm gây bệnh
khô cành ngọn Keo tai tượng.
- Làm sáng tỏ vai trò của vi khuẩn nội sinh có khả năng sinh hoóc môn sinh
trưởng (IAA), phân giải lân và đối kháng với nấm gây bệnh khô cành ngọn Keo tai
tượng.
trường sinh thái.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Xác định được nguyên nhân gây bệnh khô cành ngọn Keo tai tượng do nấm
Colletotrichum gloeosporioides Strain và biện pháp phòng trừ.
- Tuyển chọn được 4 chủng vi khuẩn nội sinh (P01, KPT, LC, X02) đa chức
năng có khả năng kháng bệnh, phân giải lân và tổng hợp hoóc môn sinh trưởng để
làm cơ sở cho việc tạo chế phẩm vi khuẩn nội sinh để tăng sinh trưởng, tăng cường
khả năng kích kháng bệnh khô cành ngọn Keo tai tượng.
6. Cấu trúc của luận án
Luận án bao gồm 110 trang, trong đó bao gồm các phần sau:
4
- Phần mở đầu: Sự cần thiết của luận án, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, ý
nghĩa khoa học và thực tiễn, những đóng góp mới của luận án và cấu trúc luận án.
- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu về Keo tai tượng, nghiên cứu về
bệnh hại keo, nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh hại keo, nghiên cứu về tính kích
kháng bệnh của cây trồng, nghiên cứu về vi sinh vật nội sinh, điều kiện tự nhiên khu
vực nghiên cứu.
- Chương 2: Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả về nghiên cứu bệnh khô cành ngọn Keo tai tượng, vi
khuẩn nội sinh và khả năng kích kháng nấm gây bệnh, nghiên cứu sản xuất chế
phẩm vi khuẩn nội sinh, nghiên cứu ứng dụng chế phẩm vi khuẩn nội sinh để kích
kháng bệnh khô cành ngọn Keo tai tượng.
- Kết luận, tồn tại và kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Danh mục các công trình khoa học đã công bố liên quan đến luận án
- Phần phụ lục
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1. 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
8USD/m
3
, còn giá gỗ rừng trồng từ những nguồn giống đã được cải thiện là
18USD/m
3
[90].
Từ những năm 1980, các lô hạt giống thu hái ở vùng nguyên sản đã được gửi
tới 90 nước trên thế giới, trong đó có Philippin, Malaixia, Thái Lan, Indonesia, Ấn
Độ, Bănglađet, Fiji, Trung Quốc và Việt Nam. Keo tai tượng có sức sinh trưởng
nhanh, trên điều kiện lập địa ở Sabah - Malaixia sau 10 - 13 năm cây đạt chiều cao
20 - 25m và đường kính 20 - 30cm, tăng trưởng bình quân ở đây là 44m
3
/ha/năm và
cũng ở Sabah trong một khảo nghiệm ở tuổi 4, xuất xứ tốt nhất đạt chiều cao
20,17m và đường kính 14,4cm. Ở một số nước trên thế giới việc trồng Keo tai
tượng làm nguyên liệu công nghiệp với quy mô lớn đã được thực hiện từ rất sớm và
công tác cải thiện giống cũng được chú trọng ngay từ đầu. Các nghiên cứu thường
tập trung vào việc tìm ra những xuất xứ, dòng có năng suất và chất lượng tốt. Điển
hình như ở Công Gô, diện tích rừng trồng keo bằng cây hom từ năm 1978 đến năm
1986 là 23.407ha với tăng trưởng bình quân ở tuổi 6 của các dòng vô tính được
chọn là 35m
3
/ha/năm so với 12m
3
/ha/năm ở các lô hạt đại trà. Các dự án nghiên cứu
của CSIRO vào những năm 1980 tại các nước Đông Nam Á, Ôxtrâylia và Fiji đã cơ
bản xác định được các xuất xứ có triển vọng cho các nước tham gia như các xuất xứ
PNG được đánh giá là phù hợp với điều kiện lập địa của Trung Quốc, Đài Loan
(Harwood và William,1991)[63], (Racz và Zakaria, 1986)[93], (Wu, S.C và Wang,
1988)[114].
