PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM - Pdf 73

PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
1. Thực trạng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
a. Doanh nghiệp nhỏ và vừa trước năm 2000
Như chúng ta đã biết, sự tồn tại và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân
mới được chính thức thừa nhận từ năm 1990. Khi luật doanh nghiệp tư nhân và
luật Công ty được thông qua. Từ đó đến nay loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam
cũng trở nên phong phú hơn như Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phẩn …
- Theo số liệu điều tra về khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tiến hành trong
2 năm 1995 - 1996 thì đến ngày 31/7/1996 có 1.439.683 đơn vị kinh doanh tư
nhân, trong đó gồm 1.412.166 cá nhân và nhóm kinh doanh, 17.535 doanh nghiệp
tư nhân, 6883 Công ty trách nhiệm hữu hạn, 153 Công ty cổ phần và 2946 hợp tác
xã. Như vậy, xét về số lượng đơn vị kinh doanh thì hình thức cá nhân và nhóm
kinh doanh và tiếp đến là doanh nghiệp tư nhân là những hình thức kinh doanh phổ
biến ở Việt Nam hiện nay.
- Số lượng các đơn vị kinh doanh chủ yếu tập trung ở 3 vùng:
+ Vùng đồng bằng sông Cửu Long 24%; vùng đồng bằng sông Hồng 21%;
vùng miền đông Nam Bộ 19%. Tiếp đó là 13% ở vùng khu bốn cũ; 10% ở vùng
duyên hải miền Trung; 9% miền núi trung du; 4% ở Tây Nguyên. Như vậy số
lượng doanh nghiệp tư nhân ở 3 vùng đầu đã chiếm hơn 60% đơn vị kinh doanh tư
nhân trên địa bàn cả nước.
Bảng phân bố cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh theo vùng
bảng 2 Đơn vị: %
Phân theo vùng lãnh thổ Loại hình doanh nghiệp
DNTN Cty TNHH Cty Cổ phần HTX Hộ GĐ
1. Vùng núi trung du 3,91 3,79 1,96 12,49 9,62
2. Đồng bằng sông Hồng 5,32 32,7 22,88 48,07 21,19
3. Khu bốn cũ 2,74 2,44 1,31 8,72 13,26
4. Duyên hải miền trung 20,64 4,71 7,19 11,2 10,14
5. Tây Nguyên 2,46 1,09 1,31 2,14 3,72
6. Đông Nam Bộ 24,8 51,27 53,59 12,8 18,43

0,47 3,17 5,88 0,1 1,21
13. Giáo dục và đào tạo 0,0 0,01 0,00 0,00 0,02
14. Hoạt động y tế 0,01 0,03 0,00 0,00 0,56
15. Hoạt động văn hoá thể thao 0,04 0,1 0,00 0,03 1,05
16. Hoạt động phục vụ cộng đồng 2,21 0,97 0,00 0,24 2,21
% Tổng số 100 100 100 100 100
Nguồn: Vụ doanh nghiệp bộ KH&ĐT
- Xét về doanh thu của các loại hình doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư
nhân, thì cá nhân và nhóm kinh doanh chỉ chiếm 40% tổng doanh thu của khu vực
kinh tế tư nhân. Như vậy về khía cạnh này nhóm doanh nghiệp đăng ký chính thức
gồm doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần chiếm
phần quan trọng (khoảng 57%). Điều này có thể do các doanh nghiệp tư nhân khai
báo không đúng về doanh thu của doanh nghiệp của mình để tránh đóng thuế cao
hơn. Và nếu muốn kinh doanh theo quy mô lớn thì chắc chăn phải chuyển đổi sang
hình thức doanh nghiệp đăng ký chính thức hoạt động theo những nguyên tắc của
thị trường.
Điều đáng lưu ý là doanh thu khu vực miền Đông Nam Bộ, gồm cả thành
phố Hồ Chí Minh chiếm tới 51% tổng doanh thu của khu vực kinh tế tư nhân trên
cả nước. Tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Cửu Long 22%; vùng đồng bằng sông
Hồng 17%. Như vậy xét về doanh thu của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam chủ
yếu tập trung ở miền nam Việt Nam.
Doanh thu của các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh phân theo khu vực lãnh
thổ
bảng 4 Đơn vị tính: %
Phân theo vùng lãnh thổ Loại hình doanh nghiệp
DNT
N
Cty
TNHH
Cty

