VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ & QUẢN LÍ MÔI TRƯỜNG
BÀI TIỂU LUẬN
MÔI TRƯỜNG HỌC CƠ BẢN
TÊN ĐỀ TÀI : THIỆT HẠI DO DIOXIN GÂY RA
CHO DÂN CƯ VÀ HỆ SINH THÁI MÔI TRƯỜNG
CÁC “ĐIỂM NÓNG”: VÙNG SA THẦY- KON
TUM, A LƯỚI, QUẢNG TRỊ
SVTH: NGUYỄN THỊ THÚY OANH
MSSV: 07740661
LỚP: ĐẠI HỌC MÔI TRƯỜNG 3B
GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ Môi trường học cơ bản
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 3 tháng 7 năm 2009
Trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài này em đã được bạn
bè tận tình giúp đỡ. Bên cạnh đó, nhà trường đã tạo điều kiện cũng như quý thầy
cô đã tận tình dạy bảo hướng dẫn.
Em chân thành cám ơn đến :
- Tất cả quý thầy cô viện khoa học công nghệ và
quản lí môi trường.
- Các anh chị khóa trước đã tận tình hướng dẫn
chúng em thực hiện đề tài này.
- Cùng với sự cộng tác thật nhiệt tình của các bạn.
Và lòng biết ơn sâu sắc đến:
GV hướng dẫn GS-TSKH Lê Huy Bá cùng quý thầy cô ở thư viện
trường đã tận tình giúp đỡ em trong việc chọn đề tài cũng như tìm tài liệu phục
vụ cho việc làm tiểu luận.
Trong thời qian thực hiện đề tài em đã hết sức cố gắng, nỗ lực để đạt được
kết quả tốt nhất. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều sai sót kính mong sự đóng góp ý kiến
của quý thầy cô và các bạn Xin chân thành gởi đến quý thầy cô, bạn bè lời cám
ơn chân thành nhất.
Trân trọng cảm ơn.
in Vietnam, but no signs have indicated that indigenous forest trees have regrown
naturally. Until today, trace of dioxin can still be found in the soil of most
intensively affected areas. These dioxin contamination have had adversed impact
on the environment, on the life of the inhabitants living in these sites. The
rehabilitation of forests badly affected by toxic chemicals is an urgent and
difficult task, and is a costly and resources - consuming process. The paper
shows that till now, the Vietnamese people have made some progress in restoring
the damaged environment from the war. Much more needs to be done, however,
and in the mean time the available resources are very limited.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Oanh
4
GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ Môi trường học cơ bản
I. MỞ ĐẦU
Tài nguyên thiên nhiên là nền tảng của sự tồn tại, phát triển và thịnh vượng
của đất nước. Sự thoái hoá của các hệ sinh thái tự nhiên trên trái đất là một quá
trình tiếp nối, ngày càng bị tác động nhiều hơn do các hoạt động của con người,
mà chiến tranh là hoạt động có tính tàn phá khốc liệt nhất. Ảnh hưởng tiêu cực
của nó thể hiện ở mọi cấp độ của sự tiến hoá - từ các tổ chức tế bào đơn giản đến
các loài thực vật bậc cao, thậm chí ở cả con người. Chiến tranh hủy diệt môi
trường. Bom đạn thiêu đốt cây cối và làm đảo lộn dòng chảy. Không có một cuộc
chiến tranh nào lại tàn phá môi trường một cách tồi tệ như chiến tranh Việt Nam.
Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam vừa qua là cuộc chiến tranh chưa từng có,
đã tác động trực tiếp vào môi trường. Cuộc chiến tranh đó được thực hiện với
mức độ rộng lớn khủng khiếp và kéo dài trong nhiều năm, hậu quả là đã tiêu huỷ
nhiều hệ sinh thái tại nhiều vùng của Việt Nam. Những điểm nóng, nơi có nồng
độ dioxin cao như các khu vực miền Trung và Tây Nguyên trong đó các vùng A
Lưới – Quảng Trị, sân bay Biên Hòa, tỉnh Bình Phước, Phú Yên, Quảng Ngãi,
rừng ngập mặn Cà Mau,…là những vùng thiệt hại nặng nề do chất độc dioxin mà
trong chiến tranh Mỹ đã đổ xuống Việt Nam.