nghiên cứu ở Trung Quốc đã được tiến hành khá đầy đủ như cây hấp thụ 153,8kg
nitơ/ha và kỹ thuật trồng rừng thâm canh đã được chấp nhận thay cho phương pháp
quảng canh vốn có. Nghiên cứu ở Malaixia cho thấy độ sâu đất và địa hình có ảnh
hưởng rất rõ đến sinh trưởng của cây, khi trồng Keo tai tượng ở đất phù sa dưới
chân đồi cho năng suất gỗ gần gấp đôi ở đỉnh đồi mặc dù hai nơi chỉ cách nhau
khoảng 100m. Ở Malaysia, song song với công tác cải thiện giống, các biện pháp kỹ
thuật lâm sinh cũng đã được thử nghiệm nhằm chuyển hoá rừng trồng cung cấp
8
nguyên liệu dăm và bột giấy có giá trị kinh tế thấp thành rừng trồng cung cấp gỗ xẻ
với biện pháp tỉa cành và tỉa thưa, nhằm làm tăng chiều cao dưới cành (Hdc > 9m)
của Keo tai tượng (Racz và Zakaria, 1986)[94].
Từ năm 1989 ở Nam Phi đã có những nghiên cứu về sinh trưởng của dòng vô
tính của Keo tai tượng. Kết quả cho thấy rừng trồng bằng cây con từ hạt năng suất
bình quân đạt 21,9m
3
/ha/năm, trong khi các dòng vô tính trồng đại trà đạt trên 30
m
3
/ha/năm. Nhân giống vô tính Keo tai tượng đã được một số tác giả nghiên cứu.
Các cây mẹ trẻ tuổi của Keo tai tượng có thể sử dụng công nghệ đơn giản, có thể
tiến hành giâm hom quanh năm tuy nhiên giá thành cây hom cao hơn cây hạt.
(Wong, C.Y. và Haines, R.J, 1991)[113].
Tóm lại: Các công trình nghiên cứu về khảo nghiệm xuất xứ và kỹ thuật gây
trồng một số loài keo là khá đầy đủ và chi tiết, các tác giả đã chọn ra được những
dòng, xuất xứ Keo tai tượng có triển vọng để phục vụ công tác chọn giống trồng
rừng. Những nghiên cứu về nhân giống, nghiên cứu về gỗ keo cũng được đề cập
đây là những thông tin quan trọng và có ý nghĩa để phục công tác nghiên cứu khoa
học.
1.1.2. Nghiên cứu về bệnh hại keo
Roger L. (1954)[97] đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây keo. Keo tai
Bệnh hại keo trên thế giới đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu vì keo là cây trồng rừng chủ lực của nhiều quốc gia. Bệnh khô cành ngọn
đang là những nỗi lo của nhiều nước trên thế giới vì chúng gây thiệt hại lớn về
mặt kinh tế, giảm chất lượng gỗ của rừng trồng. Cho đến nay các nhà nghiên cứu
về bệnh cây trên thế giới vẫn luôn quan tâm đến biện pháp quản lý có hiệu quả
một số bệnh nguy hiểm trong đó có bệnh khô cành ngọn Keo tai tượng.
1.1.3. Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh hại keo
Bệnh khô cành ngọn do nấm Colletotrichum sp nên sử dụng thuốc hóa học
chlorothalonil (Barnard và Schroeder, 1984)[42]. Bệnh chết héo keo do nấm
Phomopsis sử dụng thuốc hóa học mancozeb và carbendazim theo (Kobayashi và
10
Guzman, 1988)[71]. Theo Sharma và cs. (1985)[99] biện pháp phòng trừ tốt nhất là
chọn các giống keo có khả năng kháng bệnh.
Phòng trừ bệnh gỉ sắt ở keo có thể xử lý bằng thuốc hóa học bitertanol,
oxycarboxin đối với cây ở vườn ươm hoặc khu vực bị bệnh ít song với rừng trồng
thì khó giải quyết khi diện tích lớn, mầm bệnh dễ phát tán. Biện pháp quản lý bệnh
bằng cách loại bỏ những bộ phận bị bệnh ra khỏi rừng trồng và tiêu hủy, tránh phát
dịch trên quy mô lớn hơn. Chọn lọc những giống kháng bệnh, chọn lập địa phù hợp
để hạn chế được nấm bệnh cũng là giải pháp đang được quan tâm nghiên cứu (Old
et al.,1999)[87].
Theo Josiah và Allen-Reid (1991)[68] bệnh phấn trắng dễ phát sinh khi gặp
điều kiện ẩm ướt, thiếu ánh sáng vì vậy nên bố trí vườn ươm ở những nơi thoáng
gió, có đủ ánh sáng. Phòng trừ bệnh phấn trắng đối với cây trong giai đoạn vườn
ươm có thể dùng thuốc hóa học như: benomyl, chlorothalonil, triademefon, maneb
và zineb.
