Câu 1: Điều 2 Hiến Pháp 1992 xác định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.Tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp cấp
công nhân với gia cấp nông dân và tầng lớp trí thức
(sửa đổi bổ sung tại Nghị quyết của Quốc hội số 51/2001/QH 10 ngày 25
tháng 12 năm 2001) thay tầng lớp trí thức = đội ngũ trí thức và bổ sung
Câu 2: Quốc hội là gì?Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn .
Câu 3. Chính phủ là gì ?Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn .
Câu 4: Văn bản vi phạm pháp luật và phạm vi ban hành văn bản vi phạm
pháp luật của HĐND, UBND.
Câu 5: Trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành QĐ, chỉ thị của UBND cấp
huyện.
Câu 6: Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp
Câu 7: So sánh nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp: Tỉnh, huyện, xã
Câu 8: : So sánh nhiệm vụ, quyền hạn của UBND các cấp: Tỉnh, huyện, xã
BÀI SOẠN
Câu 1: Điều 2 Hiến Pháp 1992 xác định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.Tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp cấp
công nhân với gia cấp nông dân và tầng lớp trí thức
(sửa đổi bổ sung tại Nghị quyết của Quốc hội số 51/2001/QH 10 ngày 25
tháng 12 năm 2001) thay tầng lớp trí thức = đội ngũ trí thức và bổ sung
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
Thể hiện trên 5 nội dung :
* Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Sau Cách mạng Tháng 8 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra đời. Đó là Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, là Nhà nước
kiểu mới, về bản chất khác hẳn với các kiểu Nhà nước trong lịch sử. Bản chất bao
trùm chi phối mọi lĩnh vực tổ chức và hoạt động của đời sống nhà nước là tính
nhân dân của Nhà nước. Điều 2 Hiến pháp năm 1992 xác định “ Nhà nước Cộng
* Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt
động trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa Nhà nước và
công dân .
Trước đây, trong các kiểu Nhà nước cũ, quan hệ giữa nhà nước và công dân
là mối quan hệ lệ thuộc người dân bị lệ thuộc vào Nhà nước.
Ngày nay, khi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, thì quan hệ giữa nhà
nước và công dân đã thay đổi, công dân có quyền tự do dân chủ trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội, đồng thời phải làm tròn nghĩa vụ trước Nhà nước. Pháp
luật bảo đảm thực hiện trách nhiệm hai chiều giữa Nhà nước và công dân: quyền
của công dân là nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, nghĩa vụ của công dân là
quyền của Nhà nước.
* Tính chất dân chủ rộng rãi của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam .
Dân chủ hóa đời sống Nhà nước và xã hội không chỉ là nhu cầu bức thiết của
thời đại, mà còn là một đòi hỏi có tính nguyên tắc nảy sinh từ bản chất dân chủ của
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thực chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là thu hút những người lao động
tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi vào quản lý công việc của Nhà
nước và của xã hội. Vì vậy, quá trình xây dựng nhà nước phải là quá trình dân chủ
hóa tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, đồng thời phải cụ thể hóa tư
tưởng dân chủ thành các quyền cua công dân, quyền dân sự, chính trị cũng như
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Phát huy được quyền dân chủ của nhân dân ngày
càng rộng rãi là nguồn sức mạnh vô hạn của Nhà nước .
Những đặc điểm mang tính chất nêu trên của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam được thể hiện cụ thể trong các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
và được pháp luật chế định một cách chặt chẽ.
Tóm lại, Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân từ pháp luật, cơ chế,
chính sách đến tổ chức hoạt động của mình. Đồng thời, Nhà nước đó cũng mang
tính dân tộc tính nhân dân sâu sắc. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân .
8. Quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ của Chính
phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt .
9. Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính
phủ, Thủ tướng chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm soát nhân dân tối
cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội.
10.Quyết định đại xá.
11.Quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp
ngoại giao và những hàm, cấp Nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương
và danh hiệu vinh dự Nhà nước .
12. Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn
cấp, các biện pháp đặc biệt khắc bảo đảm Quốc phòng và an ninh quốc gia
13.Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các
điều ước quốc tế đã ký kết hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước.
14. Quyết định việc trưng cầu dân ý .
Câu 3. Chính phủ là gì ?Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn .
Điều 109:Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính
Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam .
Chinh phủ thống nhất việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại của Nhà nước, bảo đảm hiệu lực của
bộ máy Nhà nước từ TW đến cơ sở; bảo đảm, việc tôn trọng và chấp hành Hiếp
pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của
nhân dân .
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc
hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Điều 112: Chính phủ có 11 nhiệm vụ và quyền hạn sau đây :
1.Lãnh đạo công tác của Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc
Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện tòan hệ thống nhất bộ máy
hành chính Nhà nước từ TW đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra; tạo điều kiện để Hội
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt
động .
Câu 4: Văn bản vi phạm pháp luật và phạm vi ban hành văn bản vi phạm
pháp luật của HĐND, UBND.
Điều 1. Văn bản quy pháp pháp luật của HĐND, UBND.
1.Văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND là văn bản do HĐND,
UBND ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do luật này quy định, trong đó
có nguyên tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước
bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo định
hướng xã hội chủ nghĩa .
2. Văn bản quy phạm pháp luật của HĐND được ban hành dưới hình thức
nghị quyết. Văn bản quy phạm pháp luật của BND được ban hành dưới hành thức
quyết định, chỉ thị .
Điều 2 : Phạm vị ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND,
UBND .
1.Hội đồng nhân dân ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong những
trường hợp sau đây :
a/ Quyết định những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi
hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên .
b/Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an
ninh địa phương .
c/Quyết định biện pháp nhằm ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân,
hòan thành nhiệm vụ cấp trên giao cho .
d/Quyết định phạm vị, thẩm quyền được giao những chủ trương, biện pháp
có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa
phưưong nhằm phát huy tiềm năng của địa phương, nhưng không trái với các văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên .
đ/Văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên giao cho HĐND quy định một vấn
đề cụ thể .
2. UBND ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nhữung trường hợp
thị.
+ Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo quyết định, chỉ thị
với hệ thống pháp luật .
+ Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản
Cơ quan tư pháp có thể đưa ra ý kiến về tính khả thi của dự thảo quyết định,
chỉ thị .
2. Chậm nhất là 7 ngày trước ngày UBND họp, cơ quan tư pháp gởi báo cáo
thẩm quyền đến cơ quan soạn thảo .
Điều 43.Hò sơ dự thảo quyết định, chỉ thị trình UBND cấp huyện .
1.Cơ quan soạn thảo gởi hồ sơ soạn thảo quyết định, chỉ thị đến UBND
chậm nhất là 5 ngày trước ngày UBND họp .
2.Chủ tịch UBND chỉ đạo việc chuẩn bị hồ sơ dự thảo QĐ, chỉ thị để chuyển
đến các thành viên UBND chậm nhất là 3 ngày trước ngày UBND họp. Hồ sơ dự
thảo QĐ, chỉ thị bao gồm : + Tờ trình và dự thảo quyết định, chỉ thị.
+ Báo cáo thẩm định
+ Bản tổng hợp ý kiến về dự thảo quyết định, chỉ thị
+ Các tài liệu có lien quan
Điều 44. Trình tự xem xét thông qua dự thảo QĐ, chỉ thị của UBND cấp
huyện.
1.Việc xem xét, thông qua dự thảo QĐ, chỉ thị tại phiên họp UBND được
tiến hành theo trình tự sau :
+ Đại diện cơ quan soạn thảo trình bày dự thảo QĐ, chỉ thị.
+ Đại diện cơ quan tư pháp trình bày báo cáo thẩm định.
+ UBND thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo QĐ, chỉ thị
2. Dự thảo QĐ, chỉ thị được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên
UBND biểu quyết tán thành .
3.Chủ tịch UBND thay mặt UBND ký ban hành quyết định, chỉ thị.
CÔNG TÁC CÁN BỘ TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Vũ Khoan
Nguyên Bí thư Trung ương Đảng
đổi mới”, “có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức, kỷ luật cao” thì cũng
cần định tính rõ ràng, cụ thể hoá ở mức tối đa đối với từng loại hình cán bộ, công
chức. Ví dụ, tiêu chuẩn “bản lĩnh chính trị vững vàng” - một tiêu chuẩn rất khó
kiểm nghiệm trong hoàn cảnh “sóng yên biển lặng”. Tiêu chuẩn này cũng nên được
làm rõ đối với từng loại hình. Cụ thể như đối với cán bộ cấp chiến lược thì cần thể
hiện trong khả năng đề ra những chủ trương, chính sách, biện pháp sáng tạo nhằm
thực hiện thành công đường lối của Đảng. Đối với số đông công chức, chỉ cần
nghiêm chỉnh thực hiện là đủ. Đối với các cán bộ làm công tác lý luận, tuyên giáo,
đối ngoại cần biết thuyết phục quần chúng đồng tình với những quan điểm đúng
đắn, tiến hành đấu tranh có sức thuyết phục cao với những luận điểm sai trái
Bên cạnh đó, trong hệ các “tiêu chuẩn cứng” cũng cần bổ sung những tiêu chuẩn
cần thiết cho phù hợp với tình hình mới. Ví dụ:
Hiểu biết về thể chế kinh tế thị trường. Với tiêu chuẩn này, cán bộ cấp chiến lược
cần nắm vững những quy luật của kinh tế thị trường và biết điều hành nền kinh tế
vĩ mô theo những quy luật đó. Cán bộ, công chức thừa hành cần biết vận dụng
chúng trong công việc cụ thể được giao. Cả hai loại cán bộ đều phải chuyển từ chỗ
sử dụng những công cụ quản lý trực tiếp theo mệnh lệnh hành chính sang việc sử
dụng những công cụ quản lý gián tiếp, chủ yếu là những biện pháp kinh tế - kỹ
thuật.
Hiểu biết thế giới, ít nhất là trong những lĩnh vực mình được giao. Từ đó tận dụng
được những cơ hội, ứng phó với những thách thức do quá trình hội nhập đặt ra,
khôn khéo vận dụng những luật chơi của thế giới và những cam kết quốc tế của
nước ta.
Hiểu biết pháp luật, bao gồm pháp luật nước ta và các quy định pháp lý quốc tế.
Trong đó, cán bộ cấp chiến lược phải biết xây dựng hoặc tham gia xây dựng luật
pháp; cán bộ thừa hành phải nắm chắc những quy định pháp luật liên quan tới công
việc của mình và biết vận dụng sát đúng trong lĩnh vực được giao.
Có kiến thức về quản lý đô thị. Song song với quá trình công nghiệp hoá, quá trình
đô thị hoá cũng tăng tốc phát triển, một bộ phận không nhỏ cán bộ, viên chức, cả ở
cấp chiến lược lẫn cấp thừa hành cần có kiến thức quản lý đô thị để kịp thời ứng
người sai chỗ, nhiều người ngồi nhầm chỗ. Giữa những năm 80 thế kỷ trước ở
nước ta đã có ý định xây dựng chức danh, tiêu chuẩn theo hướng nói trên song đến
nay vẫn còn chung chung.
Công tác quy hoạch cũng đã được đặt ra từ lâu nhưng không phải ở đâu, lúc nào
cũng thành công. Quy hoạch có chuẩn xác hay không tuỳ thuộc vào hai yếu tố: xác
định đúng nhu cầu (cần loại cán bộ, công chức nào, theo những tiêu chuẩn cụ thể
gì) và đánh giá đúng cán bộ, viên chức cả về năng lực lẫn phẩm chất.
Bên cạnh đó tồn tại không ít vấn đề trong quy trình quy hoạch. Theo tôi, sau khi đã
xác định nhu cầu thì khâu quan trọng hàng đầu đương nhiên là khâu chọn lựa con
người đưa vào diện quy hoạch. Như trên đã nói, không có hệ tiêu chuẩn cụ thể thì
khó bề đánh giá chuẩn xác và chọn được đúng người. Có lẽ nên áp dụng phương
pháp đánh giá đa chiều mà nhiều nước, nhiều doanh nghiệp nước ngoài áp dụng
khá hiệu quả. Cụ thể là, dựa trên hệ tiêu chuẩn rất cụ thể, mỗi cán bộ, công chức tự
đánh giá. Đồng nghiệp và cấp lãnh đạo trực tiếp cũng đánh giá cả về công tác
chính quyền, chuyên môn, nghiệp vụ và công tác đảng, đoàn thể theo phương pháp
trắc nghiệm. Kết quả cuối cùng là tổng hợp của cả ba phương thức đánh giá ấy làm
căn cứ đánh giá tương đối toàn diện. Đối với một số chức năng, nhiệm vụ, nghiệp
vụ cụ thể có khi cần tổ chức sát hạch. Tất cả kết quả đánh giá ấy cần được công bố
công khai, minh bạch.
Để quy hoạch thành công, một nhân tố không thể thiếu được là đào tạo, thử thách.
Xuất phát điểm của công tác đào tạo, thử thách là lấy yêu cầu đối với từng chức
danh cụ thể và những mặt còn yếu của người được quy hoạch đối chiếu với hệ tiêu
chuẩn để đào tạo, thử thách có mục tiêu, theo tiêu chuẩn chức danh, học đi đôi với
hành. Để rèn luyện, đào tạo, thử thách cán bộ quản lý, lãnh đạo nhất thiết nên giao
cho những nhiệm vụ, vị trí sẽ đảm nhiệm trong một thời gian nhất định. Ví dụ, cần
đào tạo vụ phó thì giao cho những người đủ tiêu chuẩn theo sự đánh giá nhiều
chiều nói trên gánh vác trọng trách điều hành đơn vị như một vụ phó thực thụ trong
một thời gian 1-2 năm để vừa đào tạo, vừa thử thách. Sau thời hạn ấy, nếu đáp ứng
yêu cầu, được tập thể chấp nhận thông qua bỏ phiếu kín thì đề bạt, ngược lại thì trở
về vị trí cũ. Trong bối cảnh hội nhập sâu với thế giới, cần mạnh dạn đưa cán bộ, kể
ở cơ sở, cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”;
đầu tư xây dựng trụ sở làm việc; kiện toàn tổ chức, bộ máy; tăng cường cán bộ,
công chức cho các phường, xã mới thành lập, thực hiện chính sách đặc thù của
thành phố, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà
nước, tin học v.v…bước đầu đã tạo ra những chuyển biến tích cực, góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở như Nghị quyết Đại
hội lần thứ XIX Đảng bộ thành phố nhận định“đã tập trung củng cố, nâng cao
chất lượng hệ thống chính trị cấp cơ sở và dưới cơ sở”.
Tuy vậy, đội ngũ cán bộ, công chức phường, xã của thành phố Đà Nẵng vẫn còn
một số bất cập, đặc biệt là chất lượng, trình độ đào tạo; năng lực quản lý, điều
hành, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố trong thời kỳ mới “một
trong những đô thị lớn của cả nước, trung tâm kinh tế - xã hội của miền Trung”
theo tinh thần Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 16 tháng 10 năm 2003 của Bộ
Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Để từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức phường, xã đủ về số lượng,
mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu; đảm bảo kế thừa, chuyển tiếp giữa các
thế hệ cán bộ một cách liên tục và vững chắc; trong năm 2007 và những năm tiếp
theo cần thiết phải tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức
phường, xã theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng Cộng sản Việt Nam là: “Kiện toàn bộ máy chính quyền cấp cơ sở đủ sức
quản lý, giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền những vấn đề cuộc sống đặt ra và
nhân dân đòi hỏi” và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX Đảng bộ thành phố:“Tập
trung củng cố chính quyền cơ sở đủ sức quản lý và giải quyết theo thẩm quyền
những vấn đề phức tạp nảy sinh trên địa bàn”.
Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo thành phố, Sở Nội vụ phối hợp với Ban
Tổ chức Thành uỷ, Trường Chính trị thành phố xây dựng Kế hoạch “Đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức phường, xã ở thành phố Đà Nẵng” nhằm góp phần nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực của hệ thống chính trị ở cơ sở theo tinh thần Nghị
quyết Đại hội lần thứ XIX Đảng bộ thành phố là:“Tiếp tục kiện toàn về tổ chức,
bộ máy; nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị các cấp từ thành
quan thẩm định, đánh giá và quyết định.
Để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, tạo cơ hội
động viên, khuyến khích những người có tài năng và phẩm chất đạo đức tốt tham
gia vào công tác lãnh đạo, điều hành, Đại hội đại biểu lần thứ XIX (2005-2010)
Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đã xác định: “Thực hiện tốt cơ chế tuyển chọn cán bộ.
Xây dựng đề án và triển khai thí điểm việc thi tuyển vào các chức danh bổ nhiệm
cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước”.
Thành phố Đà Nẵng hiện có 151 đơn vị sự nghiệp, với số lượng cán bộ lãnh đạo,
quản lý cấp trưởng và phó là 337 người, số đông đã được đào tạo cơ bản về chuyên
môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, có năng lực quản lý, điều hành. Tuy nhiên, vẫn
còn một số cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình
hình mới, một số nơi chưa chuẩn bị tốt nguồn cán bộ trẻ thay thế… Từ chủ trương
của Ban thường vụ Thành uỷ, UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành Đề án thực
hiện thí điểm thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý một số đơn vị sự nghiệp thuộc UBND
thành phố. Đây là giải pháp quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý, tạo ra một hướng mới trong công tác cán bộ. Thực hiện Đề án, Ban
Tổ chức Thành ủy phối hợp với các cơ quan chức năng xác định chương trình, nội
dung và kế hoạch triển khai. Trước mắt, tổ chức làm thí điểm tại Trung tâm Đăng
kiểm xe cơ giới, Trường THPT Phan Châu Trinh, Trường THPT Thái Phiên. Việc thi
tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý tuân thủ nguyên tắc Đảng lãnh đạo và thống nhất quản
lý đội ngũ cán bộ. Thi tuyển được tổ chức công khai với các tiêu chí cụ thể và được
công bố công khai trước kỳ thi. Người đủ điều kiện dự tuyển có cơ hội ngang nhau
trong thi tuyển. Người trúng tuyển được bổ nhiệm là người đáp ứng cao nhất các tiêu
chí đánh giá của kỳ thi.
Quy trình thực hiện thí điểm thi tuyển bao gồm các bước: Các sở, ban, ngành có đơn
vị sự nghiệp trực thuộc được các ngành chức năng lựa chọn đề xuất hoặc có nhu cầu
thi tuyển xây dựng kế hoạch trình UBND thành phố phê duyệt, đồng thời thông báo
công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng của thành phố, sau đó tiến hành
thu nhận, kiểm tra, thẩm định, xét duyệt hồ sơ của người dự tuyển.
Người tham gia thi tuyển là cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế hoặc hợp
thành phố như các đối tượng được tiếp nhận theo quy định tại Quyết định số
86/2000/QĐ-UB ngày 2-8-2000 của UBND thành phố
Với sự quan tâm và chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy đảng, từ tháng 9-2006 đến tháng
3-2007, Đà Nẵng đã thí điểm thi tuyển thành công chức danh trưởng phòng tại Trung
tâm Đăng kiểm xe cơ giới thuộc Sở Giao thông - Công chính; Phó hiệu trưởng
Trường THPT Phan Châu Trinh; Hiệu trưởng Trường THPT Thái Phiên thuộc Sở
Giáo dục và Đào tạo. Tại Trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới, số người đăng ký dự
tuyển chức vụ trưởng phòng và tương đương là 8 người, số đạt yêu cầu và đã trúng
tuyển là 2 người. Tại Trường THPT Phan Châu Trinh đã chọn được 1 phó hiệu trưởng
trong số 3 người dự tuyển và tại Trường THPT Thái Phiên đã chọn được hiệu trưởng
trong số 5 người dự tuyển. Việc thi tuyển tại 3 đơn vị trên đảm bảo công khai, khách
quan; các cán bộ trúng tuyển đều đáp ứng tiêu chuẩn chức danh theo quy định, đề án
tổ chức hoạt động và phát triển đơn vị được Hội đồng thi tuyển đánh giá cao vì tính
thực tiễn và khả năng ứng dụng. Hiện nay, số cán bộ trúng tuyển đã được Chủ tịch
UBND thành phố phê chuẩn và có quyết định bổ nhiệm. Họ đã và đang bắt tay triển
khai thực hiện các nội dung đề án với tinh thần phấn chấn và trách nhiệm cao nhất.
Đây là những đơn vị đầu tiên thực hiện thí điểm thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý,
thu hút được cán bộ giỏi, có năng lực đăng ký tham gia thi tuyển và đã chọn được
những cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt, đủ khả năng hoàn thành tốt trọng trách
được giao, hứa hẹn thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền vững của đơn vị. Những kết
quả bước đầu cho thấy, hình thức lựa chọn cán bộ lãnh đạo qua thi tuyển đã phát
huy dân chủ, công khai, được sự nhất trí, ủng hộ cao của các cấp chính quyền trong
thành phố và đông đảo cán bộ, công chức tại địa phương.
Rút kinh nghiệm các lần thi vừa qua, sắp tới, Đà Nẵng sẽ tiếp tục mở rộng thi
tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý ở một số đơn vị sự nghiệp khác, góp phần tạo
nguồn quy hoạch các chức danh cán bộ thuộc diện Ban thường vụ Thành uỷ quản
lý. Tin tưởng rằng, bên cạnh việc thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng và
Nhà nước về quy trình bổ nhiệm cán bộ hiện nay, việc thực hiện thi tuyển cán bộ
lãnh đạo, quản lý sẽ là một giải pháp tốt, có hiệu quả để nâng cao năng lực lãnh
đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ.