PHÂN TÍCH sự tác ĐỘNG và ẢNH HƯỞNG của yếu tố GIÁ TRỊ và CHUẨN mực - Pdf 22

Bài tập nhóm môn QTKDQT GV: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Đề tài:
CÂU 5: HÃY PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ
GIÁ TRỊ VÀ CHUẨN MỰC TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ? Ý NGHĨA
CỦA SỰ PHÂN TÍCH ĐÓ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH
XUẤT NHẬP KHẨU QUA MỘT VÍ DỤ CỤ THỂ?
1. Ảnh hưởng của yếu tố giá trị và chuẩn mực trong kinh doanh quốc tế:
1.1 Khái niệm giá trị và chuẩn mực trong văn hóa
1.1.1 Giá trị:
Là những gì thuộc về quan niệm, niềm tin và tập quán gắn với tình cảm của con
người. Các giá trị bao gồm những vấn đề như trung thực, chung thủy, tự do và trách
nhiệm.
Các giá trị là quan trọng đối với kinh doanh vì nó ảnh hưởng đến ước muốn vật
chất và đạo đức nghề nghiệp của con người
Giá trị (Value) với tư cách là sản phẩm của văn hóa và thuật ngữ giá trị có thể
quy vào những mối quan tâm, thích thú, những ưa thích, những sở thích, những bổn
phẩn, những trách nhiệm, những ước muốn, những nhu cầu, những ác cảm, những lôi
cuốn và nhiều hình thái khác nữa của định hướng lựa chọn. Khó có một xác định nào
mô tả đầy đủ phạm vi và tính đa dạng của những hiện tượng giá trị được thừa nhận.
Khoa học xã hội coi giá trị như những quan niệm về cái đáng mong muốn ảnh hưởng
tới hành vi lựa chọn. Trong cách nhìn rộng rãi hơn thì bất cứ cái gì tốt, xấu đều là giá
trị hay giá trị là điều quan tâm của chủ thể. Giá trị là cái mà ta cho là đáng có, mà ta
thích, ta cho là quan trọng để hướng dẫn cho hành động của ta.
Giá trị là những gì mà qua đó thành viên của một nền văn hóa xác định điều gì
là đáng mong muốn và không đáng mong muốn, tốt hay không tốt, đẹp hay xấu
Trong một xã hội, các thành viên đều xây dựng quan điểm riêng về bản thân mình và
về thế giới dựa trên những giá trị văn hóa. Trong quá trình trưởng thành, con người
học hỏi từ gia đình, nhà trường, tôn giáo, giao tiếp xã hội và thông qua đó xác định
nên suy nghĩ và hành động như thế nào theo những giá trị của nền văn hóa. Giá trị là
sự đánh giá trên quan điểm văn hóa nên khác nhau ở từng cá nhân nhưng trong một
nền văn hóa, thậm chí có những giá trị mà đại đa số các thành viên trong nhiều nền

1.2.1 Ảnh hưởng đến tư duy:
1.2.1.1 Trực tiếp/ Gián tiếp:
Người Việt trọng tình cảm và muốn tỏ ra lịch sự hay tôn trọng người khác bằng
cách tránh nói thẳng thừng còn người nước ngoài muốn giải quyết vấn đề càng nhanh
chóng chính xác càng tốt. Do vậy, Người Việt không suy nghĩ và thể hiện thái độ
thẳng thắn khi gặp một vấn đề còn người nước ngoài thì thường nghĩ và nói thẳng.
Với quan điểm thẳng thắn trong mọi vấn đề, các doanh nhân phương Tây
thường bày tỏ ý kiến một cách trực diện và nêu rõ nhu cầu của mình. Trong thương vụ
làm ăn, họ luôn luôn quan tâm đến mức lợi nhuận mà thương vụ sẽ đem lại cũng như
phần trăm hoa hồng có được từ lợi nhuận đó.
Tuy nhiên, đối với thương gia nhiều nước phương Đông, việc này đôi khi bị coi
là hơi thái quá và không ít người tỏ ra khó chịu. Họ thường đề cập vấn đề vòng vo và
không chính thức, thường mời đi dùng bữa trước khi đàm phán và nhiều khi việc đàm
phán diễn ra trong các cuộc nhậu. Dễ dàng nhận thấy điều này qua các câu hỏi đầu tiên
mà người Mỹ và người Nhật hay quan tâm. Trong khi người Mỹ hay hỏi “cái gì”, “giá
bao nhiêu” thì người Nhật lại thắc mắc “như thế nào” và “tại sao”.
Nhóm 13 - 2 -
Bài tập nhóm môn QTKDQT GV: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
1.2.1.2 Tôn trọng luật lệ / Coi trọng các mối quan hệ
Người Việt coi trọng tình cảm và các mối quan hệ, nên họ coi công ty là nhà và
đồng nghiệp là bạn. Điều đó dẫn tới việc cư xử mềm mỏng hơn. Người nước ngoài
luôn có sự phân biệt rạch ròi giữa chuyện cá nhân và chuyện công việc, nên họ thường
cư xử nghiêm túc và có nguyên tắc tại nơi làm việc. Do vậy, người Việt coi trọng các
mối quan hệ nên khi ứng xử bao giờ cũng xét đến yếu tố tình cảm. Người nước ngoài
tôn trọng luật lệ nên hành xử thường đúng nguyên tắc hơn, ngay cả đối với người thân.
Trong một cộng đồng, người phương Tây thường có mối quan hệ theo nhóm,
được hình thành dựa trên những nhóm nhỏ hơn. Trong khi đó, mối quan hệ của người
phương Đông thì rắc rối và phức tạp hơn. Có thể lấy người Trung Quốc làm ví dụ, họ
thường kinh doanh dựa trên mối quan hệ và rất xem trọng chuyện giới thiệu.
Người phương Tây quan niệm: “Tôi làm ăn với anh bất kể anh là ai và chúng ta

