Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam trong xu thế hội nhập - Pdf 22

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
***

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN
PHẨM TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT
TRIỂN VIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP Sinh viên thực hiện : Đỗ Thị Phƣơng
Lớp : A7
Khoá : K41C - KTNT
Giáo viên hướng dẫn : CN. Lê Thị Thanh

Đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm ngân hàng tại NH ĐT&PT VN"
Đỗ Thị Phương – A7 – K41C- KTNT Khóa Luận Tốt Nghiệp

1
LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế thời đại. Để bắt nhịp với
xu thế đó, Việt Nam đã chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế.
Tham gia sân chơi kinh tế quốc tế đồng nghĩa với việc mở cửa hơn nữa thị
trường tài chính, dịch vụ ngân hàng nước ngoài thâm nhập vào Việt Nam.
Đồng thời, sức ép đối với các NHTM Việt Nam tăng lên.
Thách thức lớn nhất trong hội nhập quốc tế trong dịch vụ ngân hàng
của Việt Nam là xuất phát điểm còn thấp về trình độ phát triển thị trường,
tiềm lực về vốn yếu, công nghệ và tổ chức ngân hàng lạc hậu, và trình độ
quản lý thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Mặt
khác, về chất lượng hoạt động, hầu hết các NHTM Việt Nam hoạt động tín
dụng vẫn là chủ yếu, sản phẩm dịch vụ còn sơ sài, thiếu các tiêu chí quản lý
theo tiêu chuẩn quốc tế.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam không nằm ngoài quỹ đạo
trên. NH ĐT&PT VN là một trong các NHTM quốc doanh hàng đầu Việt
Nam, tuy nhiên các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng còn khá đơn điệu, phổ
biến là các sản phẩm ngân hàng truyền thống. Vì vậy, để giành thế chủ động
trong tiến trình hội nhập, NH ĐT&PT VN phải giải quyết đồng bộ các vấn đề
của hoạt động kinh doanh, mà trước hết là vấn đề phát triển sản phẩm.
Bởi vậy việc nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, qua đó tìm các giải
pháp phù hợp với điều kiện cụ thể của NH ĐT&PT VN sẽ góp phần nâng cao
khả năng cạnh tranh trong xu thế hội nhập quốc tế. Cùng với kết quả từ việc
nghiên cứu tài liệu và tìm hiểu thực tế hoạt động của NH ĐT&PT VN, em đã
chọn và hoàn thiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm của

văn.

Đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm ngân hàng tại NH ĐT&PT VN"
Đỗ Thị Phương – A7 – K41C- KTNT Khóa Luận Tốt Nghiệp

3
CHƢƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM NGÂN
HÀNG TRONG XU THẾ HỘI NHẬP
I. TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM NGÂN HÀNG
1. Khái niệm và vai trò của sản phẩm ngân hàng
1.1. Khái niệm sản phẩm ngân hàng
1.1.1. Định nghĩa sản phẩm ngân hàng
Về cơ bản, một sản phẩm do một tổ chức cung cấp nó phải có khả năng
thỏa mãn một nhu cầu nhất định nào đó của khách hàng. Khách hàng của
ngân hàng có những nhu cầu cơ bản sau:
- Tìm kiếm thu nhập
- Quản lý rủi ro (cất giữ an toàn tiền, tài sản quý giá)
- Bổ sung các nguồn tài chính thiếu hụt (tín dụng)
- Di chuyển tiền tệ
- Tư vấn chuyên môn
- Thông tin….
Trên thực tế, hoạt động của ngân hàng đang cung cấp các sản phẩm
dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trên thị trường như:
- Dịch vụ cho vay;
- Dịch vụ tiền gửi ký thác;
- Dịch vụ chuyển tiền;
- Dịch vụ tư vấn;
- Dịch vụ cho thuê két sắt, gửi tiền qua đêm;
- Dịch vụ thanh toán;

trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng.
Đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm ngân hàng tại NH ĐT&PT VN"
Đỗ Thị Phương – A7 – K41C- KTNT Khóa Luận Tốt Nghiệp