Bệnh phấn hồng theo Lim, T.K. và Khoo, K.C (1985)[75] nên dùng thuốc
boóc đô theo tỷ lệ (CuSO4:CaO:H
2
O = 1:2:10).
Bệnh rỗng ruột ở Keo tai tượng và các loài keo nói chung nguyên nhân do
Bacillus khác đã hạn chế được bệnh HXVK ở cà chua (Murakoshi R. et al.,1984)
[84], (Chae Gun Phae et al.,1992)[46].
Ở Mỹ, một số chủng Pseudomonas fluorescens và Bacillus để phòng trừ
bệnh HXVK ở cà chua và khoai tây có hiệu quả, giảm tỷ lệ bị bệnh từ 30-32%
(J.M.Enfinger, 1983)[67]; (Kloepper et al., 1980)[70].
Ở Pháp, theo Lapa, S.V. (2005)[73] cũng đã sử dụng Bacillus subtilis phòng
trừ nấm gây hại cây cà chua, lạc và vừng. Viện NIAST của Hàn Quốc có chế phẩm
sinh học rất tốt với tên thương phẩm là EXTN-1 có nguồn gốc vi khuẩn Bacillus
vallismortis có tác dụng trừ một số bệnh hại nguy hiểm ở trên 20 loại nhóm cây
trồng điển hình như hồ tiêu, cà chua, dưa chuột, khoai tây Chế phẩm EXTN-1 có
phổ tác dụng phòng trừ bệnh rộng đối với các bệnh virus, vi khuẩn, nấm, an toàn
với môi trường và cộng đồng.
Kích thích tính kháng hệ thống (Induced systemic reistance) gọi tắt là kích
kháng đã được nghiên cứu và áp dụng thành công những năm gần đây trên thế giới.
Các tác nhân được sử dụng để kích kháng có thể gồm: Từ nguồn vi sinh vật (VSV),
nước chiết từ môi trường nuôi cấy vi khuẩn; hoặc từ các vi khuẩn cộng sinh hệ rễ
12
(Rhizobacteria) có khả năng kích kháng… một số loại hoá chất không độc hại đến
môi trường như: Axit Salicylic, Bo, clorua đồng, oxalic axit và natri silicate, axit
phốt phoric chất ly trích từ thực vật gồm các cây Sống đời (Kalanchoe
blossfeldiana), cây cỏ (Ageratum comyzoides L.), Cóc kèn nước (Derris triifolia
Lour.) các chất tinh dầu của cây thảo dược như tinh dầu cây Bạc lý hương, cây
Bạc hà, cây Húng tây đã có khả năng kích kháng đối với bệnh do nấm Fusarium
sp. trên cà chua, khoai tây, ớt…(Kyungseok, 2007)[72].
1.1.5. Nghiên cứu về vi sinh vật nội sinh
Một số khái niệm về vi sinh vật nội sinh: Vi sinh vật nội sinh là những vi
sinh vật cư trú trong nội mô của thực vật, chúng không có biểu hiện ra bên ngoài và
không gây tác động xấu đến thực vật mà chúng ký sinh (Holiday,1989)[64]; (Schulz
và Boyle, 2006)[98] (Chanway C.P,1996)[47].
Theo Willson (1993)[106] VSV nội sinh là VSV tiền nhân sống trong mô
đơn vị này được xác định thông qua trình tự gen 16S rRNA, acid béo và sử dụng
nguồn phân tích carbon (Elvira-Recuenco và Van Vuurde, 2000)[54]; (Zinniel et
al., 2002)[115]; (Frank et al., 2006)[56].
Cây nghệ được nghiên cứu là một trong những cây chủ ưa thích cho vi khuẩn
nội sinh sinh trưởng và phát triển. Các bước tiến hành thí nghiệm bao gồm ly trích,
phân lập, nuôi cấy và nhận diện vi khuẩn nội sinh bằng kỹ thuật nhân bản ADN với
đoạn mồi 16S rRNA. Kết quả chỉ ra rằng một số nhóm mới xuất hiện góp phần vào
tính đa dạng của VK nội sinh, chủ yếu là Gammaproteobacteria và Firmicutes,
chúng sống nội sinh trên cây Nghệ. Sự đa dạng của các nhóm VK nội sinh do sự đa
dạng của gen 16S rRNA, có ba nhóm VK được tìm thấy trong môi trường nuôi cấy.
Nhóm nổi bật tìm thấy trong môi trường nuôi cấy là nhóm Gram dương, có tỷ lệ
G+C thấp, trong khi ở các Gammaproteobacteria chiếm ưu thế (Reiter và Sessitsch,
2006)[95].
