Tác động của chất lượng báo cáo tài chính đến chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở việt nam - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------

NGUYỄN HƯƠNG GIANG

TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG BÁO
CÁO TÀI CHÍNH ĐẾN CHI PHÍ SỬ
DỤNG NỢ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------

NGUYỄN HƯƠNG GIANG

TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG BÁO
CÁO TÀI CHÍNH ĐẾN CHI PHÍ SỬ
DỤNG NỢ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

4. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................... 3
6. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 4
7. Kết cấu đề tài ................................................................................................... 5
8. Ý nghĩa nghiên cứu ......................................................................................... 5
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ......................................................................................................................... 7
1.1. Tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa chất lượng
BCTC đo lường bằng chất lượng lợi nhuận và chi phí sử dụng nợ .................. 7
1.1.1.

Các nghiên cứu trên thế giới ................................................................ 7

1.1.2.

Các nghiên cứu ở Việt Nam ............................................................... 11

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ....................................................................... 14
2.1. Một số khái niệm và thuật ngữ .................................................................... 14
2.1.1.

Biến kế toán dồn tích (Accrual) ......................................................... 14

2.1.2.

Quản trị lợi nhuận (Earning Management) ..................................... 14

2.1.3.

Chất lượng lợi nhuận (Earning Quality) .......................................... 18


3.2. Mô hình nghiên cứu ...................................................................................... 38
3.2.1.

Mô hình nghiên cứu ............................................................................ 38

3.2.2.

Đo lường biến ...................................................................................... 40

3.3. Phương pháp ước lượng ............................................................................... 49
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN ................................. 52
4.1. Thống kê mô tả và ma trận tương quan ..................................................... 52
4.2. Phân tích kết quả ước lượng ........................................................................ 59
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................... 66
5.1. Kết luận .......................................................................................................... 66
5.2. Kiến nghị ........................................................................................................ 67
5.3. Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ........................................... 68
5.3.1.

Hạn chế đề tài ......................................................................................... 68

5.3.2.

Hướng nghiên cứu tiếp theo .................................................................. 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


HOSE

Sở giao dịch chứng khoản Tp.Hồ Chí Minh

IASB

OTC

International Accounting Standards Board – hội đồng chuẩn
mực kế toán quốc tế
Ordinary least squares - Phương pháp hồi quy kết hợp tất cả
các quan sát.
Thị trường giao dịch phi tập trung

QTLN

Quản trị lợi nhuận

S&P 500

TTKT

Standard & Poor's 500 Stock Index - Chỉ số cổ phiếu 500 của
Standard & Poor
Security and Exchange Commission - Ủy ban chứng khoán và
thị trường chứng khoán Mỹ
Small and medium-sized enterprises - Các doanh nghiệp nhỏ
và vừa
Thông tin kế toán

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1. Thiết kế quy trình nghiên cứu ................................................................... 35
Hình 3.2. Số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa theo ngành nghề kinh doanh .......... 37
Hình 3.3. Mô hình nghiên cứu.................................................................................... 38
Hình 4.1. Diễn biến lãi suất cho vay của Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2015 ... 53
Hình 4.2. Diễn biến điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
trong giai đoạn 2006 – 2014 ......................................................................................... 54


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) là một trong những chủ đề nghiên cứu
phổ biến trong ngành kế toán, có liên quan tới việc cung cấp thông tin cho các bên liên
quan trong doanh nghiệp. Trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và chủ nợ, việc thiết
lập các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay thường chủ yếu dựa vào các
con số trong BCTC. Vì vậy, khi xảy ra hiện tượng bất cân xứng thông tin do chất lượng
thông tin thể hiện trên báo cáo tài chính thấp sẽ làm ảnh hưởng đến các quyết định tài
trợ. Các doanh nghiệp có mức bất cân xứng thông tin cao sẽ khó tiếp cận với các nguồn
tài trợ bên ngoài hơn hoặc gặp phải những điều khoản cho vay khắc khe, rút ngắn thời
hạn cho vay và chịu chi phí sử dụng vốn cao, được coi như là sự bảo vệ bằng giá mà
chủ nợ đặt ra nhằm hạn chế rủi ro tín dụng.
Tại Việt Nam, nguồn tài trợ đến từ việc vay nợ còn chiếm tỷ trọng cao trong cơ
cấu vốn, bảng 0.1 dưới đây cho thấy tình hình vay nợ và vốn cổ phần của các doanh
nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2015.
Bảng 0.1. Tình hình vay nợ và vốn cổ phần của các doanh nghiệp từ năm 2005 –
2015
Năm


20.88% 36.13% 21.85% 32.60% 28.46% 35.62% 18.82% 50.66%

2009

20.94% 32.41% 24.21% 31.21% 27.53% 33.62% 21.38% 43.35%

2010

21.27% 32.35% 24.55% 31.13% 29.05% 32.94% 23.14% 41.07%


2

2011

21.11% 34.07% 25.98% 30.69% 29.69% 32.46% 24.42% 45.70%

2012

20.68% 35.79% 25.46% 31.32% 31.03% 34.98% 24.27% 51.07%

2013

20.27% 36.86% 25.64% 31.73% 30.27% 36.24% 22.75% 54.17%

2014

19.50% 38.53% 24.35% 32.70% 28.71% 37.85% 21.73% 54.97%

2015

Mục tiêu chính của bài nghiên cứu như sau:
-

Xem xét tác động của chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi

nhuận đến chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay.
-

Đề xuất các kiến nghị liên quan đến việc trình bày và công bố, sử dụng

và quản lý chất lượng BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn tập trung vào các câu hỏi
nghiên cứu sau:
-

Tác động của chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi nhuận đến

chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam như thế nào?
-

Cần đề xuất một số kiến nghị nào đối với các đối tượng liên quan đến

việc trình bày và công bố, sử dụng và quản lý chất lượng BCTC của các doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay?
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà tác giả hướng đến là chất lượng báo cáo tài chính và
chi phí sử dụng nợ vay của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cụ thể là tác giả sẽ sử dụng
dữ liệu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong giai
đoạn 2005 – 2015.

GMM để khắc phục các khiếm khuyết mắc phải. Đồng thời bài nghiên cứu cũng sẽ sử
dụng phương pháp tổng hợp cho phần tổng quan các nghiên cứu có liên quan để có cái
nhìn chung nhất về vấn đề và có thể rút ra được yếu tố kế thừa từ các bài nghiên cứu
trước. Tác giả cũng tiến hành thêm phương pháp so sánh và phân tích cho các kết quả
thu được trong phần bàn luận để có được nhận định cuối cùng về vấn đề cần nghiên
cứu.


5

7. Kết cấu đề tài
Luận văn được xây dựng thành 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan các nghiên cứu có liên quan.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
8. Ý nghĩa nghiên cứu
8.1 Ý nghĩa khoa học:
Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính đo lường theo
chất lượng lợi nhuận ảnh hưởng đến chi phí sử dụng nợ ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Việt Nam không chỉ góp phần giải thích hoàn thiện lý thuyết làm tài liệu tham khảo
cho các đề tài nghiên cứu có liên quan. Đặc biệt, kết quả kiểm định trong bài nghiên
cứu của tác giả còn giải thích mức độ chất lượng lợi nhuận ảnh hưởng đến chi phí sử
dụng vốn ở Việt Nam.
8.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Mục tiêu chính của bài luận văn là giải thích mối quan hệ chất lượng BCTC đo
lường theo chất lượng lợi nhuận và chi phí sử dụng nợ. Hay nói cách khác, tác giả
nghiên cứu tác động của chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi nhuận đến chi
phí sử dụng nợ.

CHƯƠNG 1.

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN

Giới Thiệu
Trong chương này tác giả tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề
nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước, qua đó đưa ra lỗ hổng nghiên cứu (research
gap).
1.1.

Tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa chất lượng

BCTC đo lường theo chất lượng lợi nhuận và chi phí sử dụng nợ
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Một trong các nỗ lực gần đây của các nhà nghiên cứu đã tập trung vào chất
lượng BCTC trong mối quan hệ với chi phí sử dụng vốn. Anderson và các cộng sự
(2003) thu thập mẫu 252 công ty công nghiệp từ cơ sở dữ liệu của Lehman Brothers
Fixed Income và S&P 500 giai đoạn 1993 đến 1998, các tác giả lập luận rằng HĐQT
và kích thước ban kiểm toán có liên quan nghịch biến đến chi phí sử dụng nợ. Điều này
cho thấy rằng, quy mô HĐQT lớn hơn và kích thước ban kiểm toán cung cấp 1 sự giám
sát lớn hơn các quy trình kế toán tài chính. Quy mô của hội đồng quản trị và sự độc lập
hoàn toàn bên kiểm toán sẽ có ảnh hưởng cùng chiều với độ tin cậy của chất lượng
BCTC và do đó sẽ làm giảm đáng kể chi phí sử dụng nợ.
Việc nâng cao chất lượng BCTC yêu cầu các doanh nghiệp cần cung cấp nhiều
thông tin hơn với chất lượng thông tin tăng lên, để đảm bảo rằng những người tham gia
thị trường có đầy đủ thông tin để đưa ra các quyết định về đầu tư, tín dụng,… Thông
tin có chất lượng cao tạo điều kiện cho sự minh bạch, điều này sẽ giúp làm giảm vấn đề
bất cân xứng thông tin, thỏa mãn các yêu cầu của nhà đầu tư và cổ đông. Hàng loạt lợi
thế của việc cung cấp thông tin có chất lượng cao đã được các nhà nghiên cứu nhắc

thấp. Hơn nữa, nhóm tác giả cũng cho thấy rằng phí bảo hiểm rủi ro chất lượng dồn


9

tích gắn liền với rủi ro cơ bản liên quan đến điều kiện kinh tế vĩ mô và hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Hơn thế nữa, Gray và các cộng sự (2009) đã tăng thêm bằng chứng thực nghiệm
bằng cách giải thích các doanh nghiệp ở thị trường Úc. Mẫu được chọn từ dữ liệu kế
toán cho nghiên cứu được rút ra từ cơ sở dữ liệu FindAnalysis Aspect cho giai đoạn
1992-2005. Nhóm tác giả đã sử dụng dụng mô hình chất lượng dồn tích của Dechow và
Dichev (2002) và đã cung cấp bằng chứng về rủi ro thông tin. Cụ thể hơn, họ tìm thấy
rằng rủi ro thông tin thể hiện như là một nhân tố tạo ra rủi ro về giá trong các doanh
nghiệp Úc và ảnh hưởng đến việc quyết định chi phí sử dụng vốn. Nhóm tác giả cũng
đã chỉ ra rằng chi phí sử dụng vốn phụ thuộc nhiều vào các khoản dồn tích tự nguyện
hơn là các khoản dồn tích tùy ý.
Theo Gao (2010) tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa chất lượng BCTC và
chi phí sử dụng vốn chỉ tồn tại với một số điều kiện nhất định. Với nền kinh tế có sự
cạnh tranh của các nhà đầu tư là hoàn hảo, tác giả đưa ra các điều kiện mà ở đó mối
quan hệ nghịch biến giữa chất lượng BCTC và chi phí sử dụng vốn có thể sẽ không xảy
ra. Chất lượng công bố thông tin BCTC cải thiện phúc lợi của nhà đầu tư bằng cách
giảm chi phí sử dụng vốn.
Costello và Wittenberg-Moerman (2010) đã thu thập dữ liệu về các báo cáo
kiểm soát nội bộ yếu kém theo đạo luật Sarbanes-Oxley, từ những phân tích của kiểm
toán ở mục 302. Mẫu ban đầu gồm 2,231 công ty có báo cáo yếu kém trọng yếu trong
giai đoạn từ tháng 9/2002 đến tháng 7/2008. Nhóm tác giả kết hợp mẫu báo cáo kiểm
soát nội bộ của họ với các công ty nhà nước trong cơ sở dữ liệu của DealScan và giữ
lại tất cả các khoản vay đã được phát hành trước đó, bao gồm cả kỳ chưa chỉnh sửa và
được chỉnh sửa. Sau khi điều chỉnh nhóm tác giả yêu cầu công ty phải có ít nhất 1
khoản vay đã phát hành trong kỳ trước và ít nhất 1 khoản vay được phát hành trong

lượng BCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn 1997 – 2010, và tìm