doanh.
+ Hoạt động của họ chủ yếu mang tính phi hình thức vì họ không có yêu cầu
phải sử dụng luật lệ của Nhà nước. Trong môi trường đó sự quen biết, tin cậy lẫn
nhau là trên hết “việc ký kết hợp đồng chủ yếu diễn ra ở trong nhà hàng, sân thể
thao”.
+ “Cho đến nay kỹ năng và hiểu biết về quản trị kinh doanh mới bắt đầu xây
dựng. 75% doanh nghiệp có đăng ký chính thức là doanh nghiệp tư nhân. Trao đổi
với một số doanh nghiệp ở một số địa phương cho thấy đa số các chủ doanh nghiệp
được hỏi chưa hiểu biết được địa vị trong pháp lý kinh doanh. Họ không hiểu được
rằng kinh doanh dưới nhiều hình thức doanh nghiệp tư nhân là họ phải chịu trách
nhiệm vô hạn về tài sản của mình và họ có thể rơi vào tình trạng bần cùng hoá. Họ
cũng không hiểu được rằng kinh doanh theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu
hạn, và Công ty cổ phẩn thì sẽ chịu trách nhiệm hữu hạn trong việc chịu sự rủi ro
về tài sản”
4
.
- Cũng từ thực tế cho thấy có 3 lý do cơ bản để người khởi sự kinh doanh ưa
chuộng hình thức cá nhân và nhóm kinh doanh là:
+ Thủ tục cho việc khởi sự kinh doanh cũng như chấm dứt kinh doanh theo
hình thức cá nhân và nhóm kinh doanh đơn giản nhanh chóng thuận lợi và ít tốn
kém. Nói cách khác, sự kéo dài chậm trễ, phức tạo và tốn kém trong thủ tục thành
lập và đăng ký kinh doanh, trong việc xin phép đầu tư, xin phép mở rộng quy mô
và đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh … đã làm nản lòng không ít các nhà đầu tư
muốn thành lập doanh nghiệp, thúc đẩy họ thực hiện kinh doanh ngầm hoặc dưới
hình thức cá nhân và hộ kinh doanh dưới vốn pháp định.
4 chương trình diễn đàn doanh nghiệp
+ Cách thức ghi sổ sách kế toán đơn giản hơn, từ đó dễ thực hiện hơn, cách
thức và hình thức nộp thuế cũng linh hoạt hơn, do đó khả ănng bị áp đặt mức thuế,
và số thuế phải nộp cúng ít hơn.
+ Sự kiểm tra bằng biện pháp hành chính của các cơ quan Nhà nước ít hơn.

tốt nghiệp đại học nếu so sánh với doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài.
+ Doanh nghiệp tư nhân khó có thể vay vốn để mở rộng quy mô sản xuất.
Trên đây là một vài đánh giá tổng quát của doanh nghiệp nhỏ và vừa trước
năm 2000.
b. Doanh nghiệp nhỏ và vừa sau năm 2000.
Năm 2000 là năm đánh dấu mốc quan trọng đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Đó là năm luật doanh nghiệp ra đời. Luật doanh nghiệp được quốc họi ban hành và
có hiệu lực từ ngày 1/1/2000 đã thay thế cho 2 luật là luật Công ty và luật doanh
nghiệp tư nhân trước đây:
Luật doanh nghiệp ra đời nhằm mục tiêu “giải phóng và phát huy mọi lực
lượng mọi tiềm năng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho mọi người, mọi gia đình, mọi
doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả … Tạo môi trường và tạo điều kiện cho kinh
tế tư nhân phát triển, không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những
lĩnh vực mà pháp luật không cấm”.
- Một số ý nghĩa quan trọng được thể hiện trong nội dung của luật doanh
nghiệp là:
+ Luật doanh nghiệp tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng môi trường kinh
doanh bình đẳng đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp, tiến tới xây dựng luật
thống nhất áp dụng cho các chủ thể kinh doanh.
+ Nội dung của luật doanh nghiệp chủ trương cải cách hành chính tạo môi
trường kinh doanh thực sự thuận lợi khuyến khích và thúc đẩy các nguồn nội lực.
+ Luật doanh nghiệp đã cụ thể hoá và phát triển nguyên tắc tự do kinh doanh
theo quy định của pháp luật, từng bước thay thế cơ chế “dân cư và doanh nghiệp
chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép” bằng cơ chế “dân chủ và doanh
nghiệp được làm những gì mà pháp luật không cấm” đồng thời tăng cường hiệu lực
quản lý của Nhà nước bằng pháp luật.
- Chúng ta có thể nhận thấy môi trường kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và
vừa thuận lợi hơn qua việc đăng ký thành lập kinh doanh.
+ Đối tượng được quyền thành lập, quản lý và góp vốn được mở rộng thêm,