Jinwi Kim (2000)[66] tách chất ức chế β-lactamase từ vi sinh vật sống trong
mô thực vật. Tác giả đã phân lập và tuyển chọn vi sinh vật từ 25 loài thực vật khác
nhau và phân lập được 600 chủng vi sinh vật và xác định được 10 chủng có hiệu lực
14
cao (KJ3, Z3, PQ, RV2, HL2, CL21, PG5, GB5, GB18, AS3, S21) có khả năng
chống lại hoạt động của nấm Candida albicans, trong đó lựa chọn được 2 chủng
VSV nội sinh Z3, RV2 có khả năng sinh ra chất kháng sinh β-lactamase. Chủng
VSV nội sinh Z3 được lựa chọn để sản xuất với quy mô lớn. Ngoài ra, tác giả đã
phân lập và tuyển chọn một số loài VSV nội sinh sống trong mô của cây cỏ có khả
năng sản sinh ra chất kháng sinh L- sparaginase. Tác giả đã phân lập được 657
chủng VSV nội sinh từ những cây thân thảo để sản xuất ra L-sparaginase, trong đó
tác giả tìm được 220 chủng VK nội sinh có hiệu lực mạnh để thử nghiệm. Nhóm vi
sinh vật CMU - HB - 63, tạo ra chất kháng sinh lớn nhất trong môi trường CMC
0.6% (w/v), KH
2
PO
4
số biện pháp phòng trừ đã được áp dụng như biện pháp hóa học, sinh học, lâm
15
sinh… nhưng phòng trừ bệnh bằng biện pháp sinh học đang có nhiều lợi thế vì ít
tốn kém và không gây ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng vi sinh vật để phòng trừ
bệnh cây trên thế giới đã được nghiên cứu và áp dụng trong sản xuất đạt hiệu quả
cao. Các nhà khoa học đã tìm thấy một số chủng VSV nội sinh có hoạt tính sinh học
cao, tạo ra chất kháng quan trọng để ngăn chặn sự xâm nhập của sinh vật gây bệnh
đối với cây chủ, trong đó có cây lâm nghiệp. Việc nghiên cứu tăng cường tính
kháng bệnh bằng VSV nội sinh là một hướng đi đúng đắn và mang tính bền vững.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.2.1 . Nghiên cứu về Keo tai tượng
Keo tai tượng còn có tên khác là Keo lá to, Keo mỡ. Keo tai tượng là loài cây
sinh trưởng nhanh, thuộc nhóm loài cây gỗ lớn, có chiều cao đạt tới 30m. Với trục
thân thẳng tới trên ½ chiều cao cây. Keo tai tượng là loài cây tái sinh nhanh ở rừng
nhiệt đới. Lúc còn nhỏ lá kép lông chim 2 lần, cuống thường bẹt, lá giả rất rộng bản,
rộng tới 5 - 10cm và dài tới 25cm, lá có màu lục sẫm.
Hoa hình chùm dài khoảng 10cm, mọc thành từng đôi từ nách lá, cụm hoa
gồm nhiều hoa nhỏ màu trắng hoặc màu kem. Hoa tự gần bông dài gần bằng lá,
mọc lẻ tập trung 2-4 hoa tự ở nách lá. Hoa lưỡng tính, tràng hoa màu vàng, nhị
nhiều vươn dài ra ngoài hoa. Sau khi thụ phấn hoa trở thành quả màu xanh lá cây
lúc chín có màu đen. Lúc đầu thì thẳng, sau quả xoăn lại bện vào nhau thành những
bó không đều. Quả đậu, dẹt và mỏng lúc non thẳng, khi già cong, cuộn xoắn lại. Hạt
dẹt hình dạng thay đổi từ dài đến ô van hay hình elíp kích thước 3-5 x 2-3mm, nằm
ngang trong vỏ quả. Khi chín màu đen bóng hạt có vỏ dày, cứng, có dính dải màu
đỏ. Mỗi kg hạt có từ 52.000 – 95.000 hạt. Vỏ quả chín nứt ra theo mép, hạt cứng có
màu đen vẫn treo bởi rốn hạt màu vàng (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003)[15]; (Lê Đình
Khả et al., 2003)[8].
Keo tai tượng có hình dáng thân tròn, thẳng nên gỗ Keo tai tượng được dùng
rộng rãi trên thị trường để đóng đồ gia dụng cung cấp nguyên liệu cho nghành sản
xuất ván dăm, ván bóc và đặc biệt là làm nguyên liệu giấy. Keo tai tượng có hiệu