Một sự thật hiển nhiên đã và đang làm đau lòng hàng trăm triệu người ở Việt
Dioxin là tên gọi chung của một nhóm hàng trăm các hợp chất hóa học tồn tại
bền vững trong môi trường cũng như trong cơ thể con người và các sinh vật
khác. Chúng là các hợp chất thơm polychlorin có đặc tính vật lý, hoá học và cấu
trúc tương tự, Dioxin hiện được dùng để chỉ hàng trăm chất hóa học có mặt trong
môi trường.
1.2 Cấu trúc của dioxin :
Công thức phân tử C
12
H
4
O
2
C
14
đọc tên là 2,3,7,8 tetrachlorodibenzo-p-dioxin.
Các hợp chất xếp trong lớp các chất tương tự dioxin (dioxin-like compounds) có
30 hợp chất. và được xếp vào ba nhóm: nhóm 1 bao gồm các polychlorinated
dibenzo-p-dioxin (PCDDs) Trong nhóm hóa học đó, thành phần độc nhất là
TCDD (2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin).
Một số chất trong nhóm PCDD:
a) Nhóm 2 gồm các polychlorinated dibenzofuran (PCCDs)
b) Nhóm 3 gồm các polychlorinated biphenyls (PCBs)
Để so sánh mức độ gây độc của các chất, tổ chức Y tế thế giới (WHO) dùng
chỉ số TEFs (toxic equivalance factors) để đánh giá. Hiện tại 2,3,7,8
tetrachlorodibenzo-p-dioxin (tên gọi tắt là TCCD) được đánh giá có mức độ gây
độc cao nhất trong tất cả các chất trên.
Trong chiến dịch khai quang, Mỹ đã rải 15 loại độc chất xuống lãnh thổ Việt
Nam như: CĐMDC (Agent orange - chiếm 64%), chất độc màu trắng
(Agentwhite - chiếm 27%), chất độc màu xanh (Agent blue, green - chiếm 8,7%),
chất độc màu tím (Agent pink - chiếm 0,6%).
Chất này tác động lên thực vật bằng cách rút nước của lá cây, gây héo úa
mạnh đối với cay cối. Lá cây gặp chất độc bị khử nước, cuộn tròn lại và rụng
trong vòng từ 2- 4 ngày. Để triệt phá toàn bộ sự sinh trưởng quân đội Mỹ đã
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Oanh
8
GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ Môi trường học cơ bản
phun dải nhiều lần với liều lượng 8 kg/ ha. Đối với cây lúa nước, chất xanh gây
ảnh hưởng xấu đến quá trình tạo hạt, cây vẫ có vẻ phát triển bình thường, liều
lượng để sử dụng diệt cây lúa nước từ 3- 4kg / ha.
d) Chất hồng (Pink)
Chất diệt cây loại lá rộng. Liều lượng sử dụng làm dụng lá 18- 36 kg/ha, diệt
cây lá rộng 12kg / ha, diệt cây lúa nước từ 30-60 kg/ha.
e) Chất đỏ tía ( Purple)
Loại cây sú vẹt, đước rất nhạy cảm với chất đỏ tía lá rụng hoàn toàn sau một
tuần bị phun dải, thường dùng với liều lượng 28 lít /ha. Chất đỏ tía được quân đội
Mỹ sử dụng những năm đầu của cuộc chiến tranh hóa học với 645.000-lít.