doanh nghiệp với thủ tướng chính phủ vào tháng 3 hàng năm.
Bên cạnh những thuận lợi về kinh doanh do luật doanh nghiệp đem lại song
các doanh nghiệp tư nhân vẫn gặp một số khó khăn đó là:
- Một số bộ ngành - uỷ ban nhân dân các tỉnh vẫn tự ý ban hành một số
quyết định tạm ngừng đăng ký kinh doanh trên một số lĩnh vực điều này trái với
tinh thần của luật doanh nghiệp.
- Còn tồn tại rất nhiều giấy phép quy định đăng ký kinh doanh đối với những
ngành nghề có điều kiện và thủ tục xin giấy phép này rất khó khăn và phức tạp.
- Còn một số vướng mắc trong việc thi hành luật doanh nghiệp cần thoá gỡ.
Điều này được thể hiện qua một số thắc mắc về luật doanh nghiệp của các nhà kinh
doanh với thủ tướng qua các cuộc gặp gỡ hàng năm.
2. Phân tích sự tác động của môi trường kinh doanh của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa
2.1. Môi trường kinh tế.
a. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được ban hành ngày 25/9/1989 đã tạo ra một cơ
sở pháp lý cho các giao dịch thương mại trên thị trường. Và là bước căn bản cho
việc điều chỉnh nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Sau 14 năm thực hiện pháp lệnh hợp đồng kinh tế chúng ta có thể thấy một
số điểm hạn chế của pháp lệnh hợp đồng kinh tế như sau:
- Trong khi các hoạt động giao dịch trên thị trường rất đa dạng tính chất rất
khác nhau thì pháp lệnh chỉ đưa ra những quy định chung cho tất cả các loại hình
hoạt động, vì thế nó không thể đáp ứng được nhu cầu khác biệt của các hoạt động
này.
- Điều 13 pháp lệnh quy định “những thoả thuận về chất lượng sản phẩm
hàng hoá công việ trong hợp đồng kinh tế phải phù hợp với những quy định về chất
lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật của Nhà nước” trên thực tế những quy định này được áp
dụng đối với những sản phẩm cuối cùng, chứ không phải cho các bán thành phẩm,
trong khi đó nhiều sản phẩm được giao dịch trong hợp đồng chỉ được sử dụng đầu
vào cho quá trình sản xuất. Vì thế quy định quá chặt chẽ về mặt chất lượng này sẽ

hành vi thương mại khác nhau với sự ban hành của luật thương mại thì giao dịch
của các thương nhân đã được điều chỉnh một cách cụ thể và chi tiết cho từng loại
hình. Một số điều khoản liên quan đến hợp đồng kinh tế đã được thay đổi hơn để
phù hợp với cơ chế thị trường. Ví dụ về trường hợp thoả thuận lãi phải trả trong
việc thanh toán chậm cho khách hàng. Thương nhân đã được tự do hơn trong việc
ra quyết định ký kết hợp đồng, đặc biệt nghị định 57/1999 đã cho phép tất cả mọi
doanh nghiệp đều được phép kinh doanh xuất nhập khẩu. Sự đổi mới này không
những là một bước tiến quan trọng và cơ bản cho quá trình tự do hoá thương mại
mà còn cải thiện một cách rõ rệt trong việc ký kết hợp đồng. Các doanh nghiệp có
thể trực tiếp và giao dịch ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu với đối tác nước ngoài
chứ không phải thông qua uỷ thác, do đó họ có thể tiết kiệm được thời gian và chi
phí giao dịch.
c. Những tác động đến doanh nghiệp nhỏ và vừa
Cùng với một số luật khác, pháp lệnh hợp đồng kinh tế cũng như luật thương
mại đã tạo thuận lợi cho các giao dịch kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã tạo cơ sở pháp lý cho các giao dịch thương
mại trên thị trường, định quyền và trách nhiệm của các bên ký kết hợp đồng điều
này rất có lợi cho các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nhỏ và
vừa.
- Nhà nước chính thức bảo hộ quyền lợi cho các bên tham gia ký kết hợp
đồng.
- Sự bình đẳng các giữa các pháp nhân và cá nhân được pháp luật khẳng
định bất kể quy mô nào hoặc thành phần kinh tế nào.
Cũng như ở nhiều chính sách kinh tế khác, sự ưu đãi của Nhà nước chủ yếu
được xác định theo thành phần kinh tế chứ không theo quy mô do đó doanh nghiệp
nhỏ và vừa cũng gặp một số khó khăn nhất định.
- Do quy mô nhỏ nên một số đối tác cung ứng cũng như tiêu thụ các doanh
nghiệp này cũng không lớn, thậm chí một số còn không có cả giấy phép kinh
doanh. Trong trường hợp này hoặc doanh nghiệp nhỏ và vừa phải ký kết hợp đồng
dân sự hoặc đối tác của họ phải nhờ tư cách pháp nhân của doanh nghiệp khác để

dẫn đến hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh.
2.2.2. Các Công ty độc quyền phân chia và khống chế thị trường ở một số
lĩnh vực làm cho các Công ty tư nhân không thể xâm nhập vào được mặc dù các
Công ty này có đủ năng lực để đảm nhận công việc đó. Điều này đã làm hạn chế t
rong việc xây dựng thương hiệu và hình ảnh của các doanh nghiệp mà điều này lại

Trích đoạn Chính sách vốn: Chính sách về lao động.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status