TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ SUY THOÁI TÀI NGUYÊN NƯỚC - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

TÊN ĐỀ TÀI:
TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ SUY THOÁI
TÀI NGUYÊN NƯỚC
MÔN HỌC: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
LỚP : CAO HỌC QLTN & MT 2013
GVHD : TS. LÊ QUỐC TUẤN
THỰC HIỆN : NGUYỄN NGỌC UYÊN MINH
-TP. Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2014-
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

TÊN ĐỀ TÀI:
TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ SUY THOÁI
TÀI NGUYÊN NƯỚC
MÔN HỌC: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
LỚP : CAO HỌC QLTN & MT 2013
GVHD : TS. LÊ QUỐC TUẤN
THỰC HIỆN : NGUYỄN NGỌC UYÊN MINH
-TP. Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2014-
MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa i
Mục lục ii
Danh sách các chữ viết tắt iv
Danh sách các hình v
LỜI MỞ ĐẦU vi
Chương 1 vii

2.5.1. Dân số xxx
2.5.2. Giảm diện tích rừng đầu nguồn xxx
2.5.3. Khai thác khoáng sản xxx
2.5.4. Xây dựng thủy điện xxx
2.5.5 Ảnh hưởng do hoạt động sống của con người xxxi
2.5.6. Ảnh hưởng do phát triển nông nghiệp xxxiii
2.5.7. Ảnh hưởng do phát triển công nghiệp và dịch vụ xxxiii
2.5.8. Ảnh hưởng do một số nguyên nhân khác xxxiv
2.6. Đảm bảo an ninh lương thực và tài nguyên nước xxxiv
2.7. Giải pháp khắc phục xxxvi
KẾT LUẬN xxxix
TÀI LIỆU THAM KHẢO xl
i
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
LVS Lưu vực sông
BĐKH Biến đổi khí hậu
i
DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH TRANG

LỜI MỞ ĐẦU
Nước là một thành phần rất quan trọng và không thể thiếu được trong hệ sinh thái môi
trường để duy trì sự sống, sự trao đổi chất, cân bằng sinh thái trên toàn cầu. Nước có vai trò
quan trọng đối với cơ thể con người. Trong cơ thể con người, nước chiếm khoảng 70%
trọng lượng cơ thể, nước là chất quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất
diễn ra không ngừng trong cơ thể. Trong nước còn có các thành phần khoáng, mà các thành
phần khoáng này rất cần thiết để duy trì sự sống của con người.
i

này, các nguyên tử hiđrô bình thường được thay thế bởi các đồng vị đơteri và triti. Nước
nặng có tính chất vật lý (điểm nóng chảy cao hơn, nhiệt độ sôi cao hơn, khối lượng riêng
cao hơn) và hóa học khác với nước thường.
- Các tính chất hóa học của nước
+ Cấu tạo của phân tử nước tạo nên các liên kết hiđrô giữa các phân tử là cơ sở cho
nhiều tính chất của nước. Cho đến nay một số tính chất của nước vẫn còn là câu đố cho các
nhà nghiên cứu mặc dù nước đã được nghiên cứu từ lâu.
+ Nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi của nước đã được Anders Celsius dùng làm hai
điểm mốc cho độ bách phân Celcius. Cụ thể, nhiệt độ nóng chảy của nước là 0 độ Celcius,
còn nhiệt độ sôi (760 mm Hg) bằng 100 độ Celcius. Nước đóng băng được gọi là nước đá.
i
Nước đã hóa hơi được gọi là hơi nước. Nước có nhiệt độ sôi tương đối cao nhờ liên kết
hiđrô
+ Dưới áp suất bình thường nước có khối lượng riêng (tỷ trọng) cao nhất là ở 4 °C:
1 g/cm³ đó là vì nước vẫn tiếp tục giãn nở khi nhiệt độ giảm xuống dưới 4 °C. Điều này
không được quan sát ở bất kỳ một chất nào khác. Điều này có nghĩa là: với nhiệt độ trên
4 °C, nước có đặc tính giống mọi vật khác là nóng nở, lạnh co; nhưng với nhiệt độ dưới
4 °C, nước lại lạnh nở, nóng co. Do hình thể đặc biệt của phân tử nước (với góc liên kết
104,45°), khi bị làm lạnh các phân tử phải dời xa ra để tạo liên kết tinh thể lục giác mở. Vì
vậy mà tỉ trọng của nước đá nhẹ hơn nước thể lỏng.
Hình 1. 2. Khi đông lạnh dưới 4 °C, các phân tử nước phải dời xa ra để tạo liên kết tinh thể
lục giác mở.
1.1.2. Trạng thái tồn tại và sự phân bố nước trên Trái đất
1.1.2.1. Trạng thái tồn tại
Trái đất có khoảng 361 triệu km
2
diện tích các đại dương (chiếm 71% diện tích bề mặt
trái đất ), trữ lượng tài nguyên nước có khoảng 1,5 tỷ km
3
, trong đó nước nội địa chỉ chiếm

18
tấn. Trong đó đại dương có khối lượng
chiếm 97% toàn bộ thủy quyển.
 Trạng thái hơi:
- Hơi nước là một quá trình nước chuyển từ thể lỏng sang thể hơi hoặc khí. Bốc hơi
nước là đoạn đường đầu tiên trong vòng tuần hoàn mà nước chuyển từ thể lỏng thành hơi
nước trong khí quyển.
- Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các đại dương, biển, hồ và sông cung cấp gần 90%
độ ẩm của khí quyển qua bốc hơi, với 10% còn lại là do thoát hơi của cây.
- Trong khí quyển luôn luôn có nước: những đám mây là một dạng nhìn thấy được của
nước khí quyển.
- Trong không khí cũng chứa đựng nước. Những phần tử nước này quá nhỏ để có thể
nhìn thấy được.
1.1.2.2. Sự phân bố của nước trên Trái đất
i
Hình 1. 4. Biểu đồ về sự phân bố nước trên trái đất
 Nước thủy quyển
- Nước mặn
+ Chiếm một lượng rất lớn, ước tính có khoảng 1.37 tỉ km
3
nước được trữ trong đại
dương, chiếm khoảng 97% lượng nước trên Trái đất.
+ Là thành phần quan trọng và phân bố ở khắp nơi trên Trái đất: ở các đại dương, và
các biển không có liên hệ với đại dương (biển Caxpi, biển Aran, ).
+ Sự luân chuyển trong các đại dương: có những dòng chảy trong đại dương di chuyển
một khối lượng lớn nước đi khắp thế giới. Những sự di chuyển này có ảnh hưởng lớn đến
vòng tuần hoàn nước và khí hậu.
- Nước ngọt
+ Nước ngọt trên mặt đất là một thành phần của chu trình nước, yếu tố cần thiết cho
mọi sự sống trên Trái đất.

i
khí hậu trái đất. Hơi nước thoát ra từ các loài thực vật làm tăng độ ẩm không khí. Một phần
nước mưa thấm qua đất thành nước ngầm. Nước ngầm và nước mặt đều hướng ra các sông,
hồ, suối và đổ ra biển. Sau đó nước từ biển dưới tác động của ánh sáng mặt trời lại bốc hơi
tạo thành hơi nước, đó là một chu trình tuần hoàn của nước. Lượng nước mưa và nước ngọt
trên hành tinh phân bố không đều. Hiện nay trên toàn thế giới chỉ mới sử dụng 4000 km
3
nước ngọt, chiếm hơn 40% lượng nước ngọt có thể khai thác được.
1.3. Vai trò của nước
1.3.1. Đối với cơ thể con người
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn ăn được vài
ngày, nhưng không thể nhịn uống nước.
Trong điều kiện bình thường, trong một ngày cơ thể cần khoảng 40ml nước/kg cân
nặng, trung bình 2-2,5 lít nước/ngày.
Nước là thành phần quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra
không ngừng trong cơ thể. Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được
đưa vào cơ thể, sau đó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước.
Uống không đủ nước ảnh hưởng đến chức năng của tế bào cũng như chức năng các hệ
thống trong cơ thể. Uống không đủ nước sẽ làm suy giảm chức năng thận, thận không đảm
đương được nhiệm vụ của mình, kết quả là trong cơ thể tích lũy nhiều chất độc hại.
Uống thật nhiều nước để tăng quá trình phân giải, khả năng trao đổi chất và đào thải
chất độc có thể chữa được một số bệnh. Tắm nước khoáng nóng ở các suối nước nóng tự
nhiên để chữa các bệnh thấp khớp, bệnh ngoài da, bệnh tim mạch, bệnh thần kinh…
i
Hình 1. 6. Vai trò của nước đối với cơ thể người
1.3.2. Đối với hoạt động công nghiệp
Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn. Nước dùng để làm nguội các động cơ,
làm quay các tubin, là dung môi làm tan các hóa chất màu và các phản ứng hóa học. Mỗi
ngành công nghiêp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi công nghệ yêu cầu một lượng nước, loại
nước khác nhau. Nước góp phần làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Nếu không có

hồvà biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các
nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển. Đây là thống kê của Viện Nước quốc tế (SIWI)
được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ
đô Thụy Điển ngày 5/9.
- Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm
nghiêm trọng. Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển là do không được
tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và các bệnh liên quan đến nước.
Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi
năm.Tổchức Lương Nông LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải
sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu
nước.
- Theo ước tính của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) ở Việt Nam có khoảng
17 triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch và khoảng 20 triệu (59%) chưa có nhà
tiêu hợp vệ sinh. Hàng năm, 4.000 trẻ em tử vong vì nước bẩn và vệ sinh kém.
- Giám đốc Điều hành UNICEF, bà Ann M. Veneman cho biết: “Trên thế giới, cứ 15
giây lại có một trẻ em tử vong bởi các bệnh do nước không sạch gây ra và nước không sạch
là thủ phạm của hầu hết các bệnh và nạn suy dinh dưỡng. Một trẻ em lớn lên trong những
điều kiện như thế sẽ có ít cơ hội để thoát khỏi cảnh đói nghèo”.
- Thống kê của UNICEF tại khu vực Nam và Đông Á cho thấy chất lượng nước ở khu
vực này ngày càng trở thành mối đe dọa lớn đối với trẻ em. Tình trạng ô nhiễm a-sen (thạch
tín) và flo (fluoride) trong nước ngầm đang đe dọa nghiêm trọng tình trạng sức khỏe của 50
triệu người dân trong khu vực.
- Các công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy những bệnh do sửdụng nước bẩn gây
ra đã ảnh hưởng đến sức khỏe và làm giảm khả năng học hành của các em. Hàng ngày có
rất nhiều em ở các nước đang phát triển không được đến trường vì bị các bệnh như tiêu
i
chảy, nhiễm trùng đường ruột. Hơn nữa, nhiều học sinh nữ không thể đến trường đi học nếu
không có công trình nước và vệsinh riêng biệt cho các em.
Hình 1. 10. Dự báo tình hình khan hiếm nước trên thế giới đến năm 2025
1.4.2. Hiện trạng về tài nguyên nước ở Việt Nam

hồ, sau đó chảy ra các con sông lớn tại vùng
Châu Thổ sông Hồng và sông Mê Kông.
Hình 1. 11. Nước thải nổi bọt trắng, bốc mùi nồng nặc thải ra kênh Tham Lương từ một nhà
máy trên đường Tây Thạnh.
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm
bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các
nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra
từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng
lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu;
i
nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu
cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc
Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m
3
/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn
nước và môi trường trong khu vực.
Rất nhiều con sông hay hồ nước dần khô cạn vì con người dùng nước để tưới tiêu
trong trồng trọt và sản xuất các sản phẩm công nghiệp mà nhờ đó đảm bảo cho cuộc sống.
Đó là một nghịch lý vì để duy trì sự sống trước mắt, con người đang hủy hoại tương lai của
chính mình.
- Như vậy
Theo thống kê của các nhà khoa học, nhu cầu nước trên toàn thế giới sẽ tăng tới 45%
trong khi nguồn nước đang cạn kiệt ở mức báo động và ngày càng hiếm dần. Dự báo đến
trước năm 2030, có khoảng 60 quốc gia lâm vào tình trạng thiếu nước trầm trọng. Hiện tại
trên thế giới có khoảng 1,5 tỷ người (khoảng 1/4 dân số toàn cầu) không có nước sạch và
hơn 2 tỷ người không đủ điều kiện vệ sinh, an toàn. Hàng năm, 3,6 triệu người chết vì các
căn bệnh do nước ô nhiễm gây ra.
Chương 2
VẤN ĐỀ SUY THOÁI TÀI NGUYÊN NƯỚC