f) Chất da cam (Orange)
Là chất độc diệt cây có độc tính cao, và được sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam,
ở dạng lỏng sánh như dầu, màu nâu thẫm, không tan trog nước, tan trong diesel
và mỡ, dễ xâm nhập vào màng tế bào của lá, đặc biệt là loài cây lá kép. Chất da
cam tương tác với hệ men của cây, ức chế quá trình quang hợp, làm ngừng trệ
hình thành chất diệp lục làm rối loạn điều tiết sinh trưởng, gây xoắn lá, xoắn
cành rễ, nứt vỏ thân cành. Úa đỏ, khô cành lá, quả cây ngừng lớn và chết. Chất
da cam chia làm ba loại như sau: da cam I, da cam II, và siêu da cam( hỗn hợp
của hai chất da cam II và chất trắng). Chất độc da cam được cấu tạo bởi 2 phân
tử n-butyl ester, 2,4 D và 2,4,5 T. Việc sản xuất ra 2,4,5 T vô tình đã sản sinh ra
chất gây ô nhiễm được biết tới với tên hoá học TCDD, thường được gọi là
dioxin. Từ những năm 1950 người ta đã biết dioxin là sản phẩm phụ của chất
phênon khử trùng như 2,4,5-T. Dioxin là một loại lipid có thể hòa tan.
Bảng số lượng hóa chất quân đội Mỹ dùng trong chiến tranh Việt Nam 1962-
người bị nhiễm chất độc. Có gia đình sáu người con thì bốn người bị di chứng
CÐDC Có thể nói họ là những người mỏi mòn, đau khổ nhất trần gian này.
Hiện nay, các cựu chiến binh của Việt Nam tham gia chiến trường miền nam
Việt Nam hầu hết bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin. Sức khỏe của họ giảm
sút nghiêm trọng và gần đây nhất bệnh tật của họ phát triển như bệnh ung thư,
bệnh tiểu đường, áp huyết và các bệnh khác. Nghiêm trọng hơn, một số lớn cựu
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Oanh
10
GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ Môi trường học cơ bản
chiến binh sinh ra những đứa con tàn tật ngay từ khi được sinh ra hoặc sống mà
không thể tự chăm sóc bản thân mình.
3. Hiệu ứng với sức khỏe con người
Tác hại của dioxin trên cơ thể con người được tính bằng ppt (picrogram -
phần tỷ của miligram), và một người khỏe mạnh, chỉ cần nhiễm vài ppt là đã ảnh
hưởng đến nhiều bộ phận. Hơn nữa, thời gian bán hủy của dioxin trong cơ thể
con người được ước tính từ 12 đến 20 năm. Nếu một người sống trong vùng bị
rải dioxin vào năm 1970 - và bị nhiễm 200 ppt chẳng hạn, thì 12 năm sau - nghĩa
là năm 1982, số lượng này còn 100 ppt. 12 năm sau nữa - năm 1994, nó còn 50
ppt và đến năm 2006, lượng dioxin vẫn còn 25ppt - nghĩa là vẫn thừa để sinh ra
các bệnh ung thư, hoặc con cái bị dị tật. Vì nó tồn lưu lâu dài, và có tính chất
lipophilic (nghĩa là dioxin có thể bám chắc vào mỡ người), nó đi vào thức ăn và
nằm trong các cơ quan nội tạng động vật, cả trong sữa và máu người. chất da
cam và dioxin có liên quan đến nhiều loại ung thư, bệnh về miễn dịch và dị tật
bẩm sinh spina bifida. Chứa chất da cam và bệnh đái đường týp 2 cũng có mối
liên hệ với nhau.
Bị nhiễm chất độc da cam [NguồnGSGP]
Việt Nam có khoảng 5 triệu người bị nhiễm dioxin mà hậu quả là các chứng
bệnh ung thư, từ ung thư gan đến ung thư dạ dày, ung thư buồng trứng Bên
cho các thế hệ con cháu sau này. Bình thường, dị tật trong xã hội nào cũng có,
nhưng dị tật ở vùng bị rải CDC có đặc điểm: Đa dị tật trong một cơ thể; xẩy ra ở
nhiều trẻ trong một gia đình; tính chất dị tật nặng; có khả năng truyền cho các thế
hệ sau. Trên thực tế ở Việt Nam mới chỉ quan sát được sự di truyền này ở đời
con, cháu (F1, F2) của các cựu chiến binh vì chưa xuất hiện F3 (chắt) nên chưa
quan sát được. Ở những vùng bị rải CDC, tỷ lệ chết của trẻ em dưới 1 tuổi tăng
cao (đây là một trong những thước đo để đánh giá độ nhiễm Dioxin). Theo số
liệu điều tra ở 2 xã bị rải là Tân Uyên (sông Bé), Cần Giờ (thành phố Hồ Chí
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Oanh
12
GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ Môi trường học cơ bản
Minh) và 1 xã không bị rải là Mỹ Thạnh (An Giang) thì tỷ lệ tử vong của các xã
bị rải là 4-6%, xã không bị rải là 2% (năm 1966 đến năm 1970).
Các nghiên cứu trên cựu chiến binh (đối tượng có nguy cơ cao) cho thấy tỷ lệ
mắc các rối loạn hệ thống thần kinh trung ương và ngoại biên rất cao, thường
biểu hiện đau tê bại 1 bên người, nhức đầu mãn tính, kinh niên
Dị tật nứt gai cột sống ở những con của cựu chiến binh sống trong vùng bị rải ở
tuổi trưởng thành cao gấp 1,5 đến 2 lần so với con những cựu chiến binh sống ở
vùng không rải CDC. Đây là một DTBS đã được thế giới công nhận gây ra do
ảnh hưởng của CDC.
Có thể thống kê các loại DTBS thường gặp ở các nạn nhân bị hậu quả CDC
là: Chậm phát triển trí tuệ; câm- điếc; hội chứng Down; điếc; lác mắt; câm; động
kinh; chậm phát triển thể lực; không mọc tóc; sần mặt; bạc tóc; sứt môi- hở vòm
miệng; sụp mi mắt; không có tai; dị dạng các chi (khoèo, teo cơ, liệt, dị dạng các
chi, vẹo bàn chân, thừa ngón, thiếu ngón, thừa- dính ngón).
Các loại ung thư: Phế quản, thanh quản, phổi, khí quản (trong vòng 30 năm kể
từ ngày rời khỏi Việt Nam); tuyến tiền liệt, Hodgkin, Non Hodgkin lymphoma,
da u tuỷ, ung thư mô mềm, phế nang, mạch máu, tế bào sáng của gân, biểu mô,
ung thư trẻ em có tính di truyền, u ác người lớn (không đòi hỏi thời gian).
Những bệnh khác ngoài ung thư đòi hỏi thời gian: Thần kinh ngoại biên cấp
làng chịu ảnh hưởng ở miền Nam và cho thấy tại các làng chịu ảnh hưởng, lượng
dioxin trong máu của người dân cao khoảng từ 25 đến 170 lần so với các làng ở
phía Bắc.
Hậu quả của chất độc hóa học– mà chủ yếu do chất do cam có chứa dioxin –
do Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh hóa học ở Việt Nam không chỉ cho tác động
trực tiếp, phải tính đến ảnh hưởng lâu dài đến môi trường sinh thái và những di
chứng cho các thế hệ nạn nhân chất độc da cam, số nạn nhân ngày một tăng theo
thời gian.
Đối với dân thường, qua phân tích mô mỡ những người sống trong vùng bị
nhiễm độc ở miền Nam Việt Nam, nồng độ dioxin cao hơn so với người thường
là 3-4 lần. Do đó, nó là nguyên nhân gây nên xáo trộn về di truyền như: quái thai,
ung thư, chết yểu…Thực tế sau chiến tranh, tại những vùng bị nhiễm chất độc
dioxin, tỉ lệ sinh con quái thai cao gấp 10 lần, sinh con chết hay sẩy thai cao gấp
6 lần… Chất độc da cam cũng là nguyên nhân của nhiều bệnh ung thư khác cũng
như các bệnh như rối loạn chuyển hoá gây tử vong, tổn thương hệ thần kinh và
rối lọan chức năng da.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Oanh
14
GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ Môi trường học cơ bản
Sản phẩm phụ hình thành trong quá trình điều chế chất da cam, là nguyên
nhân gây ra các bệnh hiểm nghèo. Chỉ cần 1g đioxin cũng đủ giết 8 triệu người.
Thế nhưng chất da cam trải xuống đồng ruộng, làng mạc Việt Nam chiếm tới
60% (trên 40 triệu lít) tổng khối lượng chất độc diệt cây mà quân đội Mỹ sử
dụngDioxin gây nhiễm độc qua đường hô hấp, tiêu hóa với các triệu chứng: da và
niêm mạc mắt bị kích thích, nhức đầu, nôn mửa, tổn thương gan, phổi, hệ tim
mạch, cơ thể suy nhược; biến loạn thể nhiễm sắc, tăng ung thư gan, nguyên phát
và dị tật ở con cái, sẩy thai …
Năm 2002, các nhà nghiên cứu Mỹ phát hiện một bộ phận dân số Việt Nam
những người đã chịu đựng việc tiếp xúc nhiều với loại hóa chất này có hàm
lượng dioxin cao hơn mức trung bình 33 lần và cao gấp 206 lần đối với một số cá
ngoài ra còn làm thay đổi về khí hậu do sự mất cân bằng sinh thái của thiên
nhiên. Các CĐHH rải xuống đất sẽ bị phân huỷ và bị lôi cuốn xuống các vùng
đất trũng, xa nơi được rải xuống. Sự tồn lưu của Dioxin trong thiên nhiên rất bền
vững, chu kỳ bán huỷ khoảng 15 đến 20 năm và có thể hơn nữa. Việc khôi phục
đất trồng và rừng cần phải hàng chục năm, thậm chí hàng thế kỷ và tốn kém khá
nhiều tiền của. Với số lượng rất lớn chất độc hoá học đã rải, lặp đi lặp lại nhiều
lần trong quãng thời gian dài với nồng độ cao, không những đã làm chết cây cối,
động vật mà còn gây ô nhiễm môi trường trong một thời gian dài và làm đảo lộn
các hệ sinh thái tự nhiên
b) Hậu quả của chiến tranh hóa học đối với rừng
Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, quân đội Mỹ đã tiến hành
một cuộc chiến tranh hoá học từ năm 1961 đến năm 1972 với quy mô lớn nhất
trong mọi thời đại của lịch sử chiến tranh. Trong cuộc chiến tranh này, quân đội
Mỹ đã rải khoảng hơn 80 triệu lít chất diệt cỏ và phát quang xuống một diện tích
khoảng 24,67% tổng diện tích lãnh thổ Nam Việt Nam, trong đó phần lớn là chất
độc da cam, là chất có chứa tạp chất độc điôxin. Hệ sinh thái bị tác động nghiêm
trọng nhất của chiến tranh là rừng. Trước lúc chiến tranh, độ che phủ rừng Nam
Việt Nam vào khoảng 10,30 triệu hecta, trong đó 60 - 70% ở Tây Nguyên. Trong
thời kỳ chiến tranh, từ năm 1961 đến 1971, Mỹ đã sử dụng 72 triệu lít các loại
chất độc hoá học ở Nam Việt Nam (Westing 1984), (IOM 1994). Tuy nhiên theo
những tài liệu vừa được công bố thì Mỹ đã sử dụng khoảng 77.054.805 lít các
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Oanh