của mình trước cấp trên và các đồng nghiệp. Trong trường hợp này, thái độ truyền thụ
những giá trị như sự nhất quán, lòng trung thực, sự hòa thuận trong nhóm.
Vì thế, người phương Tây rất xem trọng chuyện giờ giấc và ít khi trễ giờ trong
các cuộc hẹn làm ăn. Họ hẹn bạn 9 giờ bắt đầu đàm phán thì có nghĩa là chắc chắn 9
giờ sẽ bắt đầu.
Trong khi đó, văn hóa phương Đông quan niệm thời gian là vô hình, khó xác
định và do đó không quản lý được (quan niệm thời gian đa tuyến - polychronic time)
nên thời gian có thể được co giãn một chút. Người thuộc nền văn hóa thời gian đa
tuyến hiếm khi chủ động sử dụng thời gian, thường làm nhiều việc cùng lúc và ôm
nhiều lĩnh vực. Do đó, các hội nghị ở châu Á thường thì diễn ra trễ hơn một chút so
với thời gian in trong thiệp mời.
Người dân ở nhiều nước Mỹ- Latinh và khu vực Địa Trung Hải thường không coi
trọng vấn đề thời gian. Các kế hoạch của họ đều khá linh hoạt, họ thích hưởng thụ thời
gian hơn là tiêu tốn nó cho những kế hoạch cứng nhắc.
1.2.1.4. Cùng thắng hay là thắng - thua
Cách biểu hiện bên ngoài của người phương Tây và người phương Đông cũng
có sự khác nhau.
Người phương Tây rất thẳng thắn trong việc biểu hiện ra bề ngoài, trong lòng
buồn thì bề ngoài cũng biểu hiện nỗi buồn. Nhưng người phương Đông thì khác, nhiều
khi bề ngoài “thơn thớt nói cười”, nhưng thực ra là “mặt dày tâm đen”. Điều này cũng
được biểu hiện trong kinh doanh.
Cạnh tranh trong kinh doanh không nhất thiết luôn là thắng - thua (win-lose),
trong rất nhiều trường hợp nó là tình huống cùng thắng (win-win). Đây là khái niệm
mà nhiều doanh nghiệp Mỹ đang sử dụng: Từ cạnh tranh trong đối đầu sang cạnh tranh
trong hợp tác. Trong khi đó, đối với người phương Đông, đặc biệt là người Nhật, mặc
dù bề ngoài họ ít cạnh tranh trực tiếp nhưng ẩn giấu sâu bên trong là quan điểm win-
lose. Có nghĩa là tôi sẽ thắng và anh sẽ thua. Nên việc sử dụng các mưu kế chiến thuật
trong bàn đàm phán là chuyện bình thường.
1.2.1.5. Hệ quả
Bất đồng, hiểu lầm và xích mích có thể xảy ra khi hai bên cảm thấy bất mãn về

ngôn ngữ thông thường của một nền văn hóa cho phép chúng ta biết được tại sao
người dân nơi đó lại suy nghĩ và hành động như vậy. Hiểu các hình thức ngôn
ngữ khác nhau (ngoài ngôn ngữ thông thường) của một nền văn hóa giúp chúng
ta tránh đưa ra những thông tin gây ngượng ngùng hoặc ngớ ngẩn. Các giá trị và
các quy tắc xã hội có ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp. Chẳng hạn như ở Mỹ
đề cao sự tự do cá nhân, dân chủ cho nên hoạt động giao tiếp, văn hóa giao tiếp
của họ cũng thể hiện sự tự do.
Một yếu tố văn hóa có ảnh hưởng rõ rệt đến giao tiếp trong hoạt động ngoại
thương chính là ngôn ngữ. Hiện nay, trong giai đoạn hội nhập quốc tế, các quốc trên
thế giới đã và đang tiến hành mở cửa và khuyến khích việc đầu tư của các công ty –
Nhóm 13 - 5 -
Bài tập nhóm môn QTKDQT GV: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
tập đoàn nước ngoài, việc hiểu biết về ngôn ngữ và kỹ năng sử dụng ngoại ngữ thành
thạo của thương nhân là một điều thuận lợi hết sức to lớn trong việc giao tiếp với các
thương gia nước ngoài, cũng như trong việc tìm hiểu từ phong tục tập quán, thói quen
làm việc, nhu cầu tiêu dùng cho đến môi trường chính trị, luật pháp của nước mà họ có
quan hệ buôn bán. Ngược lại, sự bất đồng về ngôn ngữ đôi khi lại là rào cản rất lớn
trong việc giao tiếp với những thương nhân và doanh nghiệp nước ngoài để có thể hiểu
rõ được giá trị và chuẩn mực của quốc gia đó. Để tránh gặp phải những khó khăn,
nhầm lẫn trong hoạt động giao tiếp kinh doanh đòi hỏi các thương gia phải trang bị
cho mình vốn ngoại ngữ thành thạo và phong phú. Hiện nay, ngôn ngữ được sử dụng
phổ biến nhất trong giao tiếp quốc tế là tiếng Anh. Tuy nhiên, việc biết tiếng địa
phương có thể tạo ra được một số mối quan hệ đặc biệt và bước ngoặt trong kinh
doanh. Thông thường, doanh nghiệp hay nhà sản xuất không hiểu tiếng địa phương có
thể phạm sai lầm do dịch không chính xác. Ví dụ, hãng General Motors đã gặp khó
khăn khi đưa ra loại xe mới mang tên Chevrolet Nova ở thị trường Puerto Rico. Khi
dịch sang tiếng Tây Ban Nha thì “Nova” có nghĩa là ngôi sao, nhưng nếu nói như
“no va” thì lại có nghĩa là “nó không đi”, do đó hãng General Motors đã phải đổi tên
loại xe này thành Caribe.
Bên cạnh những thông điệp được trình bày rất rộng qua ngôn từ thì người làm

Điều quan trọng mà nhà kinh doanh cần phải làm trước khi thâm nhập thị
trường mới đó là phải khảo sát và thăm dò thị trường, nắm bắt được các nhu cầu tiêu
dùng và thị hiếu của khách hàng, quy mô của thị trường và những rủi ro có thể xảy ra.
Những hiểu biết về văn hóa giúp nhà kinh doanh nâng cao năng lực quản lý người lao
động, quảng bá sản phẩm và thực hiện việc đàm phán ở các quốc gia khác nhau.
Những quốc gia khác nhau, những vùng văn hóa khác nhau sẽ có những phong tập tục
khác nhau đòi hỏi nhà kinh doanh phải có những chuẩn mực nhất định về kiểu dáng,
mẫu mã của các mặt hàng muốn quảng bá và phân phối cho các thị trường. Các doanh
nghiệp cần tính đến ảnh hưởng của văn hoá trong khi thực hiện 4 khâu của quy trình
marketing 4P.
- Production: cùng một loại sản phẩm khi được bán ở các địa phương, các nền
văn hoá khác nhau và hướng tới những đối tượng người tiêu dùng khác nhau thì phải
có những đặc điểm đặc trưng riêng. Những đặc trưng đó được quy định bởi thị hiếu,
quan niệm và các đặc điểm khác nhau của từng nền văn hoá. Ví dụ, ở Việt Nam, xe
máy là phương tiện đi lại phổ biến, người ta dùng nó để di chuyển trong thành phố,
trên những con đường nhiều chỗ rẽ, trong những ngõ nhỏ và sâu. Vì thế, xe máy sản
xuất cho thị trường tiêu dùng Việt Nam phải là loại xe có phân khối nhỏ, kích thước
hợp lý để tiện đi lại, tiết kiệm nhiên liệu và không chiếm nhiều chỗ trong những ngôi
nhà nhỏ hẹp.
- Place: tập quán mua sắm của người tiêu dùng ở các nền văn hoá khác nhau
ảnh hưởng đến khâu phân phối trong kinh doanh. Các doanh nghiệp khi tiếp cận một
thị trường mới cần tìm hiểu thói quen mua sắm tại thị trường đó để lựa chọn hình thức
phân phối hiệu quả nhất. Người Mỹ thường thích mua hàng ở các siêu thị hoặc các
trung tâm buôn bán lớn (shopping mall). Họ thường dành dịp cuối tuần để đi mua sắm
nên việc tất cả các loại hàng hoá cùng có mặt trong một địa điểm bán hàng khiến họ
cảm thấy thuận tiện. Trái lại, người Việt Nam lại thích mua sắm ở gần nơi ở để không
phải đi xa và khi nào cần gì thì có thể mua được ngay. Phần lớn người Việt Nam
không có thói quen mua sắm một số lượng hàng lớn để dùng trong một thời gian dài.
Chỉ với những hàng hóa có giá trị lớn thì họ mới đến các đại lý hoặc các trung tâm
phân phối để mua, còn với hàng tiêu dùng hàng ngày thì họ thích đến các cửa hàng tạp

tư duy và phong cách làm việc, mà thương nhân hay doanh nghiệp cần phải có hiểu
biết đầy đủ về những gì được coi là tốt, là đẹp trong nền văn hóa mà họ đang dần dần
tiếp cận. Chính vì thế, còn có thể kể đến vai trị của hiểu biết về mỹ học trong hoạt
động ngoại thương. Mỹ học là những gì mà văn hóa coi là “hợp thị hiếu” trong nghệ
thuật, là hình ảnh gợi nên bởi những sự biểu đạt cụ thể, và thậm chí cả tính hình tượng
của một số màu sắc nhất định cũng được gọi là mỹ học. Mỹ học có vai trò quan trọng
khi một công ty tính đến chuyện kinh doanh ở một nền văn hóa khác. Rất nhiều sai
phạm có thể xảy ra từ việc chọn màu sắc không phù hợp trong quảng cáo, đóng gói
hàng hóa và ngay cả màu sắc của đồng phục làm việc. Ví dụ, màu xanh lá cây là màu
yêu thích đối với cư dân đạo Hồi và là màu sắc trên hầu hết quốc kỳ các nước theo đạo
Nhóm 13 - 8 -
Bài tập nhóm môn QTKDQT GV: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Hồi, kể cả Jordani, Pakistan và Ả-rập. Điều đó dẫn đến việc hàng hóa thường được
đóng gói màu xanh lá cây để lợi dụng thông điệp về màu sắc này. Ngược lại, một loạt
các nước châu Á, màu xanh lá cây thường gây liên tưởng tới sự ốm yếu.
Thêm vào đó, mặc dù hệ thống luật pháp quốc tế không được rõ ràng nhưng
bước đầu đã có những điểm chung. Luật quốc tế ảnh hưởng đến nhiều khu vực, bao
gồm quyền sở hữu trí tuệ, luật chống độc quyền, thuế, luật phân xử tranh chấp hợp
đồng và những vấn đề thương mại nói chung. Bên cạnh đó, nhiều tổ chức quốc tế
khuyến khích áp dụng các chuẩn mực. Trong số các tổ chức Liên Hiệp Quốc, tổ chức
hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức về sự thống nhất của các luật tư nhân
của Rome đã đưa ra các quyết định cho kinh doanh quốc tế. Để tháo gỡ các rào cản
cho các công ty hoạt động trên thị trường Tây Âu, Liên hiệp Châu Âu cũng tiêu chuẩn
hóa hệ thống luật pháp của các nước trong hiệp hội. Qua đó, tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp thâm nhập thị trường. Khi đó, các chuẩn mực này sẽ có những tác động,
ảnh hưởng đến hoạt động tiêu dùng của người dân.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng văn hóa, trong đó giá trị và chuẩn mực có
vai trò không nhỏ trong kinh doanh nói chung và hoạt động ngoại thương, kinh doanh
quốc tế nói riêng. Chúng ta sẽ xem xét ảnh hưởng cụ thể của yếu tố giá trị và chuẩn
mực trong hoạt động ngoại thương giữa Việt Nam và Nhật Bản trong phần sau.