nghiêm trọng. Điều đó cần phải tích nước trong mùa lũ để điều tiết bổ sung mùa cạn
i
là giải pháp tích cực nhất, quan trọng nhất.Nước ta có khoảng 2360 con sông có
chiều dài lớn hơn 10 km. Trong số 13 lưu vực sông chính và nhánh có diện tích lớn
hơn 10.000 km2 thì có đến 10/13 sông có quan hệ với các nước láng giềng, trong đó
có 3/13 sông thượng nguồn ở Việt Nam, hạ nguồn chảy sang nước láng giềng, 7 sông
thường nguồn ở nước láng giềng, hạ nguồn ở Việt Nam. Điều này Việt Nam không
những bị ràng buộc nguồn lợi về nước của quốc gia thứ hai, thứ ba… chia sẻ, đồng
thuận.Tổng lượng nước năm ứng với p = 75% khoảng 720 tỷ m3, tổng lượng nước
mùa cạn có khoảng 170 tỷ m3 (kể cả 30 tỷ m3 điều tiết từ các hồ chứa tính đến năm
2010). Tổng nhu cầu nước năm 2010 là 110 tỷ m3, trong mùa cạn khoảng 85 tỷ m3
(chưa kể đến lưu lượng nước đảm bảo môi trường sinh thái hạ lưu). Nếu quản lý
không tốt thì đến năm 2010 khả năng thiếu nước đã rõ ràng vào từng nơi, từng thời
kỳ, đặc biệt là các vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, Daklak, Daknông, ĐBSCL, Trung
du Sông Thái Bình và sông Hồng và dải ven biển.
- Không những nguồn nước mặt mà nguồn nước ngầm cũng đang ở trong tình
trạng bị suy thoái nghiêm trọng. Đặc biệt là hàm lượng asen trong các mẫu nước
ngầm điển hình như khu vực đồng bằng Bắc bộ nói chung đều cao hơn nhiều so với
tiêu chuẩn cho phép. Trong khi đó việc khai thác nước ngầm cũng chưa có quy
hoạch hoàn chỉnh, tình trạng người dân tự khoan giếng diễn ra khắp nơi nên tình
trạng ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng.
- Dân số tăng, chỉ số lượng nước trên đầu người giảm. Năm 1943 là 16.641
m
3
/người, nếu dân số nước ta tăng lên 150 triệu người thì chỉ còn đạt 2467 m
3
/người,
năm xấp xỉ với những quốc gia hiếm nước.Theo Cục Bảo vệ môi trường, chất lượng
nước 3 lưu vực sông Cầu, Nhuệ - Đáy, Đồng Nai - Sài Gòn đang bị ô nhiễm nghiêm
trọng. Thậm chí có những đoạn sông thuộc 3 LVS trên đã "chết" hoàn toàn, nhất là ở

+ Nói chung ở Việt Nam bão có xu thế ngày càng tăng cả cường độ lẫn tần số. Tần
suất bão đổ bộ vào vùng ven biển phía Bắc và ven biển Trung bộ có xu hướng chuyển dịch
lẫn nhau theo từng thời kỳ. Trong những năm gần đây bão có xu thế đổ bộ vào vùng ven
biển Miền Trung nhiều hơn đặc biệt là vùng ven biển Cực Nam Trung Bộ.
- Hạn hán. ElNino gắn liền với việc gây hạn hán rất nặng nề ở nước ta. Những năm có
ElNino, lượng mưa và lượng dòng chảy trong sông đặc biệt là trong mùa cạn thường bị
i
giảm mạnh, thậm chí không có dòng chảy như sông Lòng Sông, S. Lũy…(Bình Thuận),
sông LrongBuk (Daklak), sông Hà Thanh (Bình Định)… Hạn đến nỗi ngay cả súc vật cũng
không thể sống được, người dân phải di chuyển chúng đến vùng khác. Hàng chục ngàn ha
cây trồng bị chết do thiếu nước.
- Xâm nhập mặn sâu do mực nước biểu dâng lên trung bình 20mm/năm ảnh hưởng lớn
đến việc cấp nước và thoát nước, suy thoái nước.
- Ô nhiễm nước do hạn hán, lượng nước trong sông bị cạn kiệt không đủ khả năng pha
loãng làm nước trong sông ngày càng bị ô nhiễm, suy thoái.
2.3.2. Tài nguyên nước Việt Nam có xu thế suy thoái do phát triển và sử dụng thiếu
hợp lý, thiếu đồng bộ.
- Các phát triển KTXH có liên quan đến phát triển nhà kính.
+ Sự phát triển dân số kéo theo sự phát triển diện tích trồng lúa và sản lượng thóc.
Năm 2000 so với năm 1900: Dân số Việt Nam tăng gấp 1,6 lần F
lúa
tăng gấp 2,56 lần,
sản lượng thóc tăng 8,2 lần.
+ Phá và trồng rừng. Năm 1943 độ che phủ là 43%, đến nay độ che phủ rừng còn đạt
khoảng 35% song chất lượng rừng bị giảm nặng nề phần lớn là rừng thứ sinh, rừng thoái
hoá, rừng trông.
+ Xây dựng hồ chưa thuỷ lợi, thuỷ điện trước năm 1994 có tổng dung tích khoảng 20
tỷ m
3
nước, tổng dung tích hiệu ích khoảng 16 tỷ m


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status