16
GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ Môi trường học cơ bản
loại chất độc (Stellman et al. 2003), 76.764.480 lít (Young, 2005), phần lớn là
chất da cam có chứa dioxin (TCDD), một loại chất cực độc mà con người biết
được. Diện tích bị rải chất độc hoá học chiếm khoảng 24,67% diện tích Nam Việt
Nam. Khoảng 86% lượng chất độc đã được rải lên các vùng rừng rậm, 14% còn
lại được dùng để phá huỷ ruộng vườn, hoa màu mà chủ yếu là đồng lúa và nương
rẫy ở các vùng đồi núi. Chất độc hoá học đã được rải từ vĩ tuyến 17 cho đến tận
Bảng IV.5. Phân bố diện tích bị rải theo độ cao tuyệt đối
[Nguồn: Phùng Tửu Bôi, 2001]
Vùng cao nhất bị rải chất độc hoá học đó là khu rừng thuộc Vườn quốc gia
Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế) ở độ cao trên 1.000m.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Oanh
18
GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ Môi trường học cơ bản
Những hậu quả tức thời và lâu dài của chất độc hoá học đối với tài nguyên và
môi trường rừng nội địa rất rõ ràng. Trong quá trình bị tác động, hàng trăm loài
cây đã bị trút lá, đáng quan tâm nhất là những cây gỗ lớn thuộc tầng nhô và tầng
ưu thế sinh thái thuộc họ dầu (Dipterocarpaceae), họ đậu (Fabaceae). Nhiều loài
cây gỗ quý hiếm như giáng hương (Pterocarpus macrocarpus), gụ (Sindora
siamensis), gõ (Afzelia xylocarpa), sao đen (Hopea odorata), và một số cây họ
dầu thuộc tầng cao trong rừng đã bị chết, dẫn đến khan hiếm nguồn hạt giống của
một số loài cây quý. Chỉ có một số ít loài có khả năng chống chịu với chất độc
như cây kơ nia (Irvingia malayana), cây cám (Parinari annamensis), cây cọ
(Livistona). Tán rừng bị phá vỡ, môi trường rừng bị thay đổi nhanh chóng, những
loài cây của rừng thứ sinh như tre, nứa, các loài cây gỗ ưa sáng mọc nhanh, kém
giá trị kinh tế, chúng xuất hiện và lấn át cây gỗ bản địa.
Nhiều khu rừng đã bị phá hủy nặng nề do quy mô phá hoại rộng lớn và lặp đi
lặp lại nhiều lần, kéo dài trong nhiều năm, kèm theo với các tác động khác của
bom đạn, máy ủi (cả lớp cây tái sinh tự nhiên bị thiêu cháy dưới tán rừng do
bom napan). Hậu quả là cây rừng bị chết đi, các loài cây cỏ dại như cỏ Mỹ
(Pennisetum polystachyon), cỏ tranh (Imperata cylindrica), lau lách xâm lấn. Đến
nay rừng vẫn chưa được phục hồi, nhiều băng rải chất độc vẫn chỉ là những trảng
cỏ được thể hiện rõ trên ảnh chụp từ vệ tinh và máy bay qua các thời kỳ khác
nhau.
Tính toán thiệt hại do chiến tranh gây ra đối với tài nguyên rừng nội địa khá
phức tạp, hoàn toàn không giống như rừng ngập mặn. Rừng nội địa chịu ảnh
hưởng của chất độc hóa học ở nhiều mức độ khác nhau và do tính mẫn cảm của
Đông Nam Bộ là một vùng có trên 50% diện tích tự nhiên bị tác động. Chiến khu
D, Chiến khu C, rừng Bời Lời, rừng Củ Chi, là những vùng đã bị rải hàng triệu
lít chất độc cùng với hàng triệu tấn bom đạn, trong đó có nhiều khu rừng đã bị
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Oanh
20
GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ Môi trường học cơ bản
triệt phá hoàn toàn như khu Mã Đà, thuộc tỉnh Đồng Nai, khu Phú Bình, Bù Gia
Mập thuộc tỉnh Bình Phước.
Bảng IV.6. Diện tích bị rải chất độc hóa học
Đơn vị: ha
[Nguồn: Phùng Tửu Bôi]
Chất độc hoá học còn được rải ở một số vùng trọng điểm khác như: khu vực
hàng rào điện tử Mắc Namara thuộc tỉnh Quảng Trị, khu A Lưới, thuộc tỉnh Thừa
Thiên - Huế, khu Sa Thầy, thuộc tỉnh Kon Tum, khu Cần Giờ (Duyên Hải), thành
phố Hồ Chí Minh và khu Cà Mau thuộc tỉnh Minh Hải.
Theo tính toán sơ bộ bước đầu, tổng số gỗ thiệt hại là 119.536.000m3, bao
gồm lượng gỗ bị mất tức thời 90.284.000m
3
và 29.252.000m
3
gỗ tăng trưởng lâu
dài do rừng bị phá huỷ. Lượng gỗ thương phẩm (60% trữ lượng gỗ cây đứng) là
70 triệu m3 gỗ thuộc nhóm 1 đến nhóm 4, trong đó nhiều loài gỗ quý hiếm, có
giá trị kinh tế cao. Ngoài ra chất độc hoá học rải lên rừng còn gây thiệt hại nhiều
cho các loại tài nguyên khác ngoài gỗ chưa được tính đến, như dầu nhựa, cây
thuốc, song mây, và các loài động vật rừng.
Hậu quả của chiến tranh hoá học của Mỹ còn dẫn đến nhiều thiệt hại khác về
môi trường và tính đa dạng sinh học. Quá trình trút lá ồ ạt đã dẫn đến hiện tượng
ứ đọng dinh dưỡng và có 10 đến 15 triệu hố bom chiếm khoảng 1% diện tích
3
gỗ. Khoảng một nửa diện tích vùng Đông Bắc sông
Cửu Long bị tàn phá nặng nề. Rừng chiến khu Đ và C, vùng Bời Lời và Củ Chi
đã phải chịu đựng hàng triệu lít chất độc hoá học và hàng triệu tấn bom, làm cho
nhiều khu rừng như rừng Mã Đà của tỉnh Đồng Nai, Phú Bình, Bù Gia Mập của
tỉnh Bình Phước hoàn toàn bị phá huỷ. Chất độc hoá học còn được tập trung rải
dọc hàng rào điện tử Mc Namara ở tỉnh Quảng Trị, A Lưới ở Thừa Thiên – Huế,
Sa Thầy thuộc tỉnh KonTum, Cần Giờ (Duyên Hải) thuộc thành phố Hồ Chí
Minh, và Cà Mau thuộc tỉnh Minh Hải. Rừng bị huỷ diệt do chất độc hoá học đã
tác động xấu lên 28 lưu vực sông, trong đó 16 lưu vực có 30% diện tích rừng bị
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Oanh
22
GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ Môi trường học cơ bản
phá huỷ, 10 lưu vực bị phá hủy 30 - 50% diện tích rừng và 2 lưu vực bị phá hủy
trên 50% diện tích rừng. Phần lớn các con sông này đều ngắn, chảy qua những
vùng núi rừng có cấu trúc phức tạp, độ dốc cao nên đã ảnh hưởng trực tiếp lên
các vùng hạ lưu. Trong nhiều năm qua và cả năm 2007, lũ lụt đã tàn phá nghiêm
trọng lưu vực các sông Hương, Thạch Hãn, Hàn, Thu Bồn, Trà Khúc, Côn, Vệ,
Cầu, Ba, gây nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân trong vùng. Trong
thời gian chiến tranh, rừng nhiệt đới nội địa và rừng ngập mặn miền Nam bị thiệt
hại nặng nề nhất.
