Báo cáo " Một số giải pháp, biện pháp kinh tế - xã hội và sinh thái môi trường chủ yếu bảo tồn quần thể voọc quần đùi trắng ở khu bảo tồn Vân Long - Ninh Bình " potx - Pdf 12

Nguyễn Văn Song. 2007. Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Số 103; từ trang 391-396.

1

MỘT SỐ GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ SINH THÁI MÔI TRƯỜNG CHỦ YẾU BẢO TỒN QUẦN THỂ
VOỌC QUẦN ĐÙI TRẮNG (Semnopithecus francoisi delacouri) Ở KHU BẢO TỒN VÂN LONG – NINH BÌNH
TS. Nguyễn Văn Song- Đại Học Nông Nghiệp I
Abstract
The resarch to carry out field surveys to estimate the population density of the Delacour’s langur in Van
Long Provincial Nature Reserve. In addition, a few groups were followed to collect data on the ranging
patterns and feeding ecology. There are existing about 65 – 75 individuals in Van Long Provincial Nature
Reserve. The results are useful and helpful recommendations for managers, economists, ecologists,
environmentalists and policy makers of local and central government to protect these highly endangered
species in Vietnam.
Keywords: Conservation, ecology, Delacour’s langur,endangered species, management
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có khoảng 103 loài động thực vật quý hiếm đang bị đe doạ tuyêtk chủng. Theo tổ chức Bảo tồn
Chim Quốc tế (Birdlife International Global Conservation Priority), Việt Nam là nước đứng thứ 10 trên thế
giới về các loài đang bị đe doạ bị diệt chủng. Việt Nam cũng là nước nhiều loài động, thực vật đặc hữu nhất
trong các nước Đông nam á. Mặc dù vậy, nhiều loài hiện đang trở lên rất khan hiếm (Dearden 1994).
Có khoảng 200 loài chim, 120 loài động vật có vú đã bị tuyệt chủng qua 4 thập kỷ qua mà nguyên nhân chủ
yếu là do việc săn bắn và buôn bán bất hợp pháp(Cục Kiểm Lâm 1998). Cũng báo cáo này cho thấy rằng,
số lượng voi ở Việt Nam giảm từ 2.000 con xuống còn 200 con trong vòng 20 năm qua. Các loài động vật
khác như rùa, rắn, tê tê đang giảm nhanh nguyên nhân chính là do chúng là những loài có lợi nhuận cao
trong buôn bán và xuất khẩu.
Theo ước tính khoảng 3.050 tấn động vật quý hiếm được buôn bán bất hợp pháp trên thị trường Việt Nam
hiện nay. Trong đó gần 80% số lượng này tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh. Doanh thu ước tính khoảng 66,5 triệu đô la, lợi nhuận khoảng 21 triệu đô la hàng năm. Số lợi nhuận
này so với số tiền phạt thu được cao hơn gấp 4 lần và lớn hơn khoảng 12 lần so với doanh thu từ buôn bán
hợp pháp các loài động, thực vật (5.2 triệu đô la) hàng năm (Nguyễn Văn Song 2003).
Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long được UBND tỉnh Ninh Bình quyết định thành lập ngày

linh hoạt. Thời gian chúng thường xuất hiện 2 lần/ngày: từ 5h-8h và từ 16h-17h trong ngày thời tiết tốt.
Nhóm 3: Khu vực Đập Đá Hàn thuộc phía Tây núi Hoàng Quyển. Nhóm này có 5 đến 7 cá thể. Trong
nhóm phần lớn là những cá thể lớn, có trọng lượng khỏang từ 14 đến 15kg. Trong 6 lần quan sát, có 4 lần
xuất hiện vào khoảng 6- 8h30; 2 lần xuất hiện lúc 13-15h.15. Nhóm 4: Khu vực Thung Địn - thuộc Núi
Mâm Xôi. Nhóm này có 7 đến 9 cá thể. Trong nhóm phần lớn là những cá thể lớn, có trọng lượng khỏang
từ 15kg đến 17 kg. Quan sát qua hành vi, có thể cho rằng đây là nhóm tuổi trung bình. Thời gian chúng
thường xuất hiện khoảng từ 16h-17h.30 trong ngày thời tiết tốt. Nhóm 5: Thuộc khu vực Trà Lai-Sẽ Chè
(phía Đông khu bảo tồn). Nhóm này mới chỉ quan sát thấy 2 cá thể, là những cá thể lớn, có trọng lượng
khỏang trên 15 kg. Quan sát qua hành vi, có thể cho rằng đây là nhóm già. Thời gian chúng thường xuất
hiện 1 lần/ngày: từ 5h-8h. Nhóm 6: Thuộc khu vực Hang Chanh- Đền Bến Nổi. Nhóm này có 5 đến 8 cá
thể. Năm 2003 đã quan sát được 2 cá thể mới sinh. Trong nhóm phần lớn là những cá thể trung bình, có
trọng lượng khoảng từ 10 đến 12 kg. Quan sát qua hành vi, có thể cho rằng đây là nhóm trẻ. Thời gian
chúng thường xuất hiện 2 lần/ngày: từ 5h-8h và từ 16h-17h trong ngày thời tiết tốt. Trong 9 lần quan sát có
3 lần chúng xuất hiện vào từ 1h đến 18 h; 6 lần xuất hiện vào 5h30-8h30. Nhóm 7: Khu vực núi Ba Non.
Theo người dân cho biết nhóm này có 7-9 con lớn; được phát hiện từ năm 1999-2000. Vì đỉnh núi cao, ít
quan sát nên thông tin chưa được Ban quản lý và nhóm nghiên cứu kiểm chứng. Nhóm 8: Thuộc khu vực
núi Cắm Sào - Gia Hưng. Theo người bảo vệ rừng tại đây thì vào tháng 3/2004 đã quan sát được 20 cá thể,
có cả con non. Cán bộ ban quản lý đã quan sát thấy 5 cá thể. Lần xuất hiện quan sát được vào lúc 15-17 h.
Như vậy quần thể voọc quần đùi trắng tại Vân Long có số lượng cá thể từ 65 đến 75 cá thể. Có sinh sản
thêm trong những năm gần đây sau khi khu bảo tồn Vân Long được thành lập.

Thức ăn chính của loài Voọc quần đùi trắng (lá của các loại cây sau)
Tên phổ thông
VN
Tên khoa học Tên phổ thông VN Tên khoa học
Muỗm leo Pregia sarmentosa Muồng ràng ràng Adenanthera microsperma
Thừng mực mỡ Wrightia laevis Vàng anh Saraca dives
Nhưạ ruồi Hex cimerea Kháo thơm Machilus odoratissima
Chân chim Scheffera globulifera Dâm bụt đỏ Hibiscus rosa-sinensis
Chân chim núi đá Scheffera pesavis Xoan ta Melia azedarach
Sau khi khu bảo tồn được thành lập, ban quản lý khu bảo tồn đã làm tất cả để loại bỏ được hiện tượng săn
bắn, buôn bán bất hợp pháp trong khu bảo tồn và khu vực vùng đệm, đây là mối đe doạ nguy hiểm nhất mà
trước đây vẫn tồn tại. Hiện nay, các nguyên nhân chính đe doạ sự tồn tại và phát triển của loài voọc và phát
triển bền vững của Vân Long như sau: Thứ nhất: Cháy rừng là mối đe doạ nghiêm trọng nhất đến sự tuyệt
chủng của loài voọc quý hiếm ở khu bảo tồn Vân Long. Thứ hai: Phát triển du lịch sinh thái tự phát, không
có định hướng, do hiện nay còn 447 hộ dân sinh sống trong vùng lõi của khu bảo tồn, quyền sở hữu, sử
dụng đất đai trong khu vực chưa rõ ràng trên một số khu vực, việc khai thác du lịch sinh thái cũng như sự
xuất hiện khách du lịch không có kế hoạch sẽ huỷ hoại môi trường sống loài voọc quý hiếm này. Thứ ba:
Sự giao lưu, giao hợp giữa các nhóm trong quần thể. Thứ tư: Thiếu thức ăn, loài voọc mông trắng là loài
linh trưởng ăn lá nhưng thức ăn cho loài này có xu hướng ngày càng khan hiếm bởi hiện tượng sói mòn đất
cũng như các nguyên nhân đã nêu ở trên.
2.3 Các giải pháp và biện pháp bảo tồn loài Voọc và khu bảo tồnVân Long.
Tăng cường công tác bảo vệ bao gồm cả việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư trong
vùng là công tác trọng tâm. Tuy nhiên còn rất nhiều thiếu thốn về phương tiện, trang thiết bị, vốn và nhân
lực nên chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Chiến lược phát triển bền vững khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long nhằm vào các mục tiêu