11

thấy bằng chứng rằng chất lượng BCTC của doanh nghiệp nhỏ và vừa có ảnh hưởng
ngược chiều đến chi phí lãi vay của các doanh nghiệp. Các tác giả lập luận rằng lợi
nhuận là nhân tố quan trọng để các chủ nợ dự báo các khả năng trả nợ của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa (chẳng hạn như dòng tiền trong tương lai) và sai sót nhỏ trong việc
ước tính các khoản dồn tích có thể gia tăng chất lượng lợi nhuận để dự báo dòng tiền
trong tương lai. Các tác giả cũng kết luận rằng chất lượng BCTC càng cao sẽ càng có
thể làm giảm vấn đề bất cân xứng thông tin giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa và các
chủ nợ của họ. Tóm lại, các nghiên cứu trước đây đề nghị rằng mối quan hệ giữa chất
lượng BCTC và chi phí sử dụng nợ là mối quan hệ ngược chiều.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi
nhuận cũng có 1 số nhà nghiên cứu quan tâm, cụ thể như sau:
Bài nghiên cứu của Bùi Thị Thủy (2014) đã xem xét chất lượng kiểm toán báo
cáo tài chính đối với các doanh nghiệp niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam.
Kết quả cho thấy có 3 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính,
bao gồm: nhân tố bên ngoài (môi trường pháp lý, doanh nghiệp niêm yết và kiểm soát
bên ngoài và khác), nhân tố về kiểm toán viên và nhân tố công ty kiểm toán. Từ đó, tác
giả đã đưa ra các biện pháp để giúp tăng chất lượng của BCTC. Đầu tiên, kinh nghiệm,
ý thức tuân thủ quy định và tính chuyên nghiệp của các kiểm toán viên cần được nâng
cao. Thứ hai, cần nâng cao tính hiệu quả của các chính sách quản lý, vận hành, cùng
các phương pháp được sử dụng của các công ty kiểm toán. Thứ ba, các cơ quan có
thẩm quyền nên tăng tính hiệu quả trong vai trò hỗ trợ đào tạo, tọa đàm trao đổi kinh
nghiệm.
Theo tác giả Trần Thị Thùy Linh cùng cộng sự (2015) đã cho thấy chất lượng
BCTC và kỳ hạn nợ ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Việt



13

nhuận dựa trên cơ sở kế toán và thị trường. Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy
có nhiều sự khác biệt so với kết quả ở các quốc gia khác, từ đó giúp cho các đối tượng
có liên quan cải thiện được việc lập và trình bày, sử dụng và quản lý chất lượng BCTC
của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam.
Như vậy, các nhà nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã bước đầu quan tâm đến việc
nghiên cứu các chủ đề liên quan đến BCTC. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đã
thực hiện chỉ dừng lại ở việc phân tích các nội dung cơ bản liên quan đến BCTC, chỉ có
một vài nghiên cứu về mức độ công bố thông tin, tính minh bạch của BCTC, chất
lượng BCTC đo lường theo chất lượng mà chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào việc
phân tích định lượng chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi nhuận với chi phí
sử dụng nợ. Do đó, tác giả nhận thấy đây là lỗ hổng nghiên cứu để tác giả tiến hành
nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng BCTC và chi phí sử dụng nợ của các doanh
nghiệp tại Việt Nam nhằm hoàn thiện nội dung nghiên cứu về chủ đề này.
Kết luận
Trong chương 1, tác giả đề cập đến những nghiên cứu mà tác thu thập được có
liên hệ với đề tài mà tác giả đang thực hiện cả trong và ngoài nước. Đối với bài nghiên
cứu nước ngoài, khi kiểm tra mối quan hệ giữa chi phí sử dụng nợ và chất lượng BCTC
cho thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa hai yếu tố này như trong nghiên cứu của
Bauwhede và các cộng sư (2015)... Tuy nhiên tại Việt Nam, còn khan hiếm các đề tài
nghiên cứu về mối quan hệ trên, dựa vào đó tác giả xác định lỗ hổng nghiên cứu làm ý
tưởng cho việc thực hiện đề tài này.


14

CHƯƠNG 2.



15

xem là quan điểm mang lại hiệu quả tối ưu nhất khi tiếp cận BCTC vì đó là gian lận
phổ biến nhất trong thị trường vốn (Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016). Việc QTLN là
một chiến lược của các nhà quản trị để quản lý được lợi nhuận của các doanh nghiệp,
nâng cao mức lợi nhuận, đáp ứng các mục tiêu đã đề ra trước đó của ban lãnh đạo. Do
đó, thay vì báo cáo lợi nhuận cao bất thường của doanh nghiệp trong một năm và lợi
nhuận thấp vào những năm khác, các doanh nghiệp thường cố gắng giữ mức lợi nhuận
ổn định hằng năm.
Theo Security and Exchange Commission (SEC), việc lạm dụng QTLN là một
cách thức làm sai kết quả BCTC có chủ ý. Khi mức độ ổn định của lợi nhuận bị phóng
đại, SEC có quyền đưa ra các hình phạt. Các phương pháp được sử dụng bởi các nhà
quản lý để làm ổn định lợi nhuận có thể phức tạp, có thể liên quan đến các lựa chọn kế
toán hoặc các quyết định điều hành (cũng có thể gọi là quản lý kinh tế lợi nhuận). Các
nhà quản lý luôn hứa sẽ đem lại những con số lợi nhuận cao nên sẽ có những lúc bị
cám dỗ để bịa ra những con số. Chính vì vậy, việc QTLN là một hành động cố ý, hành
động này có thể hợp pháp hoặc không.
Mỗi giám đốc điều hành phải hiểu rằng tác động của các lựa chọn các phương
pháp kế toán có thể tác động đến các quyết định của doanh nghiệp. Việc QTLN còn
được gọi là “cách quản lý hợp lý và hợp pháp với mục đích tạo ra được các kết quả tài
chính ổn định”. Việc QTLN không được nhầm lẫn với các hoạt động không hợp pháp
với mục đích phóng đại các báo cáo tài chính và kết quả báo cáo không phản ánh được
nền kinh tế thực tế. Những hoạt động này được gọi là “book cooking” bao gồm các
hoạt động phóng đại kết quả tài chính.
Theo các tài liệu trước đây, các hành động trên sẽ dẫn đến việc các nhà quản lý
phải gặp những tình trạng vượt qua ranh giới của việc QTLN và “book cooking”.
Những áp lực của nhà quản lý khi phải tạo ra các lợi nhuận báo cáo cao được xác nhận
bởi một cuộc khảo sát được thực hiện ở hội nghị Business Week CFO được tổ chức

(Schipper, 2003). Bên cạnh đó, QTLN có thể xảy ra khi nhà quản trị sử dụng sự điều
chỉnh trong BCTC và trong cấu trúc giao dịch để thay đổi BCTC hoặc nhằm đánh lừa


17

một số bên liên quan về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty hoặc nhằm ảnh
hưởng đến kết quả các hợp đồng mà phụ thuộc vào số liệu báo cáo kế toán. QTLN như
những nỗ lực của nhà quản lý để gây ảnh hưởng hoặc “điều khiển” lợi nhuận bằng cách
sử dụng phương pháp kế toán đặc biệt (hoặc các phương pháp đang thay đổi), công
nhận một khoản mục không định kỳ, trì hoãn hoặc đẩy nhanh việc ghi nhận các giao
dịch chi phí hoặc doanh thu, hoặc sử dụng các phương pháp khác được thiết kế gây ảnh
hưởng đến lợi nhuận ngắn hạn.
Mặc dù có khá nhiều cách ghi nhận QTLN trước đây, nhưng trong phần lớn các
nghiên cứu, đã nhóm QTLN thành hai loại là quản trị thực và quản trị lợi nhuận dựa
trên biến kế toán dồn tích. Ở loại thứ nhất, QTLN thực (Real Earning Management)
như là một hành động có ảnh hưởng đến dòng tiền. Còn QTLN dựa trên biến kế toán
dồn tích (Accrual Management) chính là thông qua những thay đổi trong chính sách kế
toán và ước tính kế toán có thể kể đến những nghiên cứu của Jones (1991), Dechow và
các cộng sự (1995), Dechow và các cộng sự (2010).
Trong quá trình nghiên cứu đã cho tác giả thấy cách tiếp cận trực tiếp nhất
nhưng cũng là cách tiếp cận phổ biến nhất đối với QTLN chính là sử dụng biến kế toán
dồn tích. Các ý kiến ủng hộ cho rằng các nhà quản lý sẽ sử dụng phương pháp biến kế
toán dồn tích tùy ý để điều chỉnh doanh thu dịch chuyển giữa các kỳ kế toán hoặc trong
việc trì hoãn chi tiêu (Jones, 1991; Dechow và các cộng sự, 1995). Biến kế toán dồn
tích có thể điều chỉnh chính là lợi nhuận có được bằng việc vận dụng các phương pháp
kế toán – chính vì vậy nó được xem là đại diện cho QTLN. Từ đó có thể thấy rằng
QTLN không phải là một khái niệm mới mẻ và xa lạ, mà từ lâu đã được các nhà nghiên
cứu quan tâm, đồng thời cũng cho thấy đây là một vấn đề phức tạp, khó khăn trong
cách tiếp cận và định nghĩa chính xác, cụ thể và vẫn luôn là đề tài gây tranh cãi, thu hút


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status