Đến nay, gần 30 năm đã trôi qua, tuy có những biến đổi tại nhiều vùng do các
hoạt động phát triển kinh tế xã hội, nhưng ở miền Nam Việt Nam vẫn còn nhiều
hiện trường rộng lớn còn giữ lại các di chứng của cuộc chiến tranh hoá học cho
phép chúng ta quan sát, nghiên cứu và đánh giá một cách đúng mực hơn hậu quả
của chất độc da cam chứa dioxin lên môi trường và các hệ sinh thái.
Rừng ở A Lưới là một ví dụ. Thung lũng A Lưới thuộc huyện A Lưới tỉnh
Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế khoảng chừng 65 km theo đường chim
bay, sát với biên giới Lào - Việt. Đây là một thung lũng dài khoảng 30 km, rộng
2-6 km, nằm giữa dãy Trường Sơn ở độ cao hơn 600m so với mặt nước biển.
cũng tương tự A Lưới. Rừng Sa Thầy cho thấy, nơi không bị rải chất độc hoá
học, rừng cây rất rậm rạp; trong khi đó, ở nơi bị rải chất độc hoá học, hầu như
không có thực vật bậc cao mà đến nay vẫn chỉ toàn cỏ dại và tre nứa che phủ.
Rừng ngập mặn Nam Bộ cũng là đối tượng chịu tác động nặng nề của chất
độc hoá học. 35.500 ha ở rừng Sác, hơn 40.000 ha ở ven biển Đồng bằng sông
Cửu Long và tới 740.000 ha rừng ngập mặn Cà Mau bị tàn phá bởi chất độc da
cam.
Hơn 2 triệu ha rừng miền Nam Việt Nam đã bị rải chất độc hoá học với mức
độ gây thiệt hại khác nhau. Việc đẩy mạnh hoạt động trồng rừng ở những nơi này
là yêu cầu cấp thiết, cho dù vô cùng khó khăn và tốn kém, nhằm từng bước phục
hồi thảm thực vật, tạo thêm độ che phủ cho các khu vực đầu nguồn, đồng thời
khôi phục các hệ sinh thái. Chúng ta hy vọng rằng những vùng đất trơ trụi hôm
nay, dưới bàn tay con người, sẽ dần xanh trở lại, để các loài động vật sẽ hội tụ về,
phục hồi sự giàu có về đa dạng sinh học.
Chất độc hóa học (CĐHH) đã rải xuống gần 17% diện tích rừng và đất nông
nghiệp toàn miền Nam Việt Nam từ một cho đến nhiều lần, để lại hậu quả nặng
nề và lâu dài đối với thiên nhiên, hủy hoại môi trường và các hệ sinh thái.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Oanh
24
GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ Môi trường học cơ bản
Trong những năm trước chiến tranh, độ che phủ rừng tự nhiên từ Nam vĩ tuyến
17 trở vào là 60 - 70%. Tài nguyên rừng rất phong phú và đa dạng. Rừng tự
nhiên có trữ lượng gỗ khoảng 200 - 300m3/ha. Cấu trúc rừng rất phức tạp, gồm
nhiều tầng và có nhiều loài cây gỗ quý, đường kính 1-2m, cao 30-40m. Dưới tán
rừng là nơi sinh sống của nhiều loài động vật. Đây thực sự là nguồn tài nguyên
quý giá của đất nước.
Trong chiến dịch Ranch Hand, các phi vụ tập trung vào các khu rừng từ vùng
núi cao tới vùng ven biển, từ vùng ẩm ướt tới vùng khô hạn trải dài từ vĩ tuyến 17
đến Cà Mau. Vùng cao nhất bị rải các chất hóa học là khu rừng thuộc Vườn quốc
gia Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế) ở độ cao trên 1.500 m. Các vùng bị rải là chiến