5
Quá trình cung ứng sản phẩm của ngân hàng thường được tiến hành
theo những quy trình nhất định không thể chia cắt ra thành các loại sản phẩm
khác nhau như quy trình thẩm định, quy trình cho vay, quy trình chuyển tiền,
… Điều đó làm cho ngân hàng không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho
mà sản phẩm được cung ứng trực tiếp cho người tiêu dùng khi và chỉ khi có
nhu cầu; quá trình cung ứng diễn ra đồng thời với quá trình sử dụng.
- Tính không ổn định và khó xác định:
SPNH được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như: trình độ đội ngũ
nhân viên, kỹ thuật công nghệ và khách hàng. Đồng thời, SPNH còn được
thực hiện ở không gian khác nhau nên đã tạo nên tính không đồng nhất về
thời gian, cách thức thực hiện và điều kiện thực hiện. Các yếu tố này đan xen
chi phối đến chất lượng sản phẩm, nhưng lại thường xuyên biến động; đặc
biệt là đội ngũ nhân viên giao dịch trực tiếp là yếu tố quyết định và tạo ra sự
không ổn định và khó xác định về chất lượng SPNH.
1.2. Vai trò của sản phẩm ngân hàng
SPNH có vai trò rất quan trọng trong kinh tế, đời sống và quá trình hội
nhập quốc tế.
SPNH thúc đẩy sản xuất phát triển, đóng góp vào tăng trưởng GDP. Là
những định chế trung gian tài chính, hệ thống tổ chức tín dụng huy động các
khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để đầu tư, cho vay các chủ thể kinh doanh,
sản xuất và đời sống. Trong điều kiện kinh tế nước ta khi các kênh huy động vốn
khác còn chưa phát triển, hệ thống NHTM đã trở thành kênh cung cấp vốn chủ
lực cho nền kinh tế. Thông qua các dịch vụ cho vay, hệ thống NHTM giúp các
doanh nghiệp chuyển đổi cơ cấu sản xuất, dịch chuyển vốn đầu tư, đổi mới trang
thiết bị, công nghệ, nhằm hạ giá thành sản phẩm nâng cao sức cạnh tranh, nhất là

thuế, dự án và tư vấn đầu tư.
Đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm ngân hàng tại NH ĐT&PT VN"
Đỗ Thị Phương – A7 – K41C- KTNT Khóa Luận Tốt Nghiệp

7
2.2. Căn cứ vào bảng cân đối tài sản
Dựa vào bảng cân đối tài sản, có thể phân thành hai nhóm SPDV:
- Các SPDV nội bảng như nhận tiền gửi, cho vay và đầu tư chứng khoán.
- Các SPDV ngoại bảng như các dịch vụ tư vấn, mua bán ngoại hối,
quyền mua – quyền bán, bảo lãnh.
2.3. Căn cứ vào sự phát triển và ứng dụng công nghệ vào sản phẩm
ngân hàng
- SPNH truyền thống: là những sản phẩm gắn liền với những nghiệp vụ
truyền thống của ngân hàng (tiết kiệm, tiền gửi, cho vay, thanh toán, …).
Những sản phẩm này xuất phát từ nguồn gốc ra đời của ngân hàng, nó tồn tại
cùng với sự tồn tại của ngân hàng. Nó là những sản phẩm đặc trưng cho tất cả
các loại hình ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng. Do vậy, những sản
phẩm này thường ít thay đổi và phải chịu sự quản lý chặt chẽ, thống nhất bởi
các quy định, thể chế của Nhà Nước.
- SPNH hiện đại: kinh doanh ngân hàng hiện đại không chỉ là việc huy
động vốn và cho vay mà còn tham gia đầu tư và cung cấp các sản phẩm bổ
sung khác cho nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của khách hàng.
Có thể phân biệt giữa SPNH truyền thống và SPNH hiện đại qua một
số chỉ tiêu sau:
Tiêu chí
SPNH truyền thống
SPNH hiện đại
Nguồn gốc ra
đời
Ra đời cùng với sự hình thành

có thể giao dịch được. Rút
ngắn thời gian giao dịch.
Tính rủi ro
Ngân hàng phụ thuộc nhiều
vào khách hàng, mang tính rủi
ro cao.
Sản phẩm đa dạng, phân
tán rủi ro, tăng khả năng
cạnh tranh cho ngân hàng.
3. Các cấp độ và chu kỳ sống của sản phẩm ngân hàng
3.1. Các cấp độ của sản phẩm ngân hàng
- Cấp độ thứ nhất: Phần sản phẩm cốt lõi
Phần cốt lõi của SPNH là phần chính đáp ứng nhu cầu cấp thiết của
khách hàng. Thực chất đây chính là những lợi ích chủ yếu mà khách hàng tìm
kiếm ở ngân hàng. Đó là giá trị cốt yếu mà ngân hàng cần bán cho khách
hàng. Mỗi SPNH khác nhau, phần cốt lõi sẽ khác nhau và đáp ứng được nhu
cầu cấp thiết khác nhau của khách hàng.
Vì vậy, nhiệm vụ chính của nhà thiết kế SPNH là phải xác định được
nhu cầu cần thiết của khách hàng đối với từng sản phẩm để từ đó thiết kế
phần cốt lõi của sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu chính yếu nhất của
khách hàng – cái mà khách hàng cần tìm kiếm từ ngân hàng.
Đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm ngân hàng tại NH ĐT&PT VN"
Đỗ Thị Phương – A7 – K41C- KTNT Khóa Luận Tốt Nghiệp

9
SƠ ĐỒ: BA CẤP ĐỘ SẢN PHẨM NGÂN HÀNG


Biểu
tượng
Các dịch vụ bổ sung
Sản phẩm cốt lõi
Sản phẩm hữu hình
Sản phẩm bổ sung
Nhu cầu cấp
thiết của
khách hàng
Đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm ngân hàng tại NH ĐT&PT VN"
Đỗ Thị Phương – A7 – K41C- KTNT Khóa Luận Tốt Nghiệp

10
Phần sản phẩm bổ sung cũng là yếu tố cạnh tranh mạnh mẽ của các
ngân hàng vì tính linh hoạt và khả năng phát triển của nó.
3.2. Chu kỳ sống của sản phẩm ngân hàng
Chu kỳ sống của sản phẩm dịch vụ ngân hàng được chia làm bốn giai đoạn:
3.2.1. Thâm nhập thị trường
Thâm nhập là giai đoạn bắt đầu đưa SPDV vào thị trường. Khách hàng chưa
hiểu biết nhiều về SPDV, dẫn đến số khách hàng sử dụng ít, tốc độ bán chậm,
doanh thu thấp trong khi đó chi phí lại cao, đặc biệt là chi phí cho hoạt động
Marketing; nên lợi nhuận thu được ở giai đoạn này thấp, thậm chí không có.
Mặt khác, do số lượng khách hàng sử dụng SPDV ít nên ngân hàng
không khai thác hết hiệu quả của quy mô. Tuy nhiên, trong giai đoạn thâm
nhập thị trường, ngân hàng có lợi thế trong cạnh tranh, thuận lợi trong việc
thu hút và phát triển khách hàng mới.
3.2.2. Tăng trưởng - phát triển
Trong giai đoạn này, khách hàng đã quen sử dụng SPDV của ngân hàng
và cũng nhận thấy được tính ưu việt của SPDV mới, nên số lượng khách hàng
tăng; nhu cầu về SPDV tăng nhanh. Ngân hàng mở rộng thị trường tới các

cách dự trữ, thay thế nhưng có sức mạnh hơn để giữ vững thị trường hiện tại
và mở rộng thị trường mới.
Có thể tóm tắt chu kỳ sống của sản phẩm ngân hàng qua bảng sau đây:
Giai đoạn
Đặc điểm
Triển khai
Tăng
trƣởng
Chín muồi
Suy thoái
Khối lƣợng tiêu thụ
Chậm
Tăng mạnh
Tăng chậm
Suy giảm
Lợi nhuận
Yếu
Tối đa
Giảm dần
Yếu
Chi phí
Cao
Trung bình
Cao
Giảm
Khách hàng
Tiên phong
Quen – biết
Quen – biết
Cổ truyền

chung và chính sách phát triển SPNH nói riêng.
Thứ ba: do nhu cầu, đòi hỏi của khách hàng ngày càng cao trong sử
dụng SPNH.
Có thể thấy rằng, nhu cầu của khách hàng hiện nay hết sức đa dạng,
phức tạp và yêu cầu, đòi hỏi của họ ngày càng cao trong việc lựa chọn sử
Đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm ngân hàng tại NH ĐT&PT VN"
Đỗ Thị Phương – A7 – K41C- KTNT Khóa Luận Tốt Nghiệp

13
dụng SPNH. Khách hàng đòi hỏi từ phía ngân hàng những sản phẩm chất
lượng cao với nhiều tiện ích và lợi ích. Như vậy, nhu cầu cao của khách hàng
vừa là thách thức vừa là những căn cứ quan trọng đối với các ngân hàng trong
việc hoàn thiện, phát triển sản phẩm mới.
2. Những nhân tố ảnh hƣởng đến việc phát triển SPNH
2.1. Các nhân tố chủ quan
- Chiến lược và quan điểm kinh doanh của NHTM
Trong mỗi giai đoạn, các ngân hàng đều xây dựng chiến lược kinh
doanh, kế hoạch hành động tổng thể của mình. Từ chiến lược tổng thể mà đề
ra các chiến lược cụ thể. Phát triển sản phẩm là một trong các chiến lược cụ
thể của ngân hàng được hình thành và triển khai từ chiến lược tổng thể kinh
doanh của ngân hàng.
Từ chiến lược kinh doanh, ngân hàng sẽ đề ra định hướng và mục tiêu
hoạt động của mỗi thời kỳ. Chẳng hạn, khi ngân hàng xác định chiến lược
tổng thể là trở thành một ngân hàng đa năng tổng hợp thì ngân hàng sẽ đề ra
kế hoạch chi tiết cho việc phát triển từng loại SPNH. Nếu ngân hàng xác định
chiến lược trong giai đoạn này là tập trung vào việc mở rộng mạng lưới và đa
dạng hóa sản phẩm thì để đạt được mục tiêu này, các mục tiêu khác như đạt
lợi nhuận, hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm có thể không đạt
được.
Quan điểm kinh doanh của NHTM cũng ảnh hưởng đến việc phát triển

doanh và việc phát triển sản phẩm của ngân hàng. Ngày nay, với sự hỗ trợ
hiệu quả của công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng thể hiện ở mức độ tập
trung thông tin, khả năng phân tích, xử lý thông tin, khả năng chi phối, kiểm
soát đối với hoạt động của các bộ phận tác nghiệp….Như vậy, trình độ công
Đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm ngân hàng tại NH ĐT&PT VN"
Đỗ Thị Phương – A7 – K41C- KTNT Khóa Luận Tốt Nghiệp

15
nghệ ngân hàng quyết định đến chất lượng sản phẩm, đến việc phát triển
những sản phẩm mới.
2.2. Các nhân tố khách quan
- Nhân tố khách hàng
Khách hàng là người quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
NHTM. Khách hàng của NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển
SPNH. Là yếu tố tham gia vào quá trình cung ứng SPNH, do đó trình độ, sự
am hiểu nghiệp vụ ngân hàng quyết định đến chất lượng SPNH. Sự thay đổi
đòi hỏi về nhu cầu các SPNH cũng chính là căn cứ, cơ sở để các ngân hàng
tập trung hoàn thiện sản phẩm đã có và phát triển sản phẩm mới.
Mặt khác, thói quen, niềm tin và tâm lý của khách hàng ảnh hưởng
mạnh mẽ đến phát triển các SPNH. Hiện nay, người dân Việt Nam có xu
hướng thích sử dụng tiền mặt; niềm tin vào độ ổn định, an toàn của ngân hàng
rất hạn chế. Đây là nhân tố tiêu cực ảnh hưởng đến sự phát triển sản phẩm của
các NHTM Việt Nam.
- Môi trường kinh tế
Tình hình và sự thay đổi của các yếu tố thuộc môi trường kinh tế có tác
động to lớn đến sự phát triển kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh của
ngân hàng nói riêng. Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái thì nhu cầu đối với sản
phẩm tài chính cũng suy giảm. Ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ là cơ
hội tốt cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Tình hình kinh tế thế giới cũng ảnh hưởng đến hoạt động của ngân

triển sản phẩm mới.
3. Nội dung về phát triển SPNH
3.1. Hoàn thiện SPNH
Mặc dù các thuộc tính cơ bản của một SPNH đã được xác định ngay từ
đầu, nhưng trong quá trình sử dụng, các ngân hàng luôn tìm cách bổ sung các
thuộc tính mới nhằm ngày càng hoàn thiện nó. Quá trình cung ứng SPNH có
Đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm ngân hàng tại NH ĐT&PT VN"
Đỗ Thị Phương – A7 – K41C- KTNT Khóa Luận Tốt Nghiệp

17
sự tham gia trực tiếp của khách hàng. Do vậy, quan niệm về một SPNH hoàn
thiện phải được xem cả ở góc độ khách hàng và ngân hàng.
Thứ nhất, theo quan niệm của khách hàng, một SPNH hoàn thiện là sản
phẩm đáp ứng được tốt nhất, nhiều nhất nhu cầu mong muốn của khách hàng.
SPNH hoàn thiện phải đem lại cho khách hàng một tập hợp tiện ích và lợi ích.
Do vậy, khi đánh giá một SPNH hoàn thiện, khách hàng thường dựa vào các
tiêu chí sau:
- Mức độ tham gia của khách hàng vào quá trình cung ứng sản phẩm ít
và đơn giản.
- Tốc độ xử lý nhanh.
- Mức độ chính xác cao.
- Hiệu quả đem lại cho khách hàng lớn.
- Thái độ phục vụ tốt.
- Trình độ công nghệ hiện đại.
Thứ hai, theo quan niệm của ngân hàng, một SPNH hoàn thiện phải có
hai điều kiện:
- Trước hết, phải là những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng
hơn đối thủ cạnh tranh.
- Tiếp đó, sản phẩm hoàn thiện phải là sản phẩm đem lại lợi nhuận cho
ngân hàng.

nhiên, phát triển sản phẩm mới loại này, ngân hàng có thể tận dụng lợi thế của
người đi sau. Vì vậy, phát triển loại sản phẩm mới này được coi là xu thế phát
triển của sản phẩm mới trong các NHTM hiện nay.
Việc phát triển sản phẩm mới trong các ngân hàng thường được thực
hiện theo quy trình 5 bước:
Đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm ngân hàng tại NH ĐT&PT VN"
Đỗ Thị Phương – A7 – K41C- KTNT Khóa Luận Tốt Nghiệp

19
Bước 1: Xây dựng chiến lược sản phẩm mới, bao gồm 3 vấn đề
chính:
- Xác định các mục tiêu của phát triển sản phẩm mới.
- Định hướng cho việc hình thành các ý tưởng phát triển sản
phẩm mới.
- Xác định các nội dung của sản phẩm mới.
Bước 2: Tập hợp các ý tưởng hình thành sản phẩm mới. Các ý tưởng
này có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:
- Xuất phát từ đội ngũ nhân viên nghiệp vụ có trình độ, kinh nghiệm.
- Từ nghiên cứu thị trường và thông tin thu nhập từ khách hàng.
- Sao chép từ các ngân hàng khác.
Bước 3: Lựa chọn ý tưởng:
Các ý tưởng sản phẩm mới của ngân hàng được đánh giá dựa
trên mức độ đạt được của các tiêu thức sau:
- Góp phần thực hiện các mục tiêu của ngân hàng, đặc biệt là
tăng hình ảnh, vị thế của ngân hàng.
- Tăng khả năng cạnh tranh.
- Tạo được sự khác biệt của sản phẩm so với đối thủ.
- Đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Dựa trên các tiêu chí trên, ngân hàng đánh giá xếp hạng ý tưởng, từ đó
quyết định lựa chọn các ý tưởng sản phẩm mới tối ưu, phù hợp với nhu cầu

- Sản phẩm ngân hàng hầu hết là các sản phẩm truyền thống, tính tiện
lợi chưa cao, chất lượng dịch vụ kém, trong đó tín dụng là hoạt động kinh
doanh chủ yếu của các tổ chức tín dụng.
+ Về hoạt động huy động nguồn vốn:
Đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm ngân hàng tại NH ĐT&PT VN"
Đỗ Thị Phương – A7 – K41C- KTNT Khóa Luận Tốt Nghiệp

21
Cho đến nay, trên thị trường dịch vụ ngân hàng có khoảng 100 định chế
tài chính huy động vốn, nhưng thị phần huy động hàng năm của khối NHTM
Nhà nước vẫn chiếm gần 80%, NHTM cổ phần khoảng 10%, với gần 900 quỹ
tín dụng nhân dân trung ương và cơ sở nhưng thị phần chỉ chiếm 0,8% đến
1%, còn công ty cho thuê tài chính chỉ chiếm 0,2% đến 0,3%.
+ Về hoạt động cho vay:
Các ngân hàng hiện nay bắt đầu hướng sang những phân đoạn thị
trường mới, đặc biệt là thị trường cho vay tiêu dùng như thị trường cho vay
mua ô tô trả góp với sự tham gia của những ngân hàng như NHTM cổ phần
Quân Đội (MB), Vietcombank, VIB, Techcombank, ACB, VPBank,
Sacombank,…
Khách hàng chủ yếu của các NHTM trong nước là các doanh nghiệp
Nhà nước. Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp này còn yếu, do vậy nguy cơ
thua lỗ, phá sản và giải thể là rất lớn. Chính điều này đã ảnh hưởng trực tiếp
đến sự tồn tại của các tổ chức tín dụng.
Mặt khác, thách thức lớn nhất với các NHTM Việt Nam về lĩnh vực
cho vay là tình trạng dư nợ quá nhanh so với năng lực tài chính của mình,
trong khi đó khả năng trích phòng ngừa rủi ro là rất hạn chế.
+ Về hoạt động thanh toán:
Dịch vụ thanh toán của các tổ chức tín dụng ngày càng phát triển theo
sự phát triển của công nghệ ngân hàng. Dịch vụ thanh toán được thực hiện
thông qua các NHTM chủ yếu bao gồm: mở tài khoản thanh toán; phát hành,

hệ thống ATM, v.v…
Thị trường dịch vụ thẻ đã có sự đã có sự liên kết giữa các nhà cung
ứng dịch vụ thẻ qua hệ thống liên kết Banknet, qua đó đã giải quyết một phần
yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật và tiết kiệm vốn đầu tư.
 Hoạt động thanh toán quốc tế:
Đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm ngân hàng tại NH ĐT&PT VN"
Đỗ Thị Phương – A7 – K41C- KTNT Khóa Luận Tốt Nghiệp

23
Trong hoạt động này có sự sụt giảm thị phần thanh toán quốc tế của
những ngân hàng vốn có ưu thế lớn trong lĩnh vực này như VCB, ICB và sự
vươn dậy mạnh mẽ của các ngân hàng khác như BIDV, Agribank và đặc biệt
là khối các NHTM cổ phần cũng như ngân hàng nước ngoài. Các ngân hàng
cũng không ngừng nâng chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế với việc ngày
càng có nhiều ngân hàng nhận được giải thưởng ngân hàng hoạt động xuất sắc
trong lĩnh vực thanh toán quốc tế của các ngân hàng lớn trên thế giới như Citi
Bank, Bank of New York, Standard Chartered Bank. Ngoài các ngân hàng có
truyền thống về thanh toán quốc tế như VCB, ICB đã xuất hiện nhiều gương
mặt mới được nhận các giải thưởng này như Agribank, Techcombank,
Sacombank, EAB và VIB.
+ Bên cạnh việc mở rộng thị trường thẻ, thị trường kiều hối, các
NHTM Việt Nam cũng đang nghiên cứu, mở rộng hoạt động sang những dịch
vụ, sản phẩm khác: như dịch vụ lưu ký chứng khoán, dịch vụ cho thuê vân
hành, dịch vụ môi giới chứng khoán (thông qua việc thành lập các công ty
chứng khoán), dịch vụ quản lý nợ tài sản…. Các dịch vụ ngân hàng hiện đại
cũng đang được tích cực triển khai như dịch vụ Telebank của Techcombank;
dịch vụ bán lẻ điện tử của Agribank; dịch vụ VCB-online, dịch vụ thương mại
điện tử Vietcombank Cyber Bill Payment của VCB Một số ngân hàng đang
bắt đầu thực hiện những nghiệp vụ mới như nghiệp vụ quyền chọn, kinh
doanh địa ốc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status