Quần thể voọc ở khu bảo tồn hiện có khoảng 65 –75 cá thể được chia ra làm 8 nhóm, mỗi nhóm khoảng từ
5 đến 15 con thuộc các khu vực: Đá Bàn- Núi Hoàng Quyển có khoảng 20 – 23 con; Vũng Sốc - núi Đồng
Quyển có khoảng 14 –15 con; Đập Đá Hàn thuộc phía Tây núi Hoàng Quyển có khoảng 5 – 7 con; Thung
Địn - thuộc Núi Mâm Xôi có từ 7 – 9 con; Trà Lai-Sẽ Chè (phía Đông khu bảo tồn) có 2 cá thể lớn và tuổi
đã già; Hang Chanh- Đền Bến Nổi có khoảng 7 – 8 cá thể; núi Ba Non có khoảng 7 – 9 con; núi Cắm Sào -
Gia Hưng có khoảng 20 cá thể.
Những mối đe doạ tiềm tàng đối với sự tuyệt chủng của loài voọc quý hiếm này là: cháy rừng, phát triển du
lịch sinh thái tự phát không được định hướng, sự giao lưu giao hợp giữa các nhóm trong quần thể và cuối
cùng là sự khan hiếm thức ăn do đất ngày càng bị sói mòn.
Để đảm bảo phát bảo tồn và phát triển bền vững loài động vật quý hiếm, đặc hữu này cũng như khu bảo tồn
Vân Long cần có các giải pháp, biện pháp kinh tế -xã hội, sinh thái môi trường trong chiến lực dài hạn như
sau: Ổn định và phát triển kinh tế của nhân dân trong vùng. Gắn bảo tồn với phát triển du lịch sinh thái một
cách có qui hoạch, kế hoạch. Qui hoạch quản lý, bảo vệ, khai thác hợp lý tài nguyên đất. Qui hoạch, khai
thác hợp lý du lịch sinh thái. Gắn chiến lược bảo tồn thiên nhiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của khu vực và của tỉnh. Tăng cường hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước của cấp chính quyền cơ sở. Để
đạt được những mục tiêu trên cần thiết tiến hành: hợp tác nghiên cứu đầy đủ về loài voọc quần đùi trắng tại
Vân Long; nâng cao đời sống vật chất, cơ sở y tế, giáo dục cho một số thôn bản trong vùng lõi và vùng đệm
khu bảo tồn; Hỗ trợ trang thiết bị nghiên cứu, phương tiện thông tin, đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho cán
bộ, nhân viên Ban quản lí rừng đặc dụng Hoa Lư-Vân Long khu bảo tồn; Xây dựng kế hoạch và triển khai
du lịch sinh thái kết hợp với tăng cường và thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo cho các hộ dân vùng
lõi và vùng đệm của khu bảo tồn./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
BAN QUẢN LÝ KHU BẢO TỒN VÂN LONG. 2004. Tài liệu lưu trữ
CỤC KIỂM LÂM - BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN.1998. Báo cào hàng năm
DEARDEN, P. 1994 Ecotourism and biodiversity conservation in Vietnam.
www.undp.org.vn/projects/vie96010/cemma/RAS93103/016.htm
NGUYEN VAN SONG. 2003. Wildlife Trading in Vietnam: Why It Flourishes – EEPSEA & IDRC. Website
- 65 pages. ISSN-1608-5434; Số 2003-PB6
THỐNG KÊ XÃ GIA HƯNG VÀ GIA HOÀ – VÂN LONG – NINH BÌNH. 2004.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status