Tokyo có mùa đông tương đối ôn hoà, thỉnh thoảng có tuyết và độ ẩm thấp, khác hẳn
với mùa hè ẩm và nóng. Mùa xuân và mùa thu là những mùa tốt nhất trong năm, khí
hậu êm dịu và rực rỡ ánh mặt trời trên khắp đất nước.
2.1.1.3. Xã hội, giáo dục:
Cho đến nay người ta vẫn chưa chắc chắn về xuất xứ và thời gian xuất hiện của
những cư dân đầu tiên trên quần đảo Nhật Bản. Tuy nhiên, hầu hết các học giả đều cho
rằng người Nhật đã có mặt tại quần đảo từ xa xưa và định cư liên tục từ đó cho đến
thời nay. Những phát hiện trong nghiên cứu cổ vật, xương đã củng cố thêm sự nghi
ngờ đối với thuyết trước kia cho rằng người Nhật là con cháu của những người xâm
chiếm đến sau "thổ dân" Ainu và đã đẩy bộ tộc này ra khỏi quần đảo. Ngày nay, người
ta tin rằng tổ tiên của người Nhật là những người đã làm nên đồ gốm mang tên Jomon.
Những người này được biết là đã có mặt trên quần đảo ít nhất từ năm 5000 TCN, sau
đó theo thời gian, pha trộn với các giống người khác, phát triển qua lịch sử thành dân
tộc Nhật Bản ngày nay.
Ngày nay, thủ đô của Nhật Bản là Tokyo, một thành phố gần 30 triệu dân. Dân
số Nhật Bản năm 2001 là 126.549.976 người, chủ yếu là người Nhật, chiếm 99,4%, và
0,6% còn lại là người Triều Tiên. Từ những năm 50 của thế kỷ 20 trở đi, mức sống của
người dân Nhật Bản tăng lên nhanh chóng. Năm 1999, với dân số 125 triệu người,
trong số hơn 40 triệu gia đình ở Nhật thì 30,5 triệu gia đình (75%) có xe hơi riêng.
GDP của Nhật năm 2001 là 2.972,5 tỷ USD. Hiện nay, sự tăng cường du lịch ra nước
ngoài của người dân Nhật Bản trở thành biểu tượng của mức sống cao.
Hệ thống giáo dục Nhật Bản được phân thành 5 giai đoạn: Vườn trẻ (từ 1 đến 3
năm), Tiểu học (6 năm), Trung học bậc thấp (3 năm) và Trung học bậc cao (3 năm),
Đại học (thông thường là 4 năm). Ngoài ra còn có các trường Cao đẳng với các khóa
học 2 năm hoặc 3 năm và các khóa nâng cao sau đại học. Nhật Bản thực hiện giáo dục
phổ cập miễn phí cho trẻ em từ 6-15 tuổi. Tuy vậy, đại đa số học sinh học hết trường
trung học bậc thấp đều tiếp tục học lên và trong thực tế các trường trung học bậc cao
hiện đang trở thành bộ phận cơ bản của hệ thống giáo dục trẻ em.
2.1.2 Con người Nhật Bản:
Người Nhật Bản có quan hệ gần gũi với nhiều dân tộc ở Triều Tiên và Trung

tộc Nhật Bản vốn thường xuyên phải đối mặt với thiên tai nên trong con người họ đã
hình thành ý thức dành dụm cho những lúc khó khăn. Hơn nữa, mỗi một nguời Nhật
Bản đều có hai ước mơ lớn trong đời là cho con cái được hưởng nền học vấn tốt nhất
và mua được nhà riêng. Vì lý do đó họ rất có ý thức tiết kiệm, đến mức Chính phủ
Nhật Bản phải có chính sách khuyến khích tiêu dùng trong nhân dân. Bên cạnh tính
tiết kiệm, người Nhật Bản còn có một đức tính đáng quý nữa là làm việc siêng năng.
Công việc với họ như một niềm say mê, nhiều người Nhật Bản sẵn sàng làm thêm giờ
mà không đòi thêm thù lao. Người Nhật giữ kỷ lục về số giờ làm việc trong năm trung
bình cao hơn người châu Âu từ 20 đến 25%.
- Coi trọng văn hoá dân tộc và khoa học kỹ thuật hiện đại: Người Nhật có ý
thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc rất cao nhưng lại rất coi trọng phát huy thành quả
của khoa học kỹ thuật hiện đại. Trong đời sống hàng ngày cũng như trong công việc,
Nhóm 13 - 11 -
Bài tập nhóm môn QTKDQT GV: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
người Nhật rất tuân thủ tôn ti trật tự, phong tục, ứng xử theo những chuẩn mực đã
được quy định từ bên trong xã hội. Tuy thế, người Nhật không bảo thủ, không bao giờ
giấu dốt mà rất chăm học. Họ coi trọng học vấn và giáo dục, coi đó là động lực lớn
nhất để phát triển đất nước. Bên cạnh đó, người Nhật Bản còn là những người có ham
muốn phát triển nhân cách vô bờ bến.
- Tính lễ phép lịch sự, tôn trọng người khác: Có thể dễ dàng nhận thấy điều này
trong cách ứng xử hàng ngày của người Nhật. Người Nhật khi gặp nhau, sau khi nhận
ra người quen, họ thường đứng im tại chỗ, sau đó cúi gập người xuống chào, dù cho
lúc đó họ đang ở ngoài đường phố nơi có đông người qua lại.
- Chủ nghĩa cộng đồng: người Nhật có tinh thần cộng đồng rất cao và sâu sắc.
Có thể nói rằng dân tộc Nhật Bản là một trong những dân tộc có tính cộng đồng cao
nhất. Điều này được hình thành qua lịch sử một phần do hoàn cảnh địa lý biệt lập của
nước Nhật, phần khác do tính chất thuần tộc của đất nước này (99% dân số Nhật Bản
là người Nhật). Tinh thần cộng đồng của người Nhật được nâng lên thành chủ nghĩa
cộng đồng, theo đó điều quan trọng hàng đầu là truyền thống của một cộng đồng,
truyền thống ấy được đánh giá cao hơn quan niệm của các cá nhân riêng lẻ. Chủ nghĩa

tăng trung bình của chính Nhật Bản trước chiến tranh. Tốc độ tăng trưởng hai con số
được Nhật Bản duy trì trong suốt những năm 60 và đầu những năm 70 của thế kỷ 20
được kết thúc cùng với cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất vào đầu năm 1973, và
từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ hai năm 1979-1980, tốc độ tăng phổ biến chỉ đạt
chưa đầy 4%.
Nét đặc trưng của kinh tế Nhật Bản từ những năm 80 của thế kỷ 20 đến những
năm 90 là sự tăng trưởng cao khác thường của nền kinh tế và tiếp đó là sự suy thoái
kéo dài do sự sụp đổ của nền kinh tế bong bóng. Tuy nhiên, chính phủ Nhật Bản đã có
những biện pháp thích hợp nhằm ổn định nền kinh tế và chấm dứt nền kinh tế bong
bóng. Trong một thời gian dài, Nhật Bản vẫn luôn giữ vị thế một nền kinh tế lớn của
thế giới.
Đơn vị tiền tệ của Nhật là đồng Yên, năm tài chính của Nhật Bản kéo dài từ
mùng 1 tháng 4 đến 31 tháng 3 năm sau. Năm 2000, tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
của Nhật là 512,6 nghìn tỷ Yên, GDP đầu người là 4.048.000 Yên (khoảng 34.780
USD) và tốc độ tăng trưởng GDP năm 2000 đạt 1,7%. Xét về GDP tính theo đầu
người thì Nhật Bản là một trong những nước có thu nhập cao trên thế giới, GDP tính
theo đầu người bình quân khoảng 36.950 USD/năm.
Cơ cấu ngành kinh tế của Nhật Bản được chia thành ba khu vực: Khu vực một
là các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, Khu vực hai là các ngành công nghiệp và Khu
vực ba là các ngành dịch vụ. Cơ cấu kinh tế Nhật Bản thể hiện tính chất phát triển cao
của nền kinh tế này. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của nước này là 2%, tỷ trọng
công nghiệp là 38% và tỷ trọng dịch vụ là 60%. Tỷ trọng dịch vụ trong tổng sản phẩm
quốc dân của Nhật Bản đang ngày càng tăng do thu nhập quốc dân tăng lên, người dân
có nhiều thời gian rỗi hơn và do sự phát triển của đô thị hóa. Sự đóng góp của các lĩnh
vực phân phối, tài chính và bảo hiểm, giao thông vận tải, vào tổng sản phẩm trong
nước đã tăng từ 51% năm 1970 lên 60,7% năm 1990.
Bên cạnh các ngành công nghiệp hiện đại, các ngành truyền thống vẫn được
duy trì và phát triển như công nghiệp dệt, sợi bông, tơ tằm. Nhật Bản có ngành nông
nghiệp thâm canh, hiệu quả cao tuy chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước.
2.1.4. Văn hóa Nhật Bản:

Đạo Phật du nhập vào Nhật Bản từ ấn Độ qua Trung Quốc và Triều Tiên vào
khoảng giữa thế kỷ thứ VI. Phát triển rực rỡ không chỉ đơn thuần là một tôn giáo, đạo
Phật còn góp phần đáng kể làm phong phú thêm nền nghệ thuật và tri thức của Nhật
Bản. Một điểm độc đáo là Shinto dành cho mình tất cả các sự kiện vui mừng trong đời
sống con người và nhường cho đạo Phật những sự kiện buồn bã. Nếu như ngày sinh
đứa trẻ hoặc đám cưới được đánh dấu bằng các nghi lễ Shinto giáo thì các đám tang và
giỗ tổ tiên lại được tiến hành theo nghi lễ đạo Phật.
2.1.4.2. Phong tục tập quán:
Nhóm 13 - 14 -
Bài tập nhóm môn QTKDQT GV: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Nhật Bản là một quốc gia có bốn mùa rõ rệt và nhiều dịp lễ hội trong năm gắn
với sự chuyển mùa này. Lễ hội năm mới là dịp lễ lớn nhất trong năm của Nhật Bản.
Người Nhật tiễn năm cũ và đón năm mới một cách đầy hào hứng. Tất cả các công ty
và cơ quan nhà nước đóng cửa trong ba ngày đầu tiên của năm. Vào ngày Mùng 1
tháng Một, cả gia đình sum họp để cùng uống một loại rượu Sake đặc biệt, ăn một loại
súp đặc biệt và cùng quên đi những kỷ niệm không vui của năm cũ. Vào dịp này,
người Nhật thường đến các đền chùa để cầu xin may mắn cho năm mới, đến chơi nhà
họ hàng và bạn bè để chúc mừng năm mới.
2.1.2 Các yếu tố giá trị và chuẩn mực trong văn hóa Nhật Bản:
2.1.2.1 Các yếu tố giá trị chính trong văn hóa Nhật Bản:
Các giá trị Nhật Bản là nền tảng gắn liền với nền văn hóa Nhật Bản. Nhiều
tài liệu viết về văn hóa Nhật Bản nhấn mạnh tới Honne (tư cách bên ngoài) /tatemae
(tâm tư thực sự bên trong) phân chia giữa biểu hiện xã hội và những suy
nghĩ/cảm xúc cá nhân được xem là hết sức quan trọng trong nền văn hóa Nhật
Bản.
 Sự cảm thông và mối quan hệ giữa mọi người
Trong thần thoại Nhật Bản, các vị thần thể hiện những cảm xúc nhân bản
như yêu thương và giận dữ. Trong các truyện kể này, hành vi là nào đem lại
các tương quan tích cực với người khác đều được tưởng thưởng, và sự cảm thông
(empathy) tức việc đặt mình vào hoàn cảnh người khác, rất được trân quí. Ngược

cảm của cả nhóm và khiến việc thực hiện quyết định diễn ra suôn sẽ hơn. Sự
hợp tác trong một nhóm còn thường tập vào sự canh tranh giữa tiểu nhóm
này và tiểu nhóm kia. Các biểu tượng như đồng phục, tên, biểu ngữ và bài
hát giúp người trong và ngoài nhóm nhận diện sự khác biệt giữa tiểu nhóm
này với các tiểu nhóm khác. Tham gia vào các hoạt động của nhóm dù là
chính thức hay không chính thức là một cách biểu tượng để nói rằng một cá
nhân muốn được xem là một phần của nhóm. Vì vậy, những buổi la cà hàng
quán sau giờ làm không chỉ đem đến cơ hội để trao đổi thông tin và giải tỏa
các căng thẳng xã hội mà còn là cơ hội để chuyển tải mong muốn tiếp tục
thuộc về nhóm không thể nói thành lời.
Làm việc theo nhóm của Nhật Bản đòi hỏi sự triển khai nhiều kênh truyền
thông nhằm củng cố mối quan hệ của nhóm và cảm giác khác biệt từ những
người không phải là thành viên nhóm. Còn các tương giao xã hội bên ngoài
các nhóm này, tuy hiện đã trở thành một điều cần thiết trong xã hội hiện đại,
nhưng nếu tương giao này ngắn ngủi hay tương đối vô nghĩa, như đi mua một tờ
báo chẳng hạn, thì người ta cho rằng xưng danh là không cần thiết. Nhưng nếu
mối quan hệ được mong đợi sẽ tiếp tục trong dài hạn, dù là trong kinh
doanh, hôn nhân, nơi làm việc hay hàng xóm thì người ta rất quan tâm để
đầu tư xây dựng và duy trì các mối quan hệ tốt. Các mối liên hệ này thường
bắt đầu nhờ dùng mạng lưới thân nhân, bè bạn hay đồng nghiệp là những người
sẵn sàng giới thiệu họ, làm trung gian mối lái (nakodo) cho họ với người họ
muốn. Mối lái tất nhiên xẩy ra nhiều trong lãnh vực hôn nhân, nhưng trong các
lãnh vực khác vẫn không thiếu. Việc của họ là tìm hiểu bối cảnh gia đình, chuyển
tải các câu hỏi và phê phán, và làm trơn tru các trở ngại, khó khăn. Những trung
gian cá nhân loại này khá phổ biến trong nhiều khía cạnh cuộc sống của
người Nhật Bản.
Nhóm 13 - 16 -
Bài tập nhóm môn QTKDQT GV: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
 Không gian công: Trật tự và địa vị xã hội
Thật khó để hình dung cái nhín của người Nhật về trật tự xã hội mà không

giá trị của sự cảm thông cho phù hợp với nền văn hóa, một người không thể
nói mà không quan tâm đến người khác.
Thuật ngữ hệ thống thứ bậc, tôn ti đề cập tới một thứ hạng các vai trò và
một bộ các quy tắc nghiêm khắc và nền hành chính của Nhật Bản cũng phản
ánh điều này. Tuy nhiên, ở đây, người ta thấy có sắc thái độc đáo mà nhà nhân
Nhóm 13 - 17 -
Bài tập nhóm môn QTKDQT GV: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
chủng học Robert J. Smith gọi là “trật tự khuếch tán” (diffuse order, không tập
quyền). Ví dụ, trước thời hiện đại, các nhà lãnh đạo địa phương được ban cho
nhiều quyền tự trị, nhưng để đáp lại họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về công
việc của địa phương. Thời hiện đại của Nhật cũng thế, trách nhiệm thì có tính tập
thể và thẩm quyền thì có tính khuếch tán. Một người nào đó xem ra được trọn
quyền điều khiển, nhưng thực tế, bị cột vào một mạng lưới liên lập của nhóm
cũng nghiêm ngặt như những người được xem là cấp dưới của người đó. Vì thế,
việc lãnh đạo không đòi phải có một cá tính mạnh mẽ và các kỹ năng quyết định
bén nhậy, nhưng đúng hơn phải biết nhậy cảm đối với tâm tư người khác và kỹ
năng môi giới. Ngay đầu thập niên 1990, người ta vẫn mong các nhà lãnh đạo
nên nhận trách nhiệm đối với những vấn đề lớn do nhóm của mình gây ra mà từ
chức, dù họ không trực tiếp dính líu vào tình huống này.
Tại Nhật, địa vị dựa trên các mối liên hệ đặc thù giữa các cá nhân, thường là các
liên hệ tùy thuộc nhau về phương diện xã hội giữa những người có địa vị không
bằng nhau. “Giri” (nghĩa vụ), tức cảm giác trói buộc phải có đối với người ta
mang ơn, đòi ta phải có tác phong tôn kính và sau cùng đền đáp công ơn, và việc
đền ơn này khích lệ các ân huệ tương lai. Các liên hệ tùy thuộc nhau về xã hội
này cứ thế kéo dài bất tận, chính sự bất bình đẳng đã liên kết các cá nhân lại với
nhau như thế. Bởi thế, qui luật của phẩm trật đã được chính mối liên hệ làm dịu
đi. Diễn trình làm dịu này được người Nhật gọi là ninjo (cảm thương). Tiềm
năng đối nghịch giữa “giri” và “ninjo” vốn là đề tài rất thường xuyên trong nền
kịch nghệ và văn chương Nhật Bản. Dù giới trẻ Nhật Bản ngày nay coi ý niệm
“giri” là lỗi thời, nhưng đa số vẫn cảm thấy căng thẳng khi phải làm điều nên làm

không quan niệm một người Nhật, vốn có tinh thần hợp tác, sống bằng tương giao,
như một sản phẩm vô vị của tác động hóa xã hội đến làm mòn hết mọi góc cạnh của cá
tính, nhưng đúng hơn như một sản phẩm của lòng tự chế nội tâm đầy kiên vững khiến
họ khuất phục được… bản năng phản xã hội…. Tính hợp khuôn theo xã hội của họ…
không phải là dấu chỉ yếu nhược mà đúng hơn chính là sản phẩm đầy tự hào và tôi
luyện của sức mạnh nội tâm”. Sự khuất phục này đạt được là nhờ vượt khó khăn bằng
tự kỷ luật chính mình, sự tự cố gắng nhằm hoàn thiện mình, điều mà họ biết là không
thể thực hiện được nhưng lúc nào cũng là một mục tiêu đáng vươn tới. Với tầm nhìn
này, cả bản thân lẫn xã hội đều thăng tiến, và thực sự có tương quan qua lại với nhau
vì lý tưởng hoản thành bản thân (selfhood) mà người Nhật nào cũng cố gắng nhắm tới
chính là lý tưởng trong đó quan tâm tới người khác là điều rất quan trọng. Theo David
W. Plath, trong khi người Mỹ cố gắng vun sới một cái tôi độc đáo, thì đa số người
Nhật đặc biệt nhấn mạnh tới việc vun sới “một cái tôi biết cảm nhận điều nhân bản
trong tình liên hợp với người khác”. Sự trưởng thành chín chắn vừa có nghĩa tiếp tục
quan tâm tới điều người khác cảm nghĩ vừa có nghĩa cảm thấy tự tin vào khả năng
phán đoán và hành động hữu hiệu của mình, vừa nhìn nhận các qui phạm xã hội vừa
trung thực với chính cái tôi của mình.
2.1.2.2 Các yếu tố chuẩn mực trong văn hóa Nhật Bản:
Các giá trị hình thành nền tảng văn hóa. Chúng đưa ra các bối cảnh mà chuẩn
mực xã hội được hình thành và chứng minh. Chuẩn mực là quy luật xã hội chi phối
hành động giữa người với người. Dưới đây giới thiệu về một số chuẩn mực trong kinh
doanh với Nhật Bản.
a. Giờ kinh doanh:
Nhóm 13 - 19 -
Bài tập nhóm môn QTKDQT GV: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Ngân hàng hoạt động từ 9h – 15h.
Bưu điện hoạt động từ 9h – 17h.
Hầu hết các văn phòng kinh doanh và văn phòng chính phủ mở cửa từ 9h – 17h
các ngày thường trong tuần. Một số công ty vẫn hoạt động cho đến hết nửa ngày thứ
bảy.

Nhóm 13 - 20 -
Bài tập nhóm môn QTKDQT GV: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Người Nhật Bản tin rằng sự thật phụ thuộc vào các tình huống và nghĩa vụ đối
với người khác. Không điều gì được phép phá vỡ sự hòa hợp của cá nhân vì vậy họ sẽ
đưa ra câu trả lời mà họ tin là sẽ làm hài lòng người nghe.
Các cá nhân người Nhật có thể không nói cho đối tác biết những gì đối tác
muốn biết và thay vào đó dựng nên một câu trả lời phù hợp cho đối tác.
 Giữ thể diện:
Sự chính xác quan trọng với người Nhật và các lỗi là không được chấp nhận.
Một người Nhật không thích bị đặt vào tình huống phải thừa nhận lỗi lầm hay sự thất
bại. Làm thế sẽ mang ý nghĩa là mất thể diện và điều này rất nghiêm trọng. Ho cũng
ngại phải thừa nhận rằng họ không hiểu điều gì đó. Người Nhật có xu hướng xem sự
phê bình ám chỉ đến cá nhân của họ.
 Giao tiếp bằng mắt:
Nhìn thẳng vào mắt của người khác được xem là khiếm nhã tại Nhật Bản.
Người Nhật thường chỉ tập trung vào phần cồ hoặc nút thắt cà vạt. Trong khi một số
quốc gia khác lại nhìn thẳng vào mắt người đối diện; lảng tránh ánh mắt là thiếu thành
thật và không tự tin. Ở Nhật Bản, giao tiếp bằng mắt liên tục được xem là khiếm nhã
hoặc thậm chí là xúc phạm.
 Biểu hiện sự đồng ý:
Người Nhật không đánh giá thông tin họ được nhận vì vậy không chỉ ra sự
đồng ý hay không đồng ý. Họ chỉ gật đầu để cho biết họ đang lắng nghe. Đối với
người Nhật gật đầu hoặc nói “Vâng (Yes)” chỉ mang ý nghĩa là họ đang lắng nghe đối
tác nói. Điều đó không cho thấy sự đồng ý. Nếu họ nói họ cần xem xét lời đề nghị
nghiêm túc hơn, điều này có nghĩa là họ cần tham khảo ý kiến cộng sự. Nếu người
Nhật thật sự thích lời đề nghị, họ sẽ nói điều như đó như “Chúng tôi đồng ý” và sau đó
họ sẽ trình bày kỹ lưỡng hơn.
 Khoảng cách cá nhân:
Người Nhật Bản thường giữ khoảng cách về các tiếp xúc cơ thể đối với người
đối diện. Họ có xu hướng dè dặt, khiêm nhường và thích lẫn vào đám đông. Nói lớn

Người Nhật đề cao sự giải quyết trong êm ả và nhấn mạnh các nghĩa vụ cá
nhân. Vì đàm phán phụ thuộc vào các mối quan hệ cá nhân nên đàm phán theo hướng
gay gắt sẽ không bao giờ kết thúc. Nếu đối tác cảm thấy đã xúc phạm đến bên Nhật,
đừng ngại xin lỗi. Người Nhất rất thường hay xin lỗi; điều này đảm bảo họ sẽ không
vô tình gây ra sự khiểm nhã.
 Nội dung đàm phán không thích hợp:
Đối với người Nhật, đàm phán là một loại hình xung đột và họ cực kỳ không
thích xung đột. Vì vậy họ không thích các cuộc đàm phán theo nghi thức phải tuân thủ
theo nội dung và một loạt các vấn đề đặt ra.
Người Nhật thích bỏ nhiều thời gian để hỏi các câu hỏi chi tiết nhằm tìm hiểu ý
định của đối tác nước ngoài. Rồi sau đó cố gắng đưa ý định này vào phần trả lời của
họ. Họ thích các cuộc đàm phán thân thiện để có thời xây dựng môi quan hệ dài hạn
dựa trên sự tin tưởng.
 Giải quyết sự khác biệt:
Người Nhất rất ngại đối đầu công khai. Họ thích tránh sự các câu nói hoặc câu
hỏi trực tiếp. Họ sẽ không đưa ra một câu trả lời không trực tiếp cho một lời đề nghị vì
điều này bị coi là rất khiếm nhã. Phong thái hòa hợp là rất quan trọng. Vì vậy cũng vô
cùng quan trọng khi không bao giờ làm người khác phải lúng túng.
Nhóm 13 - 22 -
Bài tập nhóm môn QTKDQT GV: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Người Nhật có thể rất nghiêm túc khi giải quyết các khác biệt vì quá trình xây
dựng sự đồng thuần phức tạp của họ. Họ không đưa ra một đề nghị cho đến khi họ
cảm thấy hoàn toàn thoải mái với nó và họ không muốn nhượng bộ.
Cách thức buôn bán cứng nhắc và cách tiếp cận vồ vập, đầy tính tranh cãi sẽ chỉ
đổi lấy sự lạnh nhạt của người Nhật. Thời hạn hợp đồng linh hoạt sẽ không được chấp
nhận. Tránh bất kỳ hình thức đàm phán nào có thể dẫn đến sự mất mặt.
 Đi đến sự thỏa thuận:
Điều đề nghị đầu tiên được người Nhật đưa ra có thể là những gì họ tin là giải
pháp tốt nhất cho cả hai bên. Nếu đối tác nước ngoài không đồng tình, họ cần đưa ra
một giải pháp chia sẻ.

Nhật trước khi chuyển việc thảo hợp đồng cho luật sư nêu không nó sẽ tạo ra ấn tượng
xấu đối với người Nhật.
Khi một hợp đồng được ký, người Nhật Bản luôn tổ chức một buổi lễ ký kết
hợp đồng. Việc đối tác trực tiếp tham dự buổi lễ này là vô cùng quan trọng. Quà tặng
sẽ được trao đổi.
 Danh thiếp và quà tặng:
Danh thiếp là rất quan trọng trong kinh doanh với người Nhật. Đưa danh thiếp
(Meishi) là các thông tin để nhận biết một người. Sẽ thật sáng suốt nếu danh thiếp
được in một mặt tiếng Nhật và một mặt tiếng Anh. Danh thiếp được đưa và nhân phải
sử dụng hai tay.
Quà tặng sẽ được trao đổi trong khi diễn ra buổi lễ ký kết hợp đồng. Không
tặng quà với số lượng là 4 hoặc 9; không tặng những vật nhọn, vật có màu tím, màu
xanh vì đối với người Nhật đây là những thứ tượng trưng cho điều đau buồn và không
may.
2.2 Ảnh hưởng của yếu tố giá trị và chuẩn mực trong hoạt động ngoại thương
giữa doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản:
2.2.1 Ảnh hưởng đến quá trình đám phán ký kết hợp đồng ngoại thương:
Khâu đầu tiên trong quan hệ kinh doanh với đối tác nước ngoài là tiếp xúc, làm
quen và đàm phán.Đây là giai đoạn giới thiệu về bản thân và tìm hiểu phía đối tác, và
kỹ năng giao tiếp đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Để giao tiếp thành công, doanh nhân
phải có hiểu biết đầy đủ về văn hóa của phía đối tác, đặc biệt là các yếu tố giá trị và
chuẩn mực trong hoạt động ngoại thương sao cho không phạm phải những lầm lẫn
không đáng có trong tiếp xúc và đàm phán.
Với phía đối tác Nhật Bản, tuy cũng là những người Á châu mang đậm trong
mình lối suy nghĩ Đông phương, song không phải là không có những khác biệt đáng
kể trong giao tiếp mà có thể ảnh hưởng đến quá trình tiếp xúc, đàm phán. Người Nhật
rất nghiêm khắc, tính toán cẩn thận và khó chịu trong kinh doanh, cho nên khi hợp tác
làm ăn với người Nhật thì việc hiểu rõ về họ là bước quyết định sự thành công trong
các cuộc đàm phán.
2.2.1.1 Ảnh hưởng của ngôn ngữ đến giao tiếp và đàm phán:

thấy bực mình khó chịu, cắt đứt đàm phán, hoặc nói lại lập trường của mình thì rất dễ
bị đẩy vào tình thế bị động và bất lợi về phía mình.Đạo đức Nhật Bản quy định tránh
sự đối đầu trực tiếp, kể cả trong trường hợp một bên hoàn toàn thắng bên kia. Do đó
trong đàm phán, khi đối mặt hoặc công khai đấu tranh với đối phương, họ không tỏ ra
phản ứng ngay, họ biết cách sử dụng khéo léo những tài liệu có trong tay để giải quyết
nhẵng vấn đề sao cho có lợi nhất về phía họ. Người Nhật luôn coi đàm phán như một
cuộc đấu tranh nhưng đồng thời người Nhật lại không thích tranh luận chính diện với
đối thủ đàm phán.Khi họ cho rằng mình đúng mà đối phương tiếp tục tranh luận thì họ
nhất định sẽ không phát biểu thêm.Họ cũng tránh xung đột bằng cách thỏa hiệp, co
cụm và không áp dụng hành động nếu như họ cho rằng họ chưa suy nghĩ được thấu
đáo mọi vấn đề.
2.2.1.3. Ảnh hưởng của phong cách làm việc đến giao tiếp và đàm phán:
Nhật Bản tuy là một nước Châu Á nhưng lại là một nước công nghiệp phát triển
và phong cách làm việc của họ phần nào mang tính công nghiệp cao của phương Tây.
Điều đó thể hiện rõở tính chính xác vềgiờgiấc của người Nhật. Người Nhật Bản luôn
Nhóm 13 - 25 -

Trích đoạn Cường độ và tác phong làm việc: Ảnh hưởng của hệ giá trị đến tiêu dùng: Ảnh hưởng của óc thẩm mỹ đến tiêu dùng: Ảnh hưởng của thói quen mua sắm đến tiêu